Giải pháp quản lý chất lượng ở Công ty cổ phần bánh kẹo Hải Châu. - Pdf 34

Đại hội đồng
cổ đông
Hội đồng quản trị
(5 người)
Chủ tịch hội đồng quản trị
Tổng giám đốc
điều hành
Ban kiểm soát
(3 người)
Phòng
Tổ
chức
Phó TGĐ sản xuất và
tiêu thụ
Phó TGĐ
kỹ thuật
Phòng
kỹ
thuật
Phòng
TC - KT
Phòng
Kế hoạch vật tư
Phòng
HCQT & BVTV
Cửa hàng giới thiệu sản phẩm
Chi nhánh tại TPHCM
Chi nhánh tại TPĐN
Phân xưởng Bánh 1
Phân xưởng Bánh 2
Phân xưởng Bánh 3

quả sản xuất kinh doanh của mình. Hoà chung dòng chảy đó, Công ty CP bánh
kẹo Hải Châu cũng không phải là một ngoại lệ. Ban lãnh đạo Công ty đã đưa ra
các chính sách chất lượng hợp lý luôn coi chất lượng sản phẩm là trên hết, chất
lượng sản phẩm có ý nghĩa sống còn đối với doanh nghiệp.
Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề trên, em đã mạnh dạn chọn đề
tài: "Giải pháp quản lý chất lượng ở Công ty cổ phần bánh kẹo Hải Châu ".
Nội dung của đề tài được trình bày qua 3 chương:
Chương I- Cơ sở lý luận về quản lý chất lượng của doanh nghiệp.
Chương II- Phân tích thực trạng quản lý chất lượng của Công ty CP bánh
kẹo Hải Châu .
Chương III- Giải pháp hoàn thiện quản lý chất lượng Công ty CP bánh kẹo
Hải Châu.
2
CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ
CHẤT LƯỢNG CỦA DOANH NGHIỆP
I. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CHẤT LƯỢNG SẢN PHẨM
1. Chất lượng là gì ?
Nhìn chung theo quan điểm triết học chất lượng là một phần tồn tại bên
trong của các sự vật hiện tượng.
Còn trong từ điển Tiếng Việt thì chất lượng là cái tạo nên phẩm chất giá
trị của một con người, một sự vật, một sự việc.
Điều này cho thấy chất lượng mang một ý nghĩa rất rộng và bao trùm lên
mọi hình thái tồn tại của thế giới vật chất, kể cả hữu hình và vô hình.
2. Quan niệm về chất lượng sản phẩm.
Trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh và đời sống xã hội không ai phủ nhận tầm
quan trọng của chất lượng sản phẩm. Nó là một yếu tố góp phần đảm bảo sự
thành công của một doanh nghiệp nói riêng và cả một nền kinh tế nói chung.
Vậy chất lượng là thước đo mức độ hữu ích của giá trị sử dụng biểu thị toàn bộ
giá trị sử dụng của sản phẩm hàng hoá. Có thể đưa ra khái niệm tương đối khái

5. Sự phân loại chất lượng sản phẩm - ý nghĩa và mục đích.
5.1. Chất lượng thiết kế
Chất lượng thiết kế được thể hiện ở chỗ sản phẩm hoặc dịch vụ đó được thiết
kế tốt như thế nào để đạt được mục tiêu. Các sản phẩm có tính năng tác dụng, hình
mẫu khác nhau như thế nào đều phụ thuộc vào quá trình thiết kế ra chúng.
5.2. Chất lượng thực tế.
Chất lượng thực tế của sản phẩm là giá trị các chỉ tiêu chất lượng sản
phẩm thực tế đạt được do các yếu tố chi phối như: nguyên vật liệu, máy móc,
phương pháp quản lý... Do vậy nó phản ánh khá chính xác khả năng sản xuất sản
phẩm của doanh nghiệp.
5.3. Chất lượng chuẩn
Chất lượng chuẩn là giá trị các chỉ tiêu đặc trưng được cấp có thẩm quyền
phê chuẩn. Chất lượng thiết kế phải dựa trên cơ sở của chất lượng chuẩn đã
4
được doanh nghiệp, Nhà nước quy định để có các chỉ tiêu về chất lượng của sản
phẩm hàng hoá hợp lý.
5.4. Chất lượng cho phép.
Để xác định chính xác chất lượng cho phép nhà sản xuất phải căn cứ vào
năng lực sản xuất thực tế, phương pháp tổ chức quản lý của doanh nghiệp và các
yếu tố vĩ mô khác.
5.5. Chất lượng tối ưu.
Chất lượng tối ưu là giá trị các chỉ tiêu chất lượng sản phẩm đạt được mức
độ hợp lý nhất trong điều kiện kinh tế xã hội nhất định, hay nói cách khác sản phẩm
hàng hoá đạt mức chất lượng tối ưu là các chỉ tiêu chất lượng sản phẩm thoả mãn
nhu cầu người tiêu dùng, có khả năng mang lại hiệu quả kinh doanh cao.
6. Các nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng sản phẩm.
Có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng tới chất lượng sản phẩm bao gồm cả các
yếu tố vi mô và các yếu tố vĩ mô. Sẽ không thể có quản lý chất lượng sản phẩm
tốt, có các biện pháp để nâng cao chất lượng sản phẩm nếu như chúng ta không
biết chất lượng sản phẩm tốt hay xấu là do đâu.

