TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA SINH - KTNN
PHẠM THỊ QUỲNH
KHẢ NĂNG TIÊU THỤ VẬT MỒI (BỌ TRĨ –
Thrips palmi Karny) VÀ MỘT SỐ CHỈ TIÊU
TĂNG TRƢỞNG QUẦN THỂ CỦA BỌ XÍT
BẮT MỒI Orius sauteri Poppius TRONG
ĐIỀU KIỆN NUÔI NHÂN TẠO
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Sƣ phạm Kĩ thuật nông nghiệp
Người hướng dẫn khoa học
ThS. BÙI XUÂN THẮNG HÀ NỘI – 2015 LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện đề tài: “Khả năng tiêu thụ vật mồi (Bọ trĩ
Xuân Hòa, ngày 5 tháng5 năm2015
Người thực hiện đề tài
Sinh viên
Phạm Thị Quỳnh
DANH MỤC CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT Stt
1
2
3 DANH MỤC BẢNG VÀ HÌNH
TT
Tên bảng
Tr
Bảng 3.1:
Khả năng tiêu thụ vật mồi sâu non Thrips PalmiKarny của
các pha phát dục bọ xít bắt mồi Orius sauteri Poppius trên
hạt đậu trắng nảy mầm.
25
Bảng 3.2:
Nhịp điệu đẻ trứng của Orius sauteri Poppius nuôi bằng
thức ăn Thrips Palmi Karny sống trên hạt đậu trắng nảy
mầm .
27
Bảng 3.3:
Tỉ lệ trứng nở của bọ xítOrius sauteri Poppius trong điề
kiện nuôi nhân tạo.
28
Bảng 3.4:
2.1.2. Địa điểm nghiên cứu 15
2.1.3. Đối tượng nghiên cứu 15
2.1.4. Vật liệu và dụng cụ nghiên cứu 15
2.2. Nội dung nghiên cứu 15
2.3. Phương pháp nghiên cứu 16
2.3.1. Phương pháp thu nguồn bọ xít bắt mồi Orius sauteri Poppius và
thức ăn của chúng (Bọ trĩ Thrips palmi Karny ) 16
2.3.2. Phương pháp nuôi nhân tạo Orius sauteri Poppius 16
2.3.3. Phương pháp nghiên cứu khả năng tiêu thụ vật mồi bọ trĩ Thrips
palmi Karny củamỗi pha phát dục đối với bọ xít Orius sauteri Poppius 18 2.3.4. Phương pháp nghiên cứu khả năng đẻ trứng và nhịp điệu đẻ trứng
của bọ xít Orius sauteri Poppius trong điều kiện nuôi nhân tạo. 18
2.3.5. Phương pháp nghiên cứu tỉ lệ trứng nở của bọ xít Orius sauteri
Poppius 19
2.3.6. Phương pháp nghiên cứu tỉ lệ sống sót của bọ xít Orius sauteri
Poppius 19
CHƢƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 20
3.4. Đặc tính hình thái vàsinh học của Orius sauteri Popius 20
3.4.1. Đặc điểm hình thái của Orius sauteri Popius 20
3.4.2. Đặc tính sinh học củaOrius sauteri Poppius 21
3.4.2.1. Tập tính sống của Orius sauteri Poppius 21
3.4.2.2. Khả năng tiêu thụ vật mồi sâu non Thrips Palmi Karny của các
pha phát dục bọ xít bắt mồi Orius sauteri Poppius 22
3.4.2.3. Khả năng đẻ trứng và nhịp điệu đẻ trứng của loài bọ xít bắt mồi
Orius sauteri Poppius bằng vật mồi Thrips Palmi Karny trên môi trường
hạt đậu trắng 24
3.4.2.4 . Tỉ lệ trứng nở của bọ xít Orius sauteri Poppius 26
3.4.2.5.Tỉ lệ sống sót của sâu non bọ xít Orius sauteri Popius bằng vật mồi
người.
Theo Nguyễn Đức Thắng, 2013 [8] thành phần thiên địch của các loài
bọ trĩ được xác định gồm 10 loài. Trong đó có 4 loài bọ xít bắt mồi, loài bọ
xít Orius sauteri Poppius xuất hiện với mức độ cao nhất có ý nghĩa trong
điều hòa số lượng bọ trĩ Thrips palmi Karny.
