Bộ giáo dục và đào tạo
trờng đại học nông nghiệp I
nguyễn thị thu hà Nghiên cứu một số đặc điểm hình thái, sinh học, sinh thái
học và thử nghiệm biện pháp phòng trừ ngài thóc
(Sitotroga cerealella Oliv.) gây hại thóc bảo quản đổ rời
trong kho Dự trữ Quốc gia khu vực Hà Sơn Bình Luận văn thạc sĩ nông nghiệp
Chuyên ngành: bảo vệ thực vật
Mã số: 60.62.10
Ngời hớng dẫn khoa học: gs.ts. nguyễn viết tùng
Hà Nội - 2007
Trng i hc Nụng nghip H Ni Lun vn thc s khoa hc Nụng nghip i
Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn
này là trung thực và cha hề đợc sử dụng để bảo vệ một học vị nào.
Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn
đã đợc cám ơn và các thông tin trích dẫn đã đợc chỉ rõ nguồn gốc.
Nguyễn Thị Thu Hà
Trng i hc Nụng nghip H Ni Lun vn thc s khoa hc Nụng nghip iii
Mục lục
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục chữ viết tắt v
Danh mục các bảng vi
Danh mục các đồ thị viii
1. Mở ĐầU 1
1.1. Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2. Mục đích và yêu cầu nghiên cứu của đề tài 4
1.2.1. Mục đích 4
1.2.2. Yêu cầu nghiên cứu 4
1.3. ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 4
1.4. Đối tợng và phạm vi nghiên cứu 4
2. Tổng quan tài liệu 5
2.1. Đặc điểm tình hình dự trữ lơng thực ở Việt Nam 5
2.2. Đặc điểm hệ sinh thái trong kho bảo quản 6
2.2.1. Môi trờng vô sinh 6
2.2.2. Môi trờng hữu sinh 9
2.3. Nghiên cứu thành phần loài côn trùng trong kho hạt ngũ cốc dự trữ 10
2.4. Nghiên cứu thiệt hại do côn trùng gây ra đối với hạt ngũ cốc dự trữ 12
2.5. Mức độ nguy hại của các loài côn trùng hại thóc bảo quản 15
2.6. Nghiên cứu về đặc điểm hình thái, sinh học, sinh thái học của ngài
thóc
cerealella O.), mọt gạo (Sitophilus oryzae L.) và mọt đục hạt nhỏ
(Rhizopertha dominica F.)
65
4.2.7. Tìm hiểu sự ảnh hởng của thuỷ phần hạt đến khả năng phát triển
quần thể của ngài thóc
95
Trng i hc Nụng nghip H Ni Lun vn thc s khoa hc Nụng nghip v
4.2.8. Tìm hiểu khả năng tiêu thụ vật mồi của bọ xít bắt mồi (Xylocoris
flavipes R)
96
4.2.9. Biện pháp phòng trừ ngài thóc bằng thuốc hoá học 98
4.2.10. Biện pháp cơ lý (dùng vợt điện diệt muỗi) để bắt ngài thóc trong
kho thóc bảo quản đổ rời
102
5. Kết luận và kiến nghị 105
5.1. Kết luận 105
5.2. Kiến nghị 108
Tài liệu tham khảo 109
Phụ lục 116 Trng i hc Nụng nghip H Ni Lun vn thc s khoa hc Nụng nghip vi
Danh mục chữ viết tắt
ACIAR
Bảng 4.2. Diễn biến mật độ quần thể của ngài thóc (Sitotroga cerealella
Oliv) trong kho cuốn tại Tổng kho Thanh Oai DTQGKV Hà
Sơn Bình
46
Bảng 4.3. Diễn biến mật độ quần thể của ngài thóc (Sitotroga cerealella
Oliv) trong kho A
1
tại Tổng kho ứng Hoà DTQGKV Hà Sơn
Bình
47
Bảng 4.4. Kích thớc (trung bình) trứng, sâu non , nhộng và trởng thành
của ngài thóc
50
Bảng 4.5. Thời gian phát triển cá thể của ngài thóc 56
Bảng 4.6. Mối quan hệ giữa nhiệt độ và hoạt động sinh sản của ngài thóc 59
Bảng 4.7. Nhịp điệu sinh sản của ngài thóc 60
Bảng 4.8. Tần xuất bắt gặp ngài thóc trong hạt lúa ở giai đoạn cận thu hoạch 63
Bảng 4.9. Tính lựa chọn kí chủ của ngài thóc trên các giống lúa khác nhau 64
Bảng 4.10. So sánh mức độ hao hụt trọng lợng thức ăn do ngài thóc
(Sitotroga cerealella O.), mọt gạo (Sitophilus oryzae L.) và mọt
đục hạt nhỏ (Rhizopertha dominica F.) gây ra