- Nhóm chỉ tiêu hình dáng trang trí thẩm mỹ.
Các chỉ tiêu này bao gồm: chỉ tiêu về hình dạng sản phẩm, sự phối hợp
các yếu tố tạo hình, tính chất đường nét, hoa văn, màu sắc thời trang...
Đây là nhóm các chỉ tiêu mà chất lượng sản phẩm phụ thuộc vào ý kiến
chủ quan của nhiều người, khó được lượng hoá và vì vậy đòi hỏi cán bộ kiểm
nghiệm hay người tiêu dùng phải có kinh nghiệm, am hiểu thẩm mỹ. Phần lớn
các sản phẩm mang đặc trưng này là các sản phẩm về nghệ thuật, tranh ảnh,
quần áo thời trang, đồ trang sức...
- Nhóm các chỉ tiêu kinh tế.
Các chỉ tiêu kinh tế, nhóm này bao gồm chi phí sản xuất, chi phí cho quá
trình sử dụng, chi phí cho quá trình bảo trì bảo dưỡng, giá cả.... Đây là chỉ tiêu
quan trọng luôn được nhà sản xuất và người tiêu dùng sử dụng để đánh giá chất
lượng sản phẩm hàng hoá.
6
8. Vấn đề cơ bản của đảm bảo và cải tiến nâng cao chất lượng sản phẩm
Khi chúng ta coi chất lượng là trên hết sẽ làm cho chất lượng sản phẩm
của doanh nghiệp đẩy lên ở mức cao, nó cũng đem lại năng suất lao động lớn,
đến lượt nó lại tạo thuận lợi cho việc giảm chi phí, tăng thu nhập. Đảm bảo chất
lượng của sản phẩm phải đáp ứng các yêu cầu của người tiêu dùng mà họ đã tin
tưởng, mua và sử dụng sản phẩm hàng hoá của công ty. Đây chính là trách
nhiệm của các nhà sản xuất đối với người tiêu dùng. Để có được sự tín nhiệm
của khách hàng về sản phẩm của mình phải mất rất nhiều thời gian hoạt động
đảm bảo chất lượng sản phẩm có khi đến hàng chục năm.
9. Lợi ích của việc nâng cao chất lượng sản phẩm hàng hoá.
Trong điều kiện khi mà đời sống của con người đã tăng cao, khi người
tiêu dùng muốn loại trừ những phiền hà, cản trở do sản phẩm kém chất lượng
gây ra thì vấn đề phải được giải quyết trước hết là chất lượng sản phẩm. Để thu
hút được người tiêu dùng, các hãng sản xuất phải tập trung mọi nỗ lực để giải
quyết vấn đề chất lượng. Có thể nói chất lượng là yếu tố hàng đầu trong cuộc
cạnh tranh, giá cả chỉ là yếu tố sau nó. Việc đảm bảo và nâng cao chất lượng sản

