TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
Luận văn tốt nghiệp Đại học
Ngành: BẢO VỆ THỰC VẬT
Tên đề tài
DIỄN BIẾN MẬT SỐ QUẦN THỂ CỦA NHÓM SÂU
CUỐN LÁ VÀ MỘT SỐ ĐẶC TÍNH HÌNH THÁI,
SINH HỌC, TRIỆU CHỨNG CỦA Archips atrolucens
Diakonoff (LEPIDOPTERA: TORTRICIDAE)
GÂY HẠI TRÊN CÂY CAM QUÝT TẠI
TỈNH HẬU GIANG VÀ THÀNH PHỐ CẦN THƠ Giáo viên hướng dẫn Sinh viên thực hiện:
Ts. Lê Văn Vàng Trần Phạm Thu Tâm
Ks. Châu Nguyễn Quốc Khánh MSSV: 3103673
Lớp: BVTV36
Cần Thơ - 2013
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN BẢO VỆ THỰC VẬT Chứng nhận đã chấp thuận luận văn đại học với đề tài:
“DIỄN BIẾN MẬT SỐ QUẦN THỂ CỦA NHÓM SÂU CUỐN LÁ VÀ
MỘT SỐ ĐẶC TÍNH HÌNH THÁI, SINH HỌC, TRIỆU CHỨNG CỦA
Archips atrolucens Diakonoff (LEPIDOPTERA: TORTRICIDAE)
GÂY HẠI TRÊN CÂY CAM QUÝT TẠI TỈNH HẬU GIANG VÀ
THÀNH PHỐ CẦN THƠ”
Do học viên TRẦN PHẠM THU TÂM thực hiện và đề nạp.
Kính trình Hội đồng chấp nhận luận văn tốt nghiệp
Cần Thơ, ngày……tháng……năm 2013
Cán bộ hướng dẫn
TS. Lê Văn Vàng
KS. Châu Nguyễn Quốc Khánh
iii
LÝ LỊCH KHOA HỌC
I. LÝ LỊCH SƠ LƯỢC
Họ và tên: TRẦN PHẠM THU TÂM Giới tính: Nữ
Sinh ngày: 05/11/1992 Nơi sinh: An Giang
Dân tộc: Kinh Tôn giáo: Phật
Họ tên cha: Trần Thiện Hoàng Sự
Họ tên mẹ: Phạm Thị Thu Ba
Địa chỉ: xã Vĩnh Thạnh Trung, huyện Châu Phú, tỉnh An Giang.
Điện thoại: 01679. 000. 025 Email:
II. QUÁ TRÌNH HỌC TẬP
Năm 2003, tốt nghiệp tiểu học tại trường tiểu học “E” Vĩnh Thạnh
Trung, huyện Châu Phú, tỉnh An Giang.
Năm 2007, tốt nghiệp trung học cở sở tại trường trung học cơ sở Vĩnh
v
LỜI CẢM TẠ
Lời đầu tiên con xin chân thành biết ơn công lao sinh thành, dưỡng dục
của Cha Mẹ. Đã nuôi dạy con nên người và yêu thương con bằng cả tấm lòng.
Kính gởi thầy Lê Văn Vàng, giáo viên hướng dẫn lòng biết ơn sâu sắc.
Cám ơn Thầy đã tận tình hướng dẫn, hết lòng chỉ bảo, dìu dắt và động viên
trong quá trình thực hiện luận văn tốt nghiệp.
Xin gởi đến tất cả quý thầy cô trong Bộ môn Bảo Vệ Thực Vật, Khoa
tại thành phố Cần Thơ và tỉnh Hậu Giang”. Luận văn tốt nghiệp kỹ sư
ngành Bảo vệ thực vật, Khoa Nông nghiệp và Sinh học Ứng dụng, Đại học
Cần Thơ. Cán bộ hướng dẫn khoa học Ts. Lê Văn Vàng.
