Tuyển tập 35 đề thi học sinh giỏi môn Ngữ văn lớp 8 (có đáp án chi tiết) - Pdf 30

PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO

ĐỀ CHÍNH THỨC
HƯỚNG DẪN CHẤM
Môn: Ngữ văn
Lớp 8

Câu 1: (5,0 đ)
Yêu cầu học sinh viết một đoạn văn phân tích nghệ thuật sử dụng từ
ngữ, hình ảnh và các biện pháp tu từ trong đoạn thơ:
- Từ tượng hình, tượng thanh: ríu rít, chập chờn ,
- Hình ảnh: tụm năm, tụm bảy; bầy chim non,
- Nghệ thuật ẩn dụ, nhân hóa.


- Bài làm phải có bố cục rõ ràng , biết phân tích , biết lập luận chặt chẽ
để làm rõ ý cần chứng minh. Dẫn chứng đưa ra phải toàn diện, tiêu biểu. Cảm
nghĩ của người viết phải chân thật , sâu sắc .

TIÊU CHUẨN CHO ĐIỂM :
Điểm 12: Đảm bảo được các yêu cầu đã nêu và có tính sáng tạo.
Điểm 8- 10: Đáp ứng được tương đối những yêu cầu chính. Bố cục
tương đối hợp lý. Đôi khi còn mắc lỗi diễn đạt.
Điểm 4-6 : Bài làm chưa đến mức trung bình Bố cục chưa thật chặt
chẽ, văn chưa gọn, sai lỗi diễn đạt nhiều .
Điểm 1-2: Bài viết có nhiều sai lệch về nội dung và phương pháp .
Điểm 0: Sai nghiêm trọng về nội dung tư tưởng - Hoặc bỏ giấy trắng -
Hoặc chỉ một vài dòng chiếu lệ .
Trên đây là những định hướng, trong quá trình chấm bài giáo viên
cần linh hoạt vận dụng hướng dẫn chấm để định điểm bài làm học sinh sao
cho chính xác, hợp lý; cần trân trọng những bài viết có nhiều ý tưởng, giàu
chất văn và sáng tạo. UBND HUYỆN THỦY NGUYÊN
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

ĐỀ THI CHỌN HỌC SINH GIỎI MÔN: NGỮ VĂN 8
Thời gian: 120 phút ( Không kể thời gian giao đề)
UBND HUYỆN THỦY NGUYÊN
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

HƯỚNG DẪN CHẤM HỌC SINH GIỎI
MÔN: NGỮ VĂN 8
Câu Đáp án Điểm
- Viết đúng hình thức đoạn văn 0,25
- Câu thơ đã sử dụng thành công câu hỏi tu từ. Các câu hỏi tu từ
đều bộc lộ cảm xúc băn khoăn day dứt của tác giả.
0,25
- Câu hỏi thứ nhất thể hiện niềm thương cảm, ngậm ngùi trước
cảnh ông đồ ế khách , khác với trước kia bao nhiêu người xúm
quanh, tấm tắc khen ông tài viết chữ.
0,75
1
- Ở câu thứ hai, trước sự vắng bóng của ông đồ, nhà thơ cất lên lời
hỏi như thảng thốt, xót xa, bâng khuâng tiếc nuối. Hỏi “ Những
người muôn năm cũ” cũng là lời tự vấn cho thế hệ mình và bản
thân mình – lớp người mới, lớp người hiện đại. Câu hỏi còn
hướng người đọc những suy nghĩ thầm lặng, sâu xa.
0,75
a. Mở bài.
- Giới thiệu về Ngô Tất Tố, Nam Cao và đề tài trong sáng tác của
hai nhà văn.
- Hai tác phẩm thành công của hai nhà văn viết về đề tài người