2
Orius sauteri Poppius là một loài thiên địch rất phổ biến. Nguồn thức ăn của
chúng chủ yếu là bọ trĩ. Trong công tác bảo vệ thực vật, bọ trĩ đang là một
mối dịch hại nghiêm trọng. Việc phòng trừ bọ trĩ còn gặp nhiều khó khăn do
tập tính sinh sống của chúng ở dưới mặt lá và trong các nách lá của chồi,
hoa,lá non, búp. Mặt khác, do việc sử dụng thuốc hóa học trong công tác bảo
vệ thực vật đang gây ra nhiều ảnh hưởng tiêu cực đến sức khẻo con người
cũng như môi trường. Để giải quyết những bức xúc của vấn đề bảo vệ môi
trường, bảo tồn sự đa dạng sinh học và sản xuất nông sản an toàn trong một
nền nông nghiệp sạch. Các nhà khoa học nông nghiệp đã nghiên cứu và đưa
ra mọi biện pháp phòng chống dịch hại đáp ứng những bức xúc trên, đó là
biện pháp quản lí dịch hại tổng hợp (IPM).
Nhiều nhà nghiên cứu khoa học trên thế giới và trong nước đã có những
thành công bước đầu về loài bọ xít bắt mồi Orius sauteri Poppius. Ở Nhật
Bản Orius sauteri Poppius được chứng minh là có hiệu quả như một tác nhân
sinh học trong phòng trừ bọ trĩ và được đăng kí sử dụng như một loại thuốc
trừ sâu sinh học. Theo Hà Quang Hùng và ctv (2002) [3] Orius sauteri
Poppius là loài côn trùng bắt mồi có ý nghĩa trong điều hòa số lượng bọ trĩ T.
palmi hại khoai tây ở Hà Nội và vùng phụ cận.
Cũng từ đây, việc nhân nuôi và nghiên cứu bọ xít bắt mồi Orius sauteri
Poppius trở thành vấn đề được rất nhiều người quan tâm và có tính thực tiễn
cao, nhưng để nhân nuôi Orius sauteri Poppius thành công và hiệu quả, người
nuôi phải nắm rõ đặc tính sinh học của loài bọ xít Orius sauteri Poppius. Một
trong những vấn đề quan trọng và không thể thiếu trước khi nuôi bọ xít Orius
4
CHƢƠNG 1
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Tổng quan nghiên cứu trong nƣớc
1.1.1. Những nghiên cứu về O. sauteri Poppius.
Theo kết quả nhiên cứu của Yorn Try(2003) [13] tại Gia Lâm – Hà Nội
cho biết có 14 loài thiên địch của Thrips palmi Karny trong đó có O. sauteri,
xylocoris sp , là hai loài có ý nghĩa quan trọng trong kìm hãm mật độ bọ trĩ.
Theo Nguyễn Văn Vịnh (2005)[11]khi nuôi trong điều kiện nhiệt độ
trung bình 20,4±1.0ºC, ẩm độ trung bình 83,2±2.9% với vật mồi là bọ trĩ
Thrips palmi thì vòng đời của O. sauteri là 17,01±1.86 ngày trong đó từ trứng
đến tuổi 2 khoảng 6 ngày. Nuôi O. sauteri ở nhiệt độ trung bình là 25,7ºC, ẩm
độ trung bình là 84,3% khả năng ăn mồi T. palmi tăng dần theo tuổi như vậy
trưởng thành có khả năng ăn mồi lớn nhất là 23,23±1,25 con/ngày. Nuôi ở
nhiệt độ trung bình 24,8±1,6ºc, ẩm độ trung bình 83,4±2.3% thì 1 con cái đẻ
trung bình 44,6±3,34 quả, thời gian đẻ trứng kéo dài trong 12 ngày sau giao
phối và cao nhất vào ngày thứ tư 4-6 đạt cực đại vào ngày thứ tư chiếm 18,2%
tổng số trứng được 1 con cái đẻ ra. Tỉ lệ trứng nở đạt từ 77,38 - 88,40%.