TÓM LƯỢC
Gần đây, sự gây hại của sâu cuốn lá đang trở nên quan trọng trên cây
cam quýt ở thành phố Cần Thơ và tỉnh Hậu Giang. Nhằm tạo cơ sở cho việc
xây dựng các chương trình quản lý sâu cuốn lá gây hại cam quýt. Đề tài:
“Diễn biến mật số quần thể của nhóm sâu cuốn lá và một số đặc tính hình
thái, sinh học, triệu chứng của Archips atrolucens diakonoff (Lepidoptera:
Tortricidae) gây hại trên cây cam quýt tại thành phố Cần Thơ và tỉnh
Hậu Giang” được thực hiện với kết quả đạt được như sau:
Nhóm sâu cuốn lá gây hại trên các vườn cam quýt ở Tp. Cần Thơ và
tỉnh Hậu Giang gồm 5 loài, trong đó Archips atrolucens là loài chiếm ưu thế
với tỉ lệ xuất hiện là 52,83%, trong khi các loài còn lại như Adoxophyesp
privatana (19,81%), Homona tabescens (12,92%), Psorosticha melanocrepida
(11,1%) và Agonopterix sp. (3,34%).
Trong điều kiện phòng thí nghiệm (T
0
C = 28 – 30,2
0
C; RH
0
= 75,2 –
83%) vòng đời của Archips atrolucens là 35,5 ngày. Ấu trùng có 5 tuổi, thành
trùng cái đẻ trung bình 233,75 trứng/con cái, từ 6-7 ngày, trứng được đẻ nhiều
nhất vào các ngày thứ 2, 3 và 4 (chiếm khoảng 87,4% tổng số trứng). Trong
điều kiện nhà lưới (T
0
C = 29 – 31,2
TIÊU
CỦA
ĐỀ
TÀI 2
CHƯƠNG 2: LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 3
2.1 SƠ LƯỢC VỀ CÂY CAM QUÝT 3
2.1.1 Nguồn gốc và phân bố 3
2.1.2 Đặc điểm sinh học 3
2.1.2.1 Rễ 3
2.1.2.2 Thân và cành 3
2.1.2.3 Lá 4
2.1.2.4 Hoa 5
2.1.2.5 Trái 5
2.1.2.6 Hột 6
2.2
MỘT
SỐ
ĐẶC
ĐIỂM
CỦA
HẠI
TRÊN
ĐỌT
VÀ
LÁ
CÂY
CÓ
MÚI 9
2.3.1 Sâu nhíu đọt Adoxophyes sp. (Lepidoptera: Tortricidae) 9
2.3.1.1 Tên khoa học 9
2.3.1.2 Phân bố và ký chủ 9
2.3.1.3 Một số đặc điểm hình thái 9
2.3.2 Sâu xếp lá Archips sp. (Lepidoptera: Tortricidae) 10
2.3.2.1 Một số đặc điểm hình thái 10
2.3.3 Sâu cuốn lá Homona sp. (Lepidoptera: Tortricidae) 12
2.3.3.1 Phân bố và kí chủ 12
2.3.3.2 Một số đặc điểm hình thái 12
2.3.4 Sâu xếp lá Agonopterix sp. (Lepidoptera: Oecophoridae) 14
2.3.4.1 Đặc điểm hình thái 14
2.3.5 Sâu nhíu đọt Psorosticha melanocrepida Clarke (Lepidoptera:
Oecophoridae) 16
2.3.5.1 Đặc điểm hình thái 16
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 24
4.1
KHẢO
SÁT
THÀNH
PHẦN
LOÀI
VÀ
DIỄN
BIẾN
MẬT
SỐ
QUẦN
THỂ
CỦA
NHÓM
SÁT
MỘT
SỐ
ĐẶT
ĐIỂM
SINH
HỌC,
HÌNH
THÁI
CỦA
ARCHIPS
ATROLUCENS
(LEPIDOPTERA:
TORTRICIDAE)
GÂY
LÁ
TRÊN
CÂY
CAM
SÀNH
TRONG
ĐIỀU
KIỆN
NHÀ
LƯỚI 37
4.3.1 Triệu chứng gây hại của sâu Archips atrolucens 38
4.3.2 Triệu chứng gây hại của sâu Adoxophyes privatana 39
4.3.3 Triệu chứng gây hại của sâu Psorosticha melanocrepida 39
4.3.4 Triệu chứng gây hại của sâu Homona tabescens 40
4.3.5 Triệu chứng gây hại của sâu Agonopterix sp 41
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 42
5.1
KẾT
LUẬN 42
27
4.4 Khả năng đẻ trứng của thành trùng Archips sp. (n = 12). 35
4.5
Một số đặc điểm về bộ phận gây hại của các loài âu cuốn lá
trên cây cam sành.