dân Việt Nam trong xã hội cũ: Sống mòn, chết thảm, chết thể xác,
chết tinh thần.
* Cuộc sống khổ cực của chị Dậu.
+ Không khí căng thẳng, ngột ngạt của làng Đông Xá trong mùa
sưu thuế đã đẩy gia đình chị Dậu vào mức đường cùng: Chị phải
bán chó, bán đứa con đứt ruột đẻ ra- chị đứt từng khúc ruột – mà
cùng không trả được món nợ nhà nước.
+Anh Dậu bị chúng đánh trói gần chết nên chị đã liều mạng chống
cự lại tên cai lệ. Bị bắt giải lên huyện, chị Dậu vẫn không thoát
khỏi những thế lực đen tối của xã hội thực dân phong kiến như tri
phủ Tư Ân. Kết thúc truyện là hình ảnh chị Dậu vùng chạy ra
ngoài trong khi trời tối đen như mực để chạy trốn lão già.
=> Nỗi khổ trăm bề của người nông dân
b2. Từ hai tác phẩm này chúng ta thấy được vẻ đẹp tâm hồn cao
quý, lòng tận tụy hi sinh vì người thân của những người nông dân
ấy.
* Vẻ đẹp của lão Hạc.
- Lão Hạc giàu lòng yêu thương và giàu lòng tự trọng.
+ Lão Hạc giàu lòng yêu thương.
/. Với cậu Vàng: Lão là người nặng tình nghĩa, có tấm lòng mến
thương loài vật, con người chung thủy. Lão chăm sóc cậu Vàng,

0,5
3 1,5 1,5

UBND HUYỆN THỦY NGUYÊN
PHÒNG GIÁO DỤC-ĐÀO TẠO

ĐỀ THI CHỌN HỌC SINH GIỎI MÔN: NGỮ VĂN 8
Thời gian: 120 phút (Không kể thời gian giao đề)

Câu 1: (3điểm)
Cảm nhận của em về bức tranh tứ bình trong đoạn thơ sau:
“ Nào đâu những đêm vàng bên bờ suối
Ta say mồi đứng uống ánh trăng tan ?
Đâu những ngày mưa chuyển bốn phương ngàn
Ta lắng ngắm giang sơn ta đổi mới?
Đâu những bình minh cây xanh nắng gội,
Tiếng chim ca giấc ngủ ta tưng bừng?
Đâu những chiều lênh láng máu sau rừng
Ta đợi chết mảnh mặt trời gay gắt,
Để ta chiếm lấy riêng phần bí mật?”
(Nhớ rừng- Thế Lữ)
Câu 2: (7điểm)

cảm.

0.25
Câu 1

* Nội dung cần đạt
- Giới thiệu được cảnh khu rừng được hiện lên gợi nhớ đến dĩ
vãng ở đoạn 3 của bài thơ ( Trích dẫn).
- Đây là một bộ tranh tứ bình tuyệt đẹp. Cả bốn cảnh, cảnh
nào cũng có núi rừng hùng vĩ, hoành tráng, nổi bật giữa các
cảnh là hình ảnh con hổ uy nghi, nhớ rừng đến cháy ruột.
- Dáng điệu của nó được khắc hoạ hết sức phong phú, kì vĩ và

0.5
0.25 0.25

Câu 2

* Hình thức, kĩ năng.
- Viết một bài văn nghị luận bố cục ba phần, sáng rõ, mạch
lạc, dộ dài không quá hai trang giấy thi.
- Vận dụng linh hoạt các thao tác giải thích, bình luận, chứng
minh một cách thành thạo để làm sáng tỏ vấn đề.
- Diễn đạt trôi chảy, liền mạch, hạn chế mắc lỗi về chính tả,
dùng từ, viết câu. 0.5 a/ Mở bài:

-Vào trường để lớn lên trong sự thông thái: vì đó là nơi
mang lại cho chúng ta tri thức và nhân cách làm người. Hs vào
đó được dạy dỗ, học tập và ứng xử…Rõ ràng vào trường được
học tập và rèn luyện một cách toàn diện, đặc biệt là trí tuệ
được phát huy, độc lập trong sáng tạo, con người trở nên
thông minh, thông thái, tháo vát, nhanh nhẹn.
- Ra đi đề phục vụ tốt hơn đất nước và đồng loại của bạn:
+ Nghĩa là khi bạn đã được trang bị đầy đủ kiến thức khoa học
và nhân cách làm người là bạn đã hoàn thành khóa học và ra
trường.
+ Hiểu hơn về trách nhiệm, nghĩa vụ của bản thân đối với gia
đình, nhân dân XH và đất nước.
+ Bạn sẽ phục vụ họ tốt hơn và sống tốt hơn. Bởi bạn là một
cá nhân có mối quan hệ chặt chẽ với cộng đồng, đất nước, mối
quan hệ riêng chung không thể tách rời.
* Bình luận : Đánh giá mở rộng vấn đề.
- Câu châm ngôn thật xác đáng. Khái quát được cả quá trình
học tập và rèn luyện của người học, lợi ích của việc học và kết
quả của việc học. kết quả ấy là sự thông thái và sống có ích
cho cuộc đời, cho đất nước, nhân dân.
-Người bị thất học không thể trở thành người thông thái, vì tri
thức không thể nghe người ta nói mà chủ yếu phải bằng học,
đọc, tự học hỏi tìm tòi trên các phương tiện sách vở, intenet…
- Nhưng người được đến trường, được sống trong môi trường
học tập quá nhiều thuận lợi mà lười biếng, ham chơi, khi thi
cử không trung thực, điểm và bằng cấp do “chạy” mà có thì
khác gì người thất học.
=> Do vậy, cả hai đối tượng thất học và lười biếng đều không
thể trở nên thông thái và cũng không thể phục vụ tốt cho cuộc
sống. Vậy nên, để có việc học đạt kết quả và có ích cho cuộc
1 0.75

0.75 0.5
Lưu ý
Đối với những bài viết rõ ràng các luận điểm. Diễn đạt trôi
chảy, mạch lạc. Vận dụng linh hoạt các thao tác giải thích,
bình luận, chứng minh một cách thành thạo để làm sáng tỏ vấn
đề. Không mắc các lỗi về chính tả, diễn đạt thì cho điểm tối
đa. Còn đối với những bài viết có luận điểm nhưng còn hạn
chế về diễn đạt trừ 1-> 2 điểm ( tùy theo mức độ vào bài làm

của HS)
MÔN : NGỮ VĂN 8
Thời gian : 120 phút (Không kể thời gian giao đề) Câu 1 (3 điểm):
Văn bản “Trong lòng mẹ”, trích hồi kí “Những ngày thơ ấu” của Nguyên
Hồng, đã kể lại một cách chân thực và cảm động những cay đắng, tủi cực cùng
tình yêu thương cháy bỏng của nhà văn thời thơ ấu đối với người mẹ bất hạnh.
Hãy viết một bài văn ngắn làm sáng tỏ nhận định trên?
Câu 2 (7 điểm):
Trong thư gửi thanh niên và nhi đồng nhân dịp Tết năm 1946, Bác Hồ
viết:
"Một năm khởi đầu từ mùa xuân. Một đời bắt đầu từ tuổi trẻ. Tuổi trẻ là
mùa xuân của xã hội."
Em hiểu như thế nào về câu nói trên?