67
Bảng 4.11 Mức độ tăng trởng quần thể của ngài thóc ở các thuỷ phần
hạt khác nhau
95
Bảng 4.12. Khả năng tiêu thụ trung bình của trởng thành bọ xít bắt mồi
với vật mồi là trứng, sâu non, nhộng của ngài thóc
97
Bảng 4.13. Hiệu lực của thuốc GCJ 25 DP với ngài thóc 99
Bảng 3.14 Hiệu lực của thuốc Sumithion 50 EC với ngài thóc 100
Hình4.6. Thóc bị mọt đục hạt nhỏ gây hại sau 3 tháng bảo quản
Hình 4.7. Thóc bị ngài thóc (S.cerealella O.) gây hại sau 3 tháng và 6 tháng
bảo quản
Trng i hc Nụng nghip H Ni Lun vn thc s khoa hc Nụng nghip 1
1. Mở đầu
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam là một quốc gia đã có những cố gắng vợt bậc đa tổng sản
lợng lơng thực từ 11,2 triệu tấn vào những năm 60 của thế kỷ trớc lên tới
31,8 triệu tấn vào năm 1998). Tổng sản lợng lơng thực của Việt Nam đã
tăng 19% từ 1996 đến 2000. Năm 2000, Việt Nam sản xuất 32,6 triệu tấn lúa,
trong khi năm 1996 chỉ sản xuất 26,4 triệu tấn - tăng 23% trong vòng 4 năm.
Nhờ đó, sản lợng lúa bình quân một nhân khẩu đã tăng từ 361 kg năm 1996
lên 419 kg vào năm 2000 [20]. Nhất là trong những năm gần đây, nền nông
nghiệp nớc ta đặc biệt là ngành sản xuất thóc gạo đã có những bớc tiến
quan trọng. Nhờ áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, chúng
ta không những thoả mãn nhu cầu tiêu dùng trong nớc mà còn d một lợng
gạo xuất khẩu (3,5 triệu tấn năm 1997). Theo đánh giá của FAO, năm 1996
Việt Nam là nớc xuất khẩu gạo thứ 2 trên toàn thế giới sau Thái Lan. Việc
xuất khẩu gạo góp phần thu một lợng ngoại tệ lớn cho đất nớc (830 triệu
USD/ năm tơng đơng 1/2 sản lợng của ngành dầu khí [20]. Tuy nhiên, trong
điều kiện khí hậu nhiệt đới nóng ẩm, ma nhiều ở nớc ta là những điều kiện lý
tởng cho côn trùng, nấm mốc phát triển mạnh làm cho tỷ lệ tổn thất sau thu
hoạch vẫn còn khá cao. Trong khi chúng ta nỗ lực vợt qua rất nhiều khó khăn
gian khổ để phấn đấu cho những mùa màng bội thu ở công đoạn trớc thu
hoạch. Nh chúng ta đã biết, để tăng đợc 1% sản lợng lơng thực con ngời
phải đầu t nhiều thời gian, tiền bạc trong khi chúng ta lại quên đi những mất
mát xảy ra ở công đoạn sau thu hoạch. Đó là sự h
hỏng về chất lợng ở công
trực tiếp và cơ bản nhất. Các loài sâu mọt phá hoại lơng thực, thực phẩm, hạt
giống này khá phức tạp và thờng xuyên biến động. Chúng chỉ là những côn
Trng i hc Nụng nghip H Ni Lun vn thc s khoa hc Nụng nghip 3
trùng nhỏ bé nhng lại có sức phá hại nghiêm trọng làm ảnh hởng đến số
lợng và chất lợng bảo quản.
Sâu mọt hại kho gây nên những tổn thất lớn về nhiều mặt: Tổn thất về
số lợng, giảm sút về chất lợng làm hàng hoá không những bị biến chất, gây
thiệt hại lớn về kinh tế, mà còn gây bệnh cho ngời và gia súc khi sử dụng
nông phẩm hoặc trực tiếp truyền bệnh cho ngời và gia súc. Chính vì lẽ đó,
trong những năm gần đây, nhiều nhà khoa học về lĩnh vực côn trùng học, sinh
thái học, bảo vệ thực vật và bảo quản trong nớc đã quan tâm đến việc nghiên
cứu ảnh hởng của sâu mọt hại đến chất lợng nông sản và các biện pháp
phòng trừ chúng, đặc biệt là đối với hạt làm lơng thực. Các tác giả trong lĩnh
vực này đã thu đợc một số kết quả hứa hẹn về mặt lý thuyết cũng nh thực
tiễn, góp phần xây dựng những quy trình bảo quản hợp lý cho từng đối tợng
bảo quản.