37
x
23
4.1 Thành trùng của các loài sâu cuốn lá cam quýt 25
4.2 Ổ trứng của sâu xếp lá Archips atrolucens 28
4.3 Ấu trùng tuổi 1 của sâu xếp lá Archips atrolucens 28
4.4
Ấu trùng tuổi 2 của sâu xếp lá Archips atrolucens
29
4.5 Ấu trùng tuổi 3 của sâu xếp lá Archips atrolucens 29
4.6 Ấu trùng tuổi 4 của sâu xếp lá Archips atrolucens 30
4.7
Ấu trùng tuổi 5 của sâu xếp lá Archips atrolucens
31
4.8 Giai đoạn nhộng của Archips atrolucens 31
4.9 Thành trùng Archips atrolucens 32
4.10
Cánh trước và sau của thành trùng Archips atrolucens cái,
đực.
33
4.11
Cặp cánh trước và sau vẽ của thành trùng Archips atrolucens
33
4.12
Diễn biến số lượng trứng được đẻ bởi một thành trùng
Archips atrolucens cái.
36
4.13
Vị trí đẻ trứng của thành trùng cái Archips atrolucens trên
cây cam sành trong nhà lưới.
37
4.14
xii
DANH SÁCH KÝ HIỆU CHỮ VIẾT TẮT
BVTV: Bảo vệ thực vật
ĐBSCL: Đồng bằng sông Cửu Long
Tp: Thành phố
gia tăng đáng kể vì hầu hết các vườn cam quýt đều được canh tác liên tục và
sử dụng các biện pháp hóa học phòng trừ dịch hại quá nhiều và không hợp lí.
Trong số các dịch hại thứ cấp đang bùng phát có nhóm sâu cuốn lá cam quýt.
Theo Nguyễn Thị Thu Cúc (2000) thì nhóm sâu cuốn lá gây hại trên cây
cam quýt ở ĐBSCL là Adoxophyes privatana Walker thuộc họ Tortricidae, bộ
Cánh vẩy (Lepidoptera) và Agonopterix sp. thuộc họ Oecophoridae, bộ Cánh
vẩy (Lepidoptera).
Theo Hồ Như Thủy (2012) thì nhóm sâu cuốn lá gây hại trên cây cam
quýt ở ĐBSCL gồm 5 loài: Loài Archips atrolucens, loài Adoxophyes
privatana, loài Homona tabescens thuộc họ Tortricidae, bộ Cánh vẩy
(Lepidoptera) và loài Psorosticha melanocrepida, loài Agonopterix sp. thuộc
họ Oecophoridae, bộ Cánh vẩy (Lepidoptera).
Tuy là loài dịch hại thứ cấp đang bùng phát mạnh nhưng những nghiên
cứu, khảo sát về đặc điểm sinh học, hình thái và tập quán gây hại của cái loài
trên chưa được thực hiện nhiều, hiện tại chỉ có 1,2 loài được khảo sát đặc điểm
sinh học như là: Loài Adoxophyes privatana.