chất lượng tốt hơn, làm giảm giá thành sản phẩm.
Ta có thể nhận thấy giữa vấn đề giảm giá thành sản xuất và nâng cao chất
lượng sản phẩm là không mâu thuẫn và hoàn toàn có thể thực hiện được nhờ
công tác quản lý chất lượng.
Quy luật cạnh tranh vừa là đòn bẩy để các doanh nghiệp tiến lên đà phát
triển, hoà nhập với thị trường khu vực và thế giới song nó cũng gây sức ép lớn
cho các doanh nghiệp. Trong kinh doanh nếu như đặt mục tiêu lợi nhuận lên
hàng đầu thì tất về lâu dài doanh nghiệp sẽ nằm ra ngoài quỹ đạo của thị trường.
Đánh giá năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp ta có thể sử dụng nhiều chỉ
tiêu khác nhau song chỉ tiêu chất lượng sản phẩm là quan trọng nhất. Vậy nên,
quản lý chất lượng chính là phương thức mà doanh nghiệp cần tiếp cận và hoàn
8
thiện hệ thống của mình. Có như vậy doanh nghiệp mới có khả năng thắng lợi
trên thương trường.
2. Đặc điểm của công tác quản lý chất lượng sản phẩm.
Thực tế cho thấy, sự thành công của các doanh nghiệp trên thương trường
đặc biệt là các doanh nghiệp ở Nhật đều bắt nguồn từ một nguyên nhân quan
trọng đó là họ khởi nguồn mọi hành động là chất lượng, phương châm là chất
lượng. Điều đó giải thích tại sao sản phẩm của Nhật luôn được người tiêu dùng
tín nhiệm,nó mang lại sức cạnh tranh to lớn bên cạnh những sản phẩm được sản
xuất ở một số ước Tây Âu, Bắc Mỹ…
Quản trị chất lượng là công việc, trách nhiệm của tất cả mọi thành viên
trong doanh nghiệp. Quản trị chất lượng phải được thực hiện ở cấp lãnh đạo cao
nhất của công ty với ý nghĩa chiến lược, đồng thời phải quán triệt quản lý tác
nghiệp ở từng phân xưởng, tổ đội sản xuất vì thế có các nguồn thông tin hai
chiều. Quản trị nói chung và quản lý chất lượng nói riêng không có thông tin thì
không thể thực hiện quản ý và thông tin trong mối quan hệ tương tác đòi hỏi
phải chính xác, kịp thời, đầy đủ, có như thế cán bộ lãnh đạo quản lý chất lượng
mới có các quyết định đúng đắn.
Quản lý chất lượng phải được các cấp trong doanh nghiệp thấm nhuần các

thị trường.
- Chức năng quản lý chất lượng sản phẩm gồm mọi hoạt động các khâu từ
sản xuất đến tiêu dùng, hay chi tiết hơn đó là từ khi chuẩn bị nguyên, nhiên vật
liệu chế tạo thử sản xuất đại trà và chuyển sang mạng lưới lưu thông phân phối
rồi sử dụng sản phẩm.
- Chức năng đánh giá chất lượng sản phẩm: Để chất lượng sản phẩm hoàn
hảo đòi hỏi việc đánh giá chất lượng sản phẩm phải thực hiện chi tiết và tổng
hợp có nghĩa là đánh giá từ các yếu tố đầu vào, sản xuất cho tới chất lượng sản
phẩm được chế tạo ra.
- Chức năng cải tiến và điều chỉnh.
5. Hiệu quả của công tác quản lý chất lượng sản phẩm trong doanh nghiệp
10
Hiểu rõ được quản lý chất lượng, vai trò , ý nghĩa, mục đích, các phương
pháp quản lý chất lượng sản phẩm và việc sử dụng linh hoạt các công cụ trong
quản lý các doanh nghiệp chắc chắn sẽ gặt hái được những lợi thế.
Nhờ công tác quản lý chất lượng mà công việc của bộ phận trong công ty tiến
hành trôi chảy, nâng cao lòng tin của bên ngoài như các cơ quan ngân hàng, cơ
quan thuế, các cơ quan hành chính… đối với công ty.
CHƯƠNG II
PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG
CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN BÁNH KẸO HẢI CHÂU
I. TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY CP BÁNH KẸO HẢI CHÂU
1. Sự ra đời của Công ty CP bánh kẹo Hải Châu
Công ty bánh kẹo Hải Châu là một doanh nghiệp nhà nước trực thuộc tổng
Công ty mía đường I- Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ,do được sự giúp
đỡ của hai tỉnh Thượng Hải và Quảng Châu (Trung Quốc) nên mới có tên gọi là
Hải Châu. Công ty được thành lập ngày 02/09/1965, quá trình hình thành và
phát triển có thể được tóm tắt như sau.
2. Những giai đoạn phát triển của Công ty cổ phần bánh kẹo Hải Châu.
2.1. Thời kỳ thành lập từ năm 1965-1975