Theo Bùi Thị Tình, Trần Thế Lam, Hoàng Kim Oanh (2003) [10] khi
nuôi O. sauteri ở nhiệt độ 27,8 - 29,8ºC, ẩm độ 65,8-81,0% thì vòng đời của
O. sauteri là 14,40±0,90 ngày. Khi nuôi bằng các loại thức ăn khác nhau thời
gian trưởng thành của O. sauteri cũng khác nhau: Nuôi bằng sâu xanh tuổi
1trưởng thành sống 7,60±3,20 ngày, nuôi bằng trứng sâu xanh trưởng thành
sống 10,80±2,60 ngày, nuôi bằng bọ trĩ trưởng thành sống 12,50±3,70 ngày và
nuôi bằng trứng ngài gạo trưởng thành sống lâu nhất 14,50±3,20 ngày. Khi
nuôi bằng các loại thức ăn khác nhau (Bọ trĩ, rầy, rệt, sâu xanh tuổi 1, trứng
sâu xanh, trứng ngài gạo) thì trưởng thành O. sauteri tiêu thụ nhiều nhất là bọ
cây bông được 7-10 ngày tuổi và tồn tại trong suốt vụ bông. Ở Bình Định, Phú
Yên và Cần Thơ, bọ trĩ gây hại trên bông trong những năm qua và gián tiếp
chúng còn truyền bệnh virus xanh lùn cho bông (2005) [2]
Trên cây lạc, theo Phạm Thị Vượng (1998) [12] có 4 loài bọ trĩ gâyhại:
Scirtothrips dorsalis Hood, Frankliniella schultzei, Thrips palmi K. và
megalurothrips usitatus. Trong đó Scirtothrips dorsalis là loại gây hại chủ
yếu, chiếm tỉ lệ cao nhất trên đồng ruộng. Trần Thị Thiên An (1999) [1] đã chỉ
ra rằng, trong những loài dịch hại cây dưa hấu tại Cà Mau thì Thrips palmi K.
là loại gây hại quan trọng nhất.
Theo tác giả Hoàng Anh Tuấn (2002) [9] xác định được 3 loài bọ trĩ là:
Scirtothrips dorsalis Hood, Ayyaria chaetophora karny và Thrips palmi K.tai
trung tâm nghiên cứu bông Nha Hố- Ninh Thuận. Đồng thời cũng xác định
được 6 loài thiên định có mặt trên đồng ruộng bông.
Những nghiên cứu về đặc tính sinh học của bọ trĩ trên khoai tây và trên
cây lạc của Trần Văn Lợi (2002) và Phạm Thị Vượng (1998) [7], [12] đều cho
biết nhiệt độn có liên quan chặc chẽ tới thời gian phát dục của bọ trĩ, nhiệt độ
càng cao thì thời gian phát dục càng ngắn.
Theo kết quả nghiên cứu loài Thrips palmi K. hại khoai tây của Hà
Quang Hùng (2002), [4] ở các nhiệt độ nuôi 15,36ºC, 22,72ºC, 28,6ºC, vòng
đời củaThrips palmi K. tương ứng là 22,99, 19,74 và 15,46 ngày. Còn theo
Trần Văn Lợi (2001) [7] khi nuôi Thrips palmi K. trong phòng thí nghiệm ở
nhiệt độ 16,1ºC- 26,5ºC thì thời gian phát dục trung bình các pha là: Trứng
3,79 ngày, sâu non tuổi 1 là 3,33 ngày, sâu non tuổi 2 là 4,18 ngày,nhộng là
4,44 ngày và trưởng thành là 10,7 ngày.
Theo kết quả nghiên cứu gần đây nhất về thành phần bọ trĩ gây hại đậu
rau tại Gia Lâm- Hà Nội của Yorn Try (2003) [13] đã ghi nhận có 4 loài là:
Thrips palmi K, Scirtothrips dorsalis Hood, Caliothrips. Và Frankliniella sp.