Trên cơ sở đó, đề tài: “Diễn biến mật số quần thể của nhóm sâu cuốn
lá và môt số đặc tính hình thái, sinh học và triệu chứng của Archips
atrolucens diakonoff (Lepidoptera: Tortricidae) gây hại trên cây cam quýt
tại tỉnh Hậu Giang và thành phố Cần Thơ” được thực hiện nhằm cung cấp
2
những thông tin về diễn biến mật số của nhóm sâu cuốn lá và đặc điểm hình
thái, sinh học, tập quán gây của loài Archips atrolucens trong điều kiện phòng
thí nghiệm từ đó có hướng đề ra biện pháp phòng trị một cách hiệu quả loài
sâu này trong điều kiện ngoài đồng trên các vườn cam quýt ở vùng ĐBSCL.
2. MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI
Xác định thành phần loài và diễn biến mật số quần thể của nhóm sâu
cuốn lá cam quýt tại tỉnh Hậu Giang.
2.1.2 Đặc điểm sinh học
2.1.2.1 Rễ
Rễ cam quýt thuộc loại rễ nấm (micorhiza). Sự phát triển của rễ thường
xen kẽ với sự phát triển của thân cành trên mặt đất. Thường thì khi rễ hoạt
động mạnh thân cành sẽ hoạt động chậm và ngược lại. Mỗi năm rễ có khoảng
3 lần sinh trưởng và phát triển.
Rễ mọc ra từ hột thường khỏe, mọc sâu. Nếu đất tơi xốp, thoát nước tốt
và có đủ oxi rễ có thể mọc sâu trên 4m, nhưng có ít rễ nhánh và phân bố trên
diện tích hẹp. Do đó ở ĐBSCL, trên những vùng đất thấp, việc trồng cam quýt
bằng hột hay gốc tháp thường bị ảnh hưởng bởi mục thủy cấp. Trái lại, rễ mọc
ra từ cây chiết hay cành giâm thường ăn cạn hơn và phân bố trên diện tích
rộng, có nhiều rễ nhánh nên ít bị tác động bởi mực thủy cấp. Nhìn chung, rễ
cam quýt phân bố ở tầng sâu 10 – 30 cm. Rễ nhánh tập trung ở tầng sâu 10 –
25 cm, rễ hoạt động mạnh ở thời kì 1 – 8 năm tuổi sau trồng, sau đó suy giảm
nhiều và tái sinh kém (Trần Thế Tục và ctv., 1998).
2.1.2.2 Thân và cành
Cam quýt không có thân chính rõ rệt nếu để cây phát triển tự do, vì vậy
cần tạo hình ngay khi cây bắt đầu phát triển để giúp cây có hình dạng cân đối
và dễ dàng chăm sóc. Các cành chính thường mọc ra ở các vị trí trong khoảng
1m cách mặt đất. Cành có thể có gai, nhất là khi trồng bằng hột. Tuy nhiên,
4
sau giai đoạn ra hoa trái, các gai thường ít phát triển. Ở một vài loài, gai chỉ
mọc ra từ những cành phát triển mạnh. (Nguyễn Bảo Vệ, 2011)
Cành cam quýt phát triển theo lối hợp trục, khi cành mọc dài đến một
khoảng nhất định rồi dừng lại, các mầm bên dưới đỉnh sinh trưởng của ngọn
cành sẽ mọc ra, các cành thứ cấp nầy cũng mọc dài đến một khoảng nhất định
thì ngừng và các mầm bên dưới đỉnh sinh trưởng lại tiếp tục phát triển giống
như cũ. Trong một năm cây có thể cho 3 – 4 đợt cành. Tùy theo chức năng của
2.1.2.4 Hoa
Hoa cam quýt thuộc loại hoa đơn hay chùm, mọc từ nách lá. Trong điều
kiện tự nhiên hoa thường mọc ra vào đầu mùa mưa hoặc trong kỹ thuật xiết
nước kích thích ra hoa. Cũng có loài sau mỗi đợt ra cành lá thì ra hoa, như ở
Chanh Ta. Ở ĐBSCL, hoa cam quýt mọc ở cành phát triển vào đầu và cuối
mùa mưa nên có thể cho nhiều vụ trái trong năm. (Nguyễn Bảo Vệ, 2011)
Hoa cam quýt có dạng hình thuẩn tròn, đỉnh hơi to hơn phía dưới,
đường kính rộng 2,5 – 4 cm, rất thơm, thường là hoa lưỡng tính. Đài hoa dai
không rụng, hình chén, có 3 – 5 lá đài. Hoa 4 – 8 cánh (thường là 5), màu
trắng, dính liền với nhau ở đáy. Bao phấn có 4 ngăn màu vàng, mọc bằng hay
nhô cao hơn đầu nướm nhụy. Đầu nướm nhụy cái to. Bầu noãn có 8 – 15 ngăn
dính liền với nhau tại một trục giữa trái, mỗi tâm bì có 0 – 6 tiểu noãn (hột).