với giá trị thiết bị trên 47 tỷ đồng xây lắp nên 6.5 tỷ đồng công trình xây dựng
lắp đặt thiết bị xí nghiệp bánh mềm cao cấp đã cơ bản hoàn thành, đang triển
khai kế hoạch đưa vào sản xuất chính thức trong dịp cuối năm. Công ty dự kiến
đưa sản phẩm bánh mềm cao cấp mới đầu tư cùng với sản phẩm hiện có để phục
vụ nhân dân trong dịp tết Nguyên đán năm nay.
Năm 2004, Công ty đã tiến hành cổ phần hoá trên cơ sở sắp xếp lại quá
trình lao động hợp lý, đẩy mạnh hoạt động sản xuất của Công ty nhằm tăng
doanh thu và nâng cao đời sống cán bộ công nhân viên trong Công ty.
3. Tổ chức bộ máy và cơ chế hoạt động của Công ty cổ phần bánh kẹo Hải
Châu
3.1. Chức năng, nhiệm vụ của Công ty CP bánh kẹo Hải Châu
Công ty CP bánh kẹo Hải Châu là một doanh nghiệp Nhà nước, song
trong cơ chế thị trường công ty độc lập tự chủ hơn trong các vấn đề tổ chức,
quản lý sản xuất hoạch toán kinh doanh từ đó làm tăng tính nhanh nhạy năng
động hơn cho tổ chức. Theo quy định của Nhà nước cũng nhu các quy định của
công ty về quyền hạn, chức năng nhiệm vụ thì ta thấy công ty đóng một vai trò
rất quan trọng với trách nhiệm khá nặng nề đối với khu vực kinh tế Nhà nước
nói riêng và nền kinh tế nói chung. Trong giai đoạn hiện nay và thời gian sắp tới
công ty phải thực hiện một số chức năng nhiệm vụ chính sau:
- Thứ nhất, Công ty tự chủ sản xuất và kinh doanh các loại bánh kẹo để
cung cấp cho nhu cầu ngày càng tăng của thị trường trong nước và quốc tế.
- Thứ hai, Công ty cùng với các liên doanh sản xuất và xuất khẩu các sản
phẩm sang thị trường khu vực và thế giới đồng thời nhập khẩu thiết bị ,công
nghệ, máy móc, nguyên vật liệu phục vụ cho nhu cầu sản xuất của Công ty mà
Công ty không có khả năng tận dụng những vật tư đó ở trong nước.
- Thứ ba, Ngoài sản xuất bánh kẹo là chính, Công ty còn kinh doanh các
mặt hàng khác để không ngừng nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, tận dụng
được vật tư, lao động đảm bảo đời sống cho người lao động. Từng bước đưa
Công ty lớn mạnh trên thương trường.
Ngoài các nhiệm vụ trọng yếu trên Công ty CP bánh kẹo Hải Châu còn

đồng quản trị, do hội đồng quản trị thuê hoặc bổ nhiệm: TGĐ là người đại diện
pháp nhân của công ty.
Phó tổng giám đốc là người giúp Tổng giám đốc điều hành một hoặc một
số lĩnh vực hoạt động của Công ty theo phân công của giám đốc, chịu trách
nhiệm trước Tổng giám đốc và pháp luật về nhiệm vụ được phân công. Đồng
thời không tham gia các chức danh quản lý điều hành sản xuất ở đơn vị sản xuất
kinh doanh khác.
Phó giám đốc phụ trách kỹ thuật: Tham mưu cho Giám đốc về các mặt
công tác:
- Công tác kỹ thuật
- Bồi dưỡng nâng cao trình độ công nghệ
- Bảo hiểm xã hội
- Kiểm tra chất lượng sản phẩm
Phó giám đốc kinh doanh: Tham mưu cho Giám đốc về các mặt công tác:
- Kinh doanh tiêu thụ sản phẩm
- Hành chính và bảo vệ
- Điều hành kế hoạch tác nghiệp của các phân xưởng.
Kế toán trưởng Công ty giúp Tổng giám đốc chỉ đạo, tổ chức công tác kế
toán Tài chính, thống kê của Công ty, có các quyền và nhiệm vụ theo quy định
của pháp luật và quy chế tổ chức bộ máy quản lý điều hành của Công ty.
* Các phòng ban:
• Phòng Tổ chức: Tham mưu cho Giám đốc về các mặt công tác
- Công tác tổ chức cán bộ, lao động và tiền lương
- Soạn thảo các quy chế quản lý, các quyết định, công văn, chỉ thị
- Tuyển dụng, điều động lao động
- Công tác bảo hộ lao động
- Thảo các quyết định, các chế độ, chính sách
- Công tác hồ sơ nhân sự
• Phòng kỹ thuật và KCS: Tham mưu cho Giám đốc về các mặt công tác:
- Tiến bộ kỹ thuật