7
Nghiên cứu về phổ kí chủ và thành phần thiên địch của Thrips palmi K.
thấy tỉ lệ trứng O.sauteri Poppius nở là 99% cao hơn của O.minutus (96%) và
tỉ lệ sống sót của O. sauteri cũng cao hơn trong đó thời gian phát dục của pha
sâu non khoảng 12 ngày.
Tomatsu Murai, Ytaka Narai, Naoto Sugiura (2001)[27] nghiên cứu tỉ lệ
nở của trứng O. sauteri poppius ở 2,5ºC, 7,5ºC, 12,5ºC cho thấy khi nhiệt độ
bảo quản giảm và thời gian bảo quản tăng thì tỉ lệ trứng nở giảm. Nhóm tác
giả cũng cho biết thời gian sống của trưởng thành đẻ trứng là 41,5 ± 15,9 của
trưởng thành không đẻ trứng là 56,0 ±26,6 ngày, thời gian lớn nhất có thể đạt
90 ngày. Trung bình con cái đẻ 108,7 ±55,6 quả trứng, lớn nhất đạt 224 trứng.
Theo E. yano, K. Wantanabe và K. Yona (2002) [25] thì trứng của
Ephestia kuehniella có ý nghĩa lớn trong việc nhân nuôi hàng loạt bọ xít bắt
mồi O. sauteri P. và mật độ thức ăn phù hợp nhất là 60 trứng trong 4 ngày cho
1 cá thể.
Những nghiên cứu về đặc tính sinh học của loài bọ xít này trên vật mồi
T. palmi, ở 25ºC của Nagai (1989) [26] cho biết giai đoạn trứng của O. sauteri
trung bình là 4,55 ngày, trứng đến trưởng thành là 12,03 ngày. Trưởng thành
cái sống 13,93 ngày (Với những con đã được giao phối), con đực trưởng thành
sống 11,50 ngày. Một con cái có thể đẻ 68,40 trứng/đời và khoảng 4,50
trứng/ngày, có thể ăn tới 20 sâu non bọ trĩ/ngày và hơn 200 sâu non bọ trĩ/pha.
Ngày nay người ta không chỉ dừng lại ở khâu tận dụng và thuần hóa
những vi sinh vật có lợi có trong tự nhiện mà nhờ những thành tựu lớn lao
trong lĩnh vực nghiên cứu nhu cầu dinh dưỡng và chế biến thức ăn tổng hợp
cho côn trùng trong lĩnh vực chế tạo các thiết bị dụng cụ nhân nuôi thúc đẩy
sự thích nghi nhanh chóng của thiên địch với điều kiện nhân tạo, con người có
thể chủ động nhân nuôi bằng con đường thủ công hay với quy mô công
9
nghiệp những loài sinh vật có lợi để chủ đọng thả ra ngoài tự nhiên ở những
thời điểm thích hợp tiêu diệt những côn trùng có hại. Nhưng không chỉ các
nước trên thế giới mà ở Việt Nam cũng có xu hướng này.
mỗi ngày và từ 3 -164 quả trứng mỗi ngày và từ 3 - 204 quả trứng trong vòng
đời của chúng.
Theo Kawai 1990[26] khi nghiên cứu trong phòng thí nghiệm trong nhà
kính và ở ngoài đồng ruộng về vòng đời và động thái của quần thể Thrips
palmi Karny trên nhiều cây trồng rất khác nhau, đã chỉ rõ Thrips palmi Karny
trở thành thiên địch hại nghiêm trọng trên cây cà tím, ớt ngọt, dưa chuột ở
Nhật Bản từ năm 1978. Ở thí nghiệm nuôi Thrips palmi Karny trên 9 loại kí
chủ khác nhau nhằm so sánh về tốc độ sinh sản là lớn nhất trên dưa chuột tiếp
theo là trên cà tím và bầu bí.
Việc nhân nuôi bọ trĩ Thrips palmi Karny cũng được Wang và Chun
(1960), miêu tả phương pháp nuôi trong phòng thí nghiệm ở Đài Loan. Họ đã
nuôi Thrips palmi Karny trong những mảnh lá bí với kích thước 4,3×1,5 cm
trong những lọ thủy tinh nhỏ. Khoảng 61% trứng đẻ đã phát triển thành
trưởng thành trung bình 13,73 ngày.