(Nguyễn Bảo Vệ, 2011)
Hầu hết các loài cam quýt đều tự thụ, tuy nhiên cũng có thể thụ phấn
chéo. Có tác giả cho rằng ở quýt, sự thụ phấn chéo sẽ làm tăng năng suất mặc
dù trái sẽ có nhiều hột hơn. Ở loài bưởi chùm (Citrus paradisi) thì nhị đực
chín sớm hơn làm tăng khả năng tự thụ. Ở các loài khác thì nhị đực và nhụy
cái chín cùng một lúc và nướm có thể nhận được phấn trong thời gian kéo dài
6 – 8 ngày. Các loài côn trùng như (ong, bướm) cũng góp phần quan trọng vào
việc thụ phấn nhờ hoa cam quýt màu trắng, thơm, nhiều mật và hạt phấn dính.
Ở một vài giống, hạt phấn không có sức sống như bưởi Năm Roi, cam
Washington Navel. (Nguyễn Bảo Vệ, 2011)
2.1.2.5 Trái
Trái cam quýt gồm có 3 phần: ngoại (vỏ ngoài), trung (vỏ giữa) và nội
quả bì (thịt trái). (Nguyễn Bảo Vệ, 2011)
Vỏ ngoài: Gồm có biểu bì với lớp cutin dầy và các khí khổng. Bên dưới
lớp biểu bì là lớp tế bào nhu mô vách mỏng, giàu lục lạp nên có thể quang hợp
được khi trái còn xanh. Trong giai đoạn chín, diệp lục tố sẽ phân hủy, nhóm
6
nhiều hột như bưởi, có thể có từ 80 – 100 hột mỗi trái. Có giống hoàn toàn
không hột như bưởi Năm Roi, bưởi Da Xanh, cam Washington Navel, cam
7
Mật Ôn Châu, cac giống chanh tam bội. (Nguyễn Bảo Vệ, 2011)
Ngoại trừ bưởi có hột đơn phôi, hầu hết các loại cam quýt đều có hột đa
phôi (tức có nhiều cây con mọc ra từ mỗi hột). Phôi hữu tính hình thành từ
giao tử do sự thụ tinh của tế bào trứng. Có khoảng 6 hay hơn phôi vô tính phát
triển từ tế bào sinh dưỡng của phôi tâm và vì vậy cây sẽ mang đặc điểm di
truyền của cây mẹ. Cây mọc ra từ phôi hữu tính thường thiếu sức sống, dễ chết
và thường bị lấn áp bởi phôi vô tính. Ở cam quýt, sự thụ phấn cần thiết cho sự
phát triển của phôi vô tính. (Nguyễn Bảo Vệ, 2011)
2.2 MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM CỦA HỌ NGÀI CUỐN LÁ
(TORTRICIDAE)
Đây là một trong những họ lớn nhất của bộ Canh vẩy, gồm nhiều loài
gây hại quan trọng cho cây trồng. Cơ thể nhỏ, màu xám hoặc nâu tối và
thường có những băng màu tối hiện diện trên cánh. Cánh trước thường có hình
chữ nhật. Ở trạng thái nghỉ hai cánh xếp thành hình mái nhà trên lưng. Mạch
1A của cánh trước chỉ còn là 1 đoạn ngắn ở phía ngoài mép cánh. Mạch Cu
2
của cánh trước phát xuất từ 1/3 đến 3/4 mép dưới của buồng giữa cánh. Mạch
Sc+R1 của cánh sau tách riêng, không liền với mạch khác. (Nguyễn Thị Thu
Cúc, 2010) 8
2.3.1.1 Tên khoa học
Theo Nguyễn Thị Thu Cúc (2000) thì loài nhíu đọt gây hại cây có múi
ở ĐBSCL là Adoxophyes privatana Walker thuộc họ Tortricidae, bộ Cánh
vẩy (Lepidoptera).