- Giám sát và kiểm tra sự tuân theo điều lệ và pháp luật có liên quan của
HĐQT, Tổng giám đốc, bộ máy giúp việc và các cá nhân trong Công ty.
- Kiểm tra tính hợp lý, hợp pháp trong quản lý, điều hành hoạt động sản
xuất kinh doanh, trong ghi chép sổ sách kế toán và báo cáo Tài chính của Công ty
- Thẩm định báo cáo tài chính hàng năm của Công ty, kiểm tra từng vấn
đề cụ thể liên quan đến quản lý, điều hành hoạt động của Công ty khi xét thấy
cần thiết.
- Kiến nghị biện pháp bổ sung, sửa đổi, cải tiến, cơ cấu tổ chức quản lý,
điều hành hoạt động kinh doanh của Công ty.
Sau khi tìm hiểu toàn bộ các phòng ban và nhiệm vụ của phòng ban cũng
như cơ cấu số lượng công nhân viên trong Công ty ta có thể khái quát lại qua sơ
đồ dưới đây:
Sơ đồ 1. Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý tại Công ty bánh kẹo Hải Châu
4. Những đặc điểm kinh tế kỹ thuật có ảnh hưởng tới CLSP của Công ty CP
bánh kẹo Hải Châu
Chất lượng sản phẩm như là một chỉ tiêu tổng hợp phản ánh trình độ và
năng lực của một doanh nghiệp. Chúng ta không thể đánh giá cao tình hình hoạt
động sản xuất kinh doanh của công ty nếu như sản phẩm mà họ làm ra luôn ở
mức chất lượng thấp. Điều đó minh chứng cho những điều bất ổn trong công tác
tổ chức quản lý cũng như các yếu tố tiềm lực tài chính, đội ngũ cán bộ công
nhân viên và khoa học công nghệ của hãng. Đối với Công ty CP bánh kẹo Hải
Châu các mặt trên cũng có điểm mạnh và điểm yếu làm ảnh hưởng tích cực hay
tiêu cực tới chất lượng sản phẩm của hãng. Để hiểu rõ hơn về các đặc điểm này
chúng ta cùng nghiên cứu chi tiết từng yếu tố.
4.1. Đặc điểm về hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty CP bánh kẹo Hải Châu .
Nhìn chung sự hoạt động kinh doanh có hiệu quả hay không phần lớn phụ
thuộc vào sản phẩm mà hãng sản xuất ra có tốt hay không, có sức cạnh tranh hay
không. Song đến lượt nó, hoạt động sản xuất kinh doanh có hiệu quả cao sẽ là điều
kiện và tiền đề cho công tác đảm bảo và nâng cao chất lượng sản phẩm của công ty.
Sự tăng trưởng nhanh hay chậm của kết quả sản xuất kinh doanh thể hiện

201,9
3,6
22,1
11.560,0
230,8
212,1
210,2
3,9
25,4
1236,0
27,2
36,2
35,9
0,3
3,9
12,2
14,5
21,6
21,6
23,1
21,4
224,0
16,5
8,6
8,3
0,3
3,3
2,0
7,7
4,2

mới là vấn đề cần xem xét.
Với thị trường Miền Trung, người tiêu dùng ở khu vực thị trường này
thường hay không quan tâm đến khối lượng, bao bì mẫu mã của hàng hoá, song
lại rất quan tâm tới hương vị (độ ngọt, cay), hình dạng của kẹo bánh. Một đặc
điểm không thể phủ nhận là một thị trường dễ tính, nhu cầu lớn. Với năng lực
của mình, Hải Châu hoàn toàn có thể gia nhập và phát triển thị trường. Trước
đây, Hải Châu tập trung nhiều nhất cho thị trường Miền Bắc song một vài năm
gần đây Hải Châu đã coi khu vực này là một thị trường đầy hứa hẹn và không
ngừng hoàn thiện kênh phân phối tiêu thụ sản phẩm.
Đặc điểm của thị trường Miền Nam: Người tiêu dùng ở đây có điều kiện
thu nhập khá cao, đặc biệt ở TP.Hồ Chí Minh, Bình Dương...nên khá khó tính.
Đồng thời khí hậu ở đây cũng có ảnh hưởng ít nhiều đến sở thích của người tiêu
dùng. Họ không quan tâm đến khối lượng mà phần lớn là chất lượng sản phẩm.
Mặt khác, người Miền Nam ưa ngọt cũng như các loại hương vị hoa quả khác
nhau. Đây vừa là thế mạnh vừa là điểm yếu của công ty. Đó là, Hải Châu có ưu
thế về độ ngọt song hương vị hoa quả chưa đa dạng. Hệ thống kênh phân phối
xa khó điều hành quản lý trực tiếp, dân cư không đều nên hiệu quả kinh doanh
trên thị trường là chưa cao.
Các năm gần đây, sản phẩm của doanh nghiệp có mặt tại hầu hết trên khắp
các tỉnh thành trong cả nước. Sau đây là tình hình tiêu thụ trên các khu vực thị
trường trọng điểm.
Bảng 2: Tình hình tiêu thụ sản phẩm trên các thị trường mục tiêu của Doanh nghiệp
Đơn vị: tấn
20
STT Thị trường tiêu thụ 2001 2002 2003 2004 2005
1 Hà Nội 3011 2902 2890 2875 2880
2 Hải Dương 149 145 150 190 195
3 Hoà Bình 178 181 185 128 140
4 Sơn La 27 25 27 120 100
5 Tuyên Quang 106 110 112 350 371