Nghiên cứu về sự thay đổi mùa vụ của Thrips palmi Karny. Trong nhà
lưới và ngoài đông ruộng ở Nhật Bản đã được Morishita, Azuma (1989)[24]
đã xác định Thrips palmi Karny không qua đông ở trên đồng ruộng do nhiệt
độ thấp, nhưng quần thể vẫn duy trì trong nhà lưới.
Lượng mưa được biết đến là một yếu tố sinh thái ảnh hưởng đến mật độ
bọ trĩ. Etinne và ctv (1990), cho biết lượng mưa làm giảm đáng kể mật độ của
bọ trĩ Thrips palmi Karny ở Guadeloupe. Ngoài ra Su và ctv (1950), đã tiến
11
hành nghiên cứu bọ trĩ Thrips palmi Karny. Ở Đài Loan và cho thấy mật độ
chủng quần của Thrips palmi Karny chịu ảnh hưởng của nhiệt độ, lượng mưa,
ẩm độ và thời gian chiếu sáng.
Theo Bounier (1987) [14] cho biết sự gây hại của Thrips palmi Karny là
không giống những loài bọ trĩ khác. Khi mật độ bọ trĩ Thrips palmi Karny cao
sẽ tạo lên nhiều vết màu bạc trên mặt lá, đặc biệt dọc theo gân chính và các
gân phụ của lá. Bị hại nặng phần chồi và ngọn bị xoắn lại, quả thành sẹo và bị
Theo nhiều tác giả thiên địch quan trọng nhất của bọ trĩ Thrips palmi
Karny là các loài bọ xít bắt mồi thuộc giống Orius sp. (Anthocoridae). Orius
là một giống lớn (có khoảng 75 loài) và hầu hết là các loài bắt mồi ăn
thịt.Trong đó bọ xít bắt mồi Orius sauteri Poppius được coi là hiệu quả như
một tác nhân sinh học trong phòng trừ bọ trĩ và được đăng kí sử dụng như 1
loài thuốc trừ sâu sinh học ở Nhật Bản (Yano 1998), [25]
Kawai 1990[21] nghiên cứu sự phát triển của Orius sp. Trên cây cà tím
bị Thrips palmi Karny hại trong nhà kính, đã khẳng định mật độ quần thể
Thrips palmi Karny giảm sau khi thả bọ xít Orius sp. vài ngày.
Theo kết quả ngiên cứu của Nagai 1990 [25] chỉ trong điều kiện nuôi
thí nghiệm ở 25ºC một trưởng thành cái của Orius sp. Có thể ăn trung bình 22
sâu non tuổi 2 hoặc 26 trưởng thành Thrips palmi Karny trong vòng 24h.
Arakaki , Okajma, (1998), [18] đã nghiên cứu đặc tính sinh vật học và
sinh thái học của bọ trĩ ăn thịt Franklinothrip vespiformic đã được phát hiện
lần đầu tiên trong phòng thí nghiệm 1996 ở Nhật Bản, cả ấu trùng và trưởng
thành đều tấn công Thrips palmi Karny.
Theo nghiên cứu của Waterhouse và Noris, 1989. Tại Hawai có tới 3
loài bọ xít thuộc giống Orius sp. Là thiên địch của bọ trĩ Fankliniella
13
Occidentalis đó là các loài Orius Perseque, Orius Insidosus và Orius
Tristcolor.
Theo Nagai và Yano, 1990, [31]sự phát triển và tái sản xuất của Orius
sauteri Poppius trên ấu trùng Thrips palmi Karny được nghiên cứu ở 4 mức
nhiệt độ liên tiếp15ºC, 20ºC, 25ºC, 30ºC. Hằng số K và trạng thái không phát
triển đối với trứng và sâu non của Orius sauteri Poppius được lần lượt đo ở
mức 62 ngày và 11,1ºC là 180 ngày và 10,3ºC tỉ lệ trứng ung là 7,1% và
không có sự sai khác đáng kể nào về tỉ lệ sống sót trong suốt thời kì sâu non ở
các mức nhiệt độ.Tuổi thọ của trưởng thành đực và cái lớn nhất ở 15ºC và
ngắn nhất ở 30ºC.