2.3.1.2 Phân bố và ký chủ
A. privatana được ghi nhận phân bố phổ biến tại các nước thuộc châu Á
như Ấn Độ, Malaysia, Singapore, Indonesia, Việt Nam, …
Tại ĐBSCL, A. privatana được ghi nhận gây hại trên nhiều loại cây
trồng như chôm chôm, sầu riêng, măng cụt, cây có múi (cam, quýt bưởi,
chanh) và đậu phộng (Nguyễn Thị Thu Cúc, 2000). Sâu gây hại bằng cách
nhíu các lá đọt lại với nhau rồi ăn phá bên trong. Sâu hiện diện quanh năm và
mật số thường cao vào các đợt ra chồi non (Nguyễn Thị Thu Cúc, 2000).
Ngoài ra, theo Trương Huỳnh Ngọc (2010), tại ĐBSCL trên cây bòn bon cũng
bị một loài Adoxophyes sp. gây hại.
Theo Hiroshi Kuroko và Angoon Lewvanich (1993), tại Thái Lan
Adoxophyes privatana Walker (Lepidoptera: Tortricidae) được ghi nhận hiện
diện trên chôm chôm, sầu riêng, bưởi, măng cụt, gây hại bằng cách cuốn lá
non.
2.3.1.3 Một số đặc điểm hình thái
Có hiện tượng đa hình thái giữa thành trùng đực và cái A. privatana,
thành trùng đực thường có kích thước nhỏ hơn, nhưng màu sắc sặc sỡ hơn so
với thành trùng cái. Cơ thể (thân cánh) của con đực có màu vàng, trên cánh
trước có những băng cong màu nâu.
Khi đậu, hai cánh trên xếp lại, tạo thành một đốm đen ngay phía dưới
đầu và ngực. Con cái có màu tối hơn con đực, các băng cong trên cánh trước
cũng có màu nhạt hơn. Thành trùng có kích thước nhỏ, con đực có sải cánh
rộng 16,5 mm, con cái có sải cánh rộng 18 mm. Ấu trùng khi phát triển đầy đủ
dài khoảng 14 mm, đầu màu vàng, mặt lưng cơ thể có màu xanh đen, mặt
bụng có màu xanh nhạt hơn. Sâu trưởng thành nhả tơ, kết lá và hóa nhộng
ngay trên lá. Nhộng màu nâu nhạt dài khoảng 10 - 11 mm (Nguyễn Thị Thu
trùng thay đổi từ 7-15 ngày. Giai đoạn tiền nhộng khoảng 1-3 ngày. Nhộng
được nằm bên trong kén từ màu sáng nâu đến màu nâu sẫm. Thành trùng sống
khoảng 1-2 tuần sau khi hóa nhộng và chỉ hoạt động vào ban đêm. Trứng được
đẻ thành từng cụm, vị trí khối trứng ở thân, nhánh chính có cành nhỏ của cây.
Khối trứng có khoảng 16-137 trứng, trung bình khoảng 50 trứng. Trứng của
Archips rosanus có giai đoạn ngủ đông nên thường trứng cũng có phần không
♀
♀
♂
♂
A
B