Hết

0,25
b. Thân bài: (2,5đ )
Lần lượt làm sáng tỏ từng luận điểm.
1. Những cay đắng, tủi cực của bé Hồng
- Bố mất, mẹ vì “cùng túng quá, phải bỏ con cái đi tha hương cầu
thực”, bé Hồng sống bơ vơ giữa sự ghẻ lạnh, cay nghiệt của họ hàng.
- Bị bà cô độc ác gieo rắc vào đầu óc những hoài nghi, những ý nghĩ
xấu xa, về người mẹ;
- Bị người cô nhục mạ, hành hạ, bé Hồng đau đớn, cổ họng nghẹn ứ
khóc không ra tiếng, cười dài trong tiếng khóc…
2. Tình yêu thương mãnh liệt của bé Hồng với người mẹ bất hạnh
- Những ý nghĩ, cảm xúc của chú bé khi trả lời người cô
+ Nhận ra ý nghĩa cay độc trong giọng nói và trên nét mặt của người
cô; không muốn tình thương yêu và lòng kính mến mẹ bị những rắp
tâm tanh bẩn xâm phạm đến
+ Đau đớn, uất ức đến cực điểm vì cổ tục đã hành hạ, đầy đọa mẹ: “Giá
những cổ tục đã đầy đọa mẹ tôi là một vật như hòn đá hay cục thủy
tinh, đầu mẩu gỗ, tôi quyết vồ ngay lấy mà cắn, mà nhai, mà nghiến
cho kì nát vụn mới thôi”.
- Cảm giác sung sướng cực điểm khi ở trong lòng mẹ
+ Chạy đuổi theo chiếc xe. Vừa được ngồi lên xe cùng mẹ đã òa lên
khóc nức nở.
+ Cảm giác sung sướng đến cực điểm của bé Hồng khi ở trong lòng mẹ
là hình ảnh về một thế giới đang bừng nở, đang hồi sinh của tình mẫu
tử. Vì thế, những lời cay độc của người cô cũng bị chìm ngay đi, bé
Hồng không mảy may nghĩ ngợi gì nữa…
+ Đoạn trích Trong lòng mẹ, đặc biệt là phần cuối là bài ca chân thành
và cảm động về tình mẫu tử thiêng liêng, bất diệt.
0,5


- Làm đúng kiểu bài nghị luận xã hội.
- Biết cách xây dựng và trình bày hệ thống luận điểm; sử dụng
yếu tố biểu cảm, tự sự và miêu tả một cách hợp lí.
- Bố cục rõ ràng; kết cấu chặt chẽ; diễn đạt lưu loát, mạch lạc.
- Không mắc các lỗi: chính tả, dùng từ, ngữ pháp,
b. Nội dung:
- Làm rõ quan điểm của Bác về tuổi trẻ qua câu nói: đề cao, ca
ngợi vai trò của tuổi trẻ đối với xã hội.
- Đưa ra được ý kiến về bổn phận, trách nhiệm của bản thân và
thế hệ trẻ hiện nay. I. Mở bài:
- Dẫn dắt vấn đề: Từ thực tế lịch sử dân tộc hoặc từ quy luật của thiên
nhiên tạo hoá.
- Nêu vấn đề: Quan điểm của Bác về tuổi trẻ: đề cao, ca ngợi vai trò
của tuổi trẻ đối với xã hội.

0,5
thành của một đời người.
- Tuổi trẻ cũng đồng nghĩa với mùa xuân của thiên nhiên tạo hoá, nó
gợi lên ý niệm về sức sống, niềm vui, tương lai và hạnh phúc tràn đầy.
- Tuổi trẻ là tuổi phát triển rực rỡ nhất về thể chất, tài năng, tâm hồn và
trí tuệ.
- Tuổi trẻ là tuổi hăng hái sôi nổi, giàu nhiệt tình, giàu chí tiến thủ, có
thể vượt qua mọi khó khăn gian khổ để đạt tới mục đích và ước mơ cao
cả, tự tạo cho mình một tương lai tươi sáng, góp phần xây dựng quê
hương.
c/ Tuổi trẻ là mùa xuân của xã hội:
Tuổi trẻ của mỗi con người cùng góp lại sẽ tạo thành mùa xuân
của xã hội. Vì:
- Thế hệ trẻ luôn là sức sống, niềm hi vọng và tương lai của đất nước.
- Trong quá khứ: biết bao tấm gương các vị anh hùng liệt sĩ đã tạo nên
cuộc sống và những trang sử hào hùng đầy sức xuân cho dân tộc.
- Ngày nay: tuổi trẻ là lực lượng đi đầu trong công cuộc xây dựng đất
nước giàu mạnh, xã hội văn minh. Cuộc đời họ là những bài ca mùa
xuân đất nước.
2. Bổn phận, trách nhiệm của thanh niên, học sinh:
- Làm tốt những công việc bình thường, cố gắng học tập và tu dưỡng
đạo đức không ngừng.
- Phải sống có mục đích cao cả, sống có ý nghĩa, lí tưởng vì dân vì
nước. Lí tưởng ấy phải thể hiện ở suy nghĩ, lời nói và những việc làm
0,5
1