Dịch hại kho tàng có thể bao gồm hai nhóm gây hại nguyên phát và thứ
phát. Theo kết quả điều tra của Cục Bảo vệ thực vật từ năm 1996 2000, một
trong những loài gây hại nguyên phát và phân bố rộng rãi ở Việt Nam phải kể
đến loài ngài thóc Sitotroga cerealella Oliv. nó có mặt cả trong kho và ngoài
đồng trớc khi thóc đa vào bảo quản.
Do đó những nghiên cứu về loại dịch hại rất cần thiết. Để góp phần vào
việc làm giảm tỷ lệ tổn thất trong quá trình bảo quản, đồng thời để có đầy đủ
cơ sở dữ liệu và đề xuất những giải pháp phòng trừ phòng trừ có hiệu quả
chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: Nghiên cứu một số đặc điểm hình thái,
sinh học, sinh thái học và thử nghiệm biện pháp phòng chống ngài thóc
(S.cerealella O.) gây hại thóc bảo quản đổ rời trong kho Dự trữ Quốc gia khu
vực Hà Sơn Bình.
Trng i hc Nụng nghip H Ni Lun vn thc s khoa hc Nụng nghip 4
Ngành Dự trữ Quốc gia thực hiện một nhiệm vụ chính trị đặc biệt quan
trọng là đảm bảo an ninh lơng thực quốc gia, lợng thóc và gạo dự trữ thuộc
ngành Dự trữ quản lý là rất lớn theo đề án chiến lợc DTQG giai đoạn 2010 2020
trình Chính Phủ, hiện tại và nhũng năm tiếp theo chúng ta vẫn giữ nguyên số
lợng lơng thực bảo quản khoảng 200.000 tấn, tiếp đến khoảng 800.000
tấn phấn đấu đến năm 2020 đạt đợc 1.200.000 tấn. Tổng lợng thóc gạo
phải đủ để phục vụ yêu cầu cấp bách của Quốc gia khi xảy ra thiên tai
hoặc chiến tranh.
Phơng thức dự trữ thóc thuộc ngành DTQG ở Miền Bắc, Miền Trung
và Miền Nam không giống nhau. ở Miền Nam, thóc đợc bảo quản theo hình
thức đóng bao; trong khi đó ở Miền Bắc, Miền Trung bảo quản theo phơng
thức đổ rời. Hệ thống kho tàng bảo quản thóc và gạo thuộc ngành DTQG khá
đầy đủ và phân bố đều tại các vùng trong cả nớc. Tuy nhiên, quy mô kho nhỏ
lẻ một số kho đã bị xuống cấp nghiêm trọng và không đảm bảo chất lợng
thóc và gạo bảo quản. Hầu hết cán bộ kỹ thuật và thủ kho bảo quản lơng thực
thuộc ngành DTQG đều đã đợc đào tạo về kỹ thuật bảo quản lơng thực,
nhng có rất ít cán bộ đạt trình độ đại học và sau đại học chuyên ngành về bảo
vệ thực vật hoặc bảo quản nông sản.
Ngành DTQG đã ban hành một số quy định tiêu chuẩn kỹ thuật về chất
lợng thóc gạo dự trữ và phòng trừ côn trùng gây hại (Cục Dự trữ Quốc gia
QĐ số 34/2004 của Bộ Tài chính) [3,4,5] để thực hiện thống nhất trong toàn
ngành. Nhờ đó đã phần nào hạn chế đợc thiệt hại do côn trùng và gặm nhấm
gây ra đối với thóc gạo dự trữ trong kho.
Trng i hc Nụng nghip H Ni Lun vn thc s khoa hc Nụng nghip 6
Tuy nhiên do khó khăn về kinh phí bảo quản và nhất là kiến thức của
các thủ kho về côn trùng hại kho, về biện pháp phòng trừ côn trùng gây hại rất
hạn chế, do vậy thiệt hại do côn trùng gây ra đối với thóc dự trữ vẫn còn cao.
2.2. Đặc điểm hệ sinh thái trong kho bảo quản
Trong quá trình bảo quản, hạt thờng bị tác động nhiều yếu tố khác
trùng chỉ hoạt động trong phạm vi nhiệt độ hữu hiệu có một khoảng nhiệt độ
thích hợp nhất cho các hoạt động sống xảy ra một cách thuận lợi. Theo Howe
(1965) [52] hầu hết các loài sâu mọt gây hại trong kho bảo quản nông sản
ngừng phát triển ở nhiệt độ < 20
0
C, trừ loài Sitophilus granarius có thể phát
triển ở 15
0
C, ve bét ngừng phát triển khi nhiệt độ ở 2
0
C.