15
CHƢƠNG 2
ĐỐI TƢỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1.Thời gian, địa điểm và vật liệu nghiên cứu nghiên cứu
2.1. 1. Thời gian
- Thời gian tiến hành: tiến hành nghiên cứu trong phòng thí nghiệm từ
tháng 4/2014 đến tháng 1/2015.
2.1.2. Địa điểm nghiên cứu
- Thu mẫu tại khu vực Phúc Yên - Vĩnh Phúc
- Nhân nuôi, theo dõi, nghiên cứu trong phòng thí nghiệm trường Đại học
Sư phạm Hà Nội 2.
2.1.3. Đối tượng nghiên cứu
- Bọ trĩ (Thrips Paralmi Karny)
- Thiên địch: Bọ xít bắt mồi Orius sauteri Poppius
2.1.4. Vật liệu và dụng cụ nghiên cứu
- Để nhân nuôi O. sauteri: Hộp nuôi sâu bằng nhựa loại to, cát sạch, hạt
đậu trắng (Phaseolus sp.), giấy thấm, với thức ăn là bọ trĩ (Thrips palmi
Karny).
- Để thu O. sauteri: sử dụng chai nhựa loại 250 ml.
- Để thu bọ trĩ: chai nhựa loại 250 ml, giấy bạc.
- Các dụng cụ nghiên cứu khác: Kính hiển vi, kính lúp, bút lông các
loại, đĩa petri, pank, kéo, ống nghiệm, bông, cối sứ, hộp nuôi sâu loại nhỏ,
bình xịt nước, găng tay, bút, sổ và các dụng cụ khác.
2.2.Nội dung nghiên cứu
- Xác định khả năng tiêu thụ vật mồi (bọ trĩ Thrips Palmi Karny) của
loài bọ xít bắt mồi Orius sauteri Poppius.
16
là 9 cm, cao 5 cm, xung quanh thành hộp và nắp hộp có đục lỗ nhỏ tạo
độ thông thoáng trong hộp.
- Giấy hút ẩm được cắt tròn có đường kính 9 cm vừa khít với đáy hộp
nuôi sâu.
- Hạt đậu trắng được loại bỏ hạt xấu, hỏng, tiến hành rửa bằng nước ấm
(45ºC), ngâm hạt trong nước sạch 5 phút, vớt ra giữ ẩm cho hạt bằng
bông ẩm, sau 2 ngày hạt đậu sẽ nảy mầm.
- Đặt 20 hạt đậu đã nảy mầm dài 1- 2 cm vào hộp nuôi sâu được chuẩn
bị ở trên.
Bước 2:
- Thu bắt trưởng thành Thrips palmi Karny ngoài đồng ruộng về phòng
thí nghiệm khoảng 1000 Thrips palmi Karny/ mỗi lần thu mẫu.
- Chuyển 100 trưởng thành Thrips palmi Karny vào mỗi hộp có sẵn 20
hạt đậu trắng nảy mầm (dài 1-2 cm).
- Sau 4 ngày chia hộp hạt đậu đã nhiễm trưởng thành Thrips palmi
Karny làm 3 hộp, và bổ sung thêm vào mỗi hộp 14 hạt đậu trắng mới
(hai hộp để nhân nuôi Orius sauteri Poppius và 1 hộp để làm nguồn
nhân bọ trĩ).
- Trưởng thành Orius sauteri Poppius thu thập từ ngoài đồng ruộng về
khoảng 400 trưởng thành/ mỗi lần thu mẫu, chuyển vào mỗi hộp nuôi
sâu ở trên 40 trưởng thành Orius sauteri Poppius với tỷ lệ đực:cái =
1:1 (Trong hộp có sẵn hạt đậu trắng nảy mầm)
Bước 4:
- Sau 24h lấy hạt đậu có trứng của bọ xít Orius sauteri Poppius sang
hộp đã có sẵn sâu non bọ trĩ Thrips palmi Karny .
Bước 5:
- Đợi trứng bọ xít Orius sauteri Poppius nở sâu non tuổi 1 thì tiến
hành tách để nuôi theo phương pháp cá thể (n = 30) bằng vật mồi
18