III. Kết bài:
- Khẳng định lời nhắc nhở của Bác là rất chân thành và hoàn toàn đúng
đắn.
- Liên hệ và nêu suy nghĩ của bản thân
0,5


HẾT

UBND HUYỆN THUỶ NGUYÊN
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HƯỚNG DẪN CHẤM THI CHỌN HSG
MÔN: NGỮ VĂN 8

Đây là dạng đề mở nhằm kích thích năng lực nhận xét , đánh giá của HS về
một nhân vật văn học. HS có thể có nhiều cách nhìn nhận, đánh giá khác
nhau cùng với những kiểu bài khác nhau và trình bày bài làm bằng một đoạn
văn hoặc một bài văn hoàn chỉnh nhưng cũng phải đảm bảo được tính cân
đối, rõ ràng, viết câu, diễn đạt tốt; không sai về lỗi chính tả.
Dù trình bày kiểu bài nào, đoạn văn hay bài văn hoàn chinh thì HS
cũng phải đảm bảo được các ý chính sau đây: Ông giáo không phải là nhân
vật trung tâm của tác phẩm nhưng sự hiện diện của ông đã làm cho “
Bức tranh quê” càng thêm đầy đủ.
- Là người trí thức được mọi người quý trọng nhưng cuộc sống gia đình
cũng cùng quẫn phải bán cả những cuốn sách quý nhất của mình để nuôi
sống gia đình.
- Là người giàu lòng cảm thông, nhân hậu với những người nông dân nghèo
+ Thương yêu lão Hạc: chuyện trò tâm tình, gần gũi, động viên để lão Hạc
khuây khỏa bớt nỗi nhớ con, âm thầm giúp đỡ,: thương lão Hạc như thương
thân…
+ Không nỡ giận vợ vì ông hiểu con người ta khi quá khổ thì cái bản tính tốt
đẹp bị những cái lo lắng, buồn đau, ích kỉ che lấp mất.
Ngoài những ý có tính định hướng trên, GK cần trân trọng những cách đánh
giá khác mà thấy hợp lí thì cho điểm phù hợp.
* Biểu điểm:
Điểm:2.5đ : Bài làm đáp ứng được các yêu cầu trên; bố cục hợp lí; văn viết
mạch lạc; trình bày sạch, đẹp; không sai sót về lỗi chính tả và lỗi diễn đạt.
Các mức điểm còn lại thì GK căn cứ vào mức độ làm bài của HS mà
cho điểm phù hợp.
GK có thể cho điểm lẻ đến 0.25 điểm
Câu 3:
(5.0đ)

*Yêu cầu về kĩ năng:

lỗi chính tả.
- Điểm 3-4: Bài viết làm sáng tỏ được những yêu cầu trên, biết phân
tích làm nổi rõ vấn đề. Bài viết dễ theo dõi, lời văn mạch lạc, còn vài
sai sót về lỗi chính tả, lỗi diễn đạt.
- Điểm 1-2: Bài viết còn chung chung, phân tích không sâu; bố cục
lỏng lẻo; văn viết lủng củng; mắc lỗi diễn đạt nhiều.
- Điểm 0: Bài viết quá sơ sài hoặc sai nghiêm trọng về nội dung,
phương pháp.
* Trên đây chỉ là những định hướng, trong quá trình chấm bài, GK
cần linh hoạt vận dụng hướng dẫn chấm để định điểm bài làm học
sinh sao cho chính xác, hợp lý; cần trân trọng những bài viết có nhiều
ý tưởng, giàu chất văn. Điểm toàn bài lẻ đến 0,25 điểm. HẾT