Bảng 3: Chỉ tiêu tài chính của Công ty CP bánh kẹo Hải Châu .
Chỉ tiêu tài chính cơ bản
của công ty
Đơn
vị
Năm 2004 Năm 2005
So sánh
05/04
Số tiền Tỷ trọng Số tiền Tỷ trọng
1. Tổng tài sản Tỷ.đ 110,750 100,00 122,168 100,00 110,31
- TSLĐ Tỷ.đ 40,350 36,43 46,343 37,93 114,88
- TSCĐ Tỷ.đ 70,400 63,57 75,825 62,07 107,71
2. Tổng nguồn vốn Tỷ.đ 110,750 100,00 122,168 100,00 110,31
- Vốn ngân sách Tỷ.đ 73,550 66,41 75,512 61,80 102,66
- Vốn vay ngắn hạn Tỷ.đ 30,900 27,90 36,635 29,98 118,56
-Nguồn vốn khác Tỷ.đ 6,300 5,69 10,021 8,22 159,06
Qua số liệu đưa ra ta có một số nhận xét như sau về tiềm lực tài chính của
công ty
Nguồn lực tài chính là một nhân tố then chốt trong quá trình SXKD của
doanh nghiệp, là công cụ khẳng định sức mạnh của hãng để thực hiện sản xuất
và tái sản xuất mở rộng, trong đó đầu tư cho các biện pháp nâng cao CLSP là
đầu tư cho phát triển.
Qua bảng trên ta thấy khả năng tài chính của doanh nghiệp có thể đáp ứng
được yêu cầu của sản xuất kinh doanh như đào tạo phát triển nguồn nhân lực,
mua sắm - đầu tư nghiên cứu KH-KT-CN mới vào sản xuất và quản lí từ đó
nâng cao được năng lực sản xuất sản phẩm và chất lượng sản phẩm, và nó tạo
khả năng cạnh tranh của công ty trên thương trường. Để huy động nguồn vốn
lớn trong chính doanh nghiệp, nâng cao ý thức tinh thần trách nhiệm, quyền làm
chủ tập thể của người lao động cũng như tăng tính linh hoạt của doanh nghiệp
trên thương trường trong năm nay công ty sẽ tiến hành cổ phần hoá doanh

+ Nhân viên hành chính
+ Nhân viên khác
- Lao động trực tiếp sản xuất
+ Công nhân kỹ thuật
+ Lao động thủ công
- Tổng số
169
4
4
36
57
4
64
1794
1091
703
1963
3. Theo trình độ học vấn
- Đại học
+ cán bộ lãnh đạo
+ Nhân viên phòng ban
+ Nhân viên kỹ thuật
- Trung cấp
+ Nhân viên phòng ban
+ Công nhân kỹ thuật
+ Lao động thủ công
- Chưa qua đào tạo
439
4
134

trang thiết bị công nghệ hiện đại hoá sản xuất dần dần đưa cơ giới và tự động
hoá vào sản xuất nhằm nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm. Hiện nay
ngoài việc duy trì sử dụng các máy móc thiết bị đã có, công ty còn đầu tư thêm
hai dây truyền sản xuất kẹo cứng của Đức, hai nồi nấu kẹo liên tục và một số
máy gói kẹo tự động EW5, EW8 của Đức....


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status