UBND HUYỆN THỦY NGUYÊN
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỀ THI CHỌN HỌC SINH GIỎI

MÔN: NGỮ VĂN 8
Thời gian: 120 phút( Không kể thời gian giao đề)

Câu 1: (2điểm):
Trong truyện ngắn Lão Hạc của nhà văn Nam Cao (Ngữ văn 8, tập 1), nếu
bỏ chi tiết Lão Hạc tự tử bằng bả chó thì giá trị nghệ thuật của tác phẩm có bị
giảm sút không ? Vì sao ?
Câu 2: (3,0 điểm):


UBND HUYỆN THỦY NGUYÊN
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HƯỚNG DẪN CHẤM THI CHỌN HSG
MÔN: NGỮ VĂN 8 Câu Đáp án Điểm
1.Yêu cầu về hình thức: Yêu cầu học sinh trình bày dưới dạng một
văn bản ngắn hoặc một đoạn văn tương đ
ối hoàn chỉnh 0,5
1
.
2.Yêu cầu về nội dung:
- Chi tiết lão Hạc tự tử bằng bả chó là một chi tiết quan trọng góp
phần tạo nên đặc s
ắc nghệ thuật của tác phẩm.
- Nếu không có chi tiết này thì việc kết thúc truyện sẽ mất tính bất
ngờ và không trở thành một sự kiện để Ông giáo đưa ra những suy


2
- Giải quyết vấn đề:
+ Nêu khái niệm và các biểu hiện của lòng ghen tị.
+ Phân biệt giữa lòng ghen tị và sự thi đua."Giữa lòng ghen tị và sự
thi đua có một khoảng xa cách như giữa tật xấu xa và đức hạnh."
+ Tác hại của lòng ghen tị. “Đừng để cho con rắn ghen tị luồn vào
trong tim. Đó là một con rắn độc, nó gặm mòn khối óc và làm đồi bại
con tim.” 0,5

0,75

0,75
- Trích ý kiến… 0,5

3
II. Thân bài : Lần lượt làm rõ 2 luận điểm sau

1. Luận điểm 1 :
a, Cả hai bài thơ đều thể hiện lòng yêu nước và niềm khao khát
tự do cháy bỏng :
- Vì yêu nước nên mới thấy hết nỗi tủi cực của cuộc sống nô lệ (
d/c : Gậm một khối căm hờn trong cũi sắt…) , mới uất ức khi
bị giam cầm ( d/c : Ngột làm sao , chết uất thôi…)
- Không chấp nhận cuộc sống nô lệ , luôn hướng tới cuộc sống

nhưng vẫn kiên quyết theo đuổi. Họ tin ở tương lai chiến thắng
của cách mạng, đất nước sẽ độc lập, dân tộc sẽ tự do. Họ không
ngừng đấu tranh để giải phóng dân tộc . Đây là thái độ đấu
tranh rất tích cực.( d/c…)

3. Kết bài Khẳng định lại giá trị của hai bài thơ
- Trân trọng nỗi niềm yêu nước sâu kín. Đó là nỗi đau nhức
nhối vì thân phận nô lệ, khơi dậy niềm khao khát tự do và nhớ tiếc
thời oanh liệt của dân tộc.
- Tiếng nói khao khát tự do ,ý thức đấu tranh giành tự do mạnh
mẽ trong “Khi con tu hú” có tác dụng tích cực đối với thanh niên
đương thời. 0,5 HẾT


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status