2.2.1.2 Thuỷ phần
Thuỷ phần đợc quan niệm là hàm lợng nớc tự do có trong hàng hoá,
mà hàng hoá này đã bị côn trùng xâm nhiễm, nên ảnh hởng của thuỷ phần đến
sự phát triển của côn trùng cũng tơng tự nh nhiệt độ. ở nhiệt độ thấp hoặc cao
thì tốc độ phát triển quần thể sẽ thấp, còn ở thuỷ phần cực thuận lợi thì tốc
độ đạt mức cao nhất [10]. Theo Werren (1956) và Shakjahan (1974) [56]:
Khi thuỷ phần hạt tăng lên từ 14 - 17% thì thời gian phát dục pha nhộng,
pha sâu non của ngài thóc (Sitotroga cerealella O.) sẽ giảm xuống 3 ngày;
mọt Rhizopertha dominica Fabr sẽ phát triển khi thủy phần hạt đạt trên
10,3% (Prevert, 1985) [57].
2.2.1.3. ánh sáng
ánh sáng có vai trò rất quan trọng đối với đời sống sâu mọt hại, vì ánh
sáng có ảnh hởng trực tiếp đến các quá trình lý hoá học và cả quá trình sinh
lý, thói quencủa sâu hại. Tính cảm thụ thị giác và nhiều đặc tính về đời
sống có liên quan đến cờng độ chiếu sáng và tính chất của tia sáng. Theo
Pulianen thì sự phản ứng đối với ánh sáng của sâu hại còn phụ thuộc vào độ
ẩm và nhiệt độ của không khí. Cờng độ phản ứng dơng (hớng quang) của
Trng i hc Nụng nghip H Ni Lun vn thc s khoa hc Nụng nghip 8
mất dài ngày hơn, có khi ngừng phát dục. Thậm chí khi thức ăn hoàn toàn
không thích hợp thì hầu hết sâu mọt gây hại sẽ bị chết, do đó không thể phát
triển đợc về mặt số lợng [32].
2.2.2. Môi trờng hữu sinh
Môi trờng hữu sinh bao gồm sự liên kết giữa sâu mọt sống trong kho
với nhau cũng nh sâu mọt với sinh vật khác trong kho. Sự tác động qua lại
giữa chúng với nhau cũng nh giữa chúng với nấm mốc, ve, bét, tuyến
trùng cùng chung sống trong môi trờng sinh thái bảo quản.
+ Cạnh tranh cùng loài:
Cạnh tranh cùng loài là một nhân tố quan trọng trong quần thể, khiến
các quần thể này tự điều chỉnh số lợng. ảnh hởng của cạnh tranh trong loài
luôn đợc xem nh quá trình phụ thuộc vào nhiệt độ. Ví dụ, sự cạnh tranh
thức ăn có thể gây nên tỷ lệ chết phụ thuộc vào mật độ, làm giảm sức sinh sản
hoặc dẫn đến tình trạng di c. Nicholson (1954), Warley (1957) phân biệt hai
loại cạnh tranh cùng loài khác nhau với tên gọi Cạnh tranh đối kháng và
Cạnh tranh tàn bạo [26].
+ Cạnh tranh khác loài
Trong thiên nhiên các cá thể trong quần thể có sự phân bố một cách
ngẫu nhiên, phân bố đồng đều hoặc thành từng nhóm. Phân bố đồng đều chỉ
gặp trong môi trờng rất đồng nhất; phân bố đồng đều có thể gặp ở những nơi
mà các quần thể có cạnh tranh trong loài gay gắt; còn phân bố theo nhóm là
dạng phổ biến chính. Cạnh tranh khác loài đợc thể hiện thấy rõ khi trong kho
có vừa có sâu mọt hại và côn trùng bắt mồi. Khi hai loài cạnh tranh vì một
nguồn dự trữ nào đó thì kết quả cuối cùng, trong số đó có một loài sống sót,
còn loài kia thì biến mất, nhng trong vài trờng hợp cũng có kết quả cùng
chung sống. Sự cạnh tranh khác loài là mối quan hệ tơng hỗ bất kỳ giữa hai
Trng i hc Nụng nghip H Ni Lun vn thc s khoa hc Nụng nghip 10
hay nhiều quần thể và đó cũng là quan hệ gây hại cho sự tăng trởng và sống
sót của chúng [26].
Minh Tú, 2005) [32].
Theo Nakakita Hiroshi et al (1991), đã xác định đợc 36 loài côn trùng
thuộc 17 họ của 2 bộ gây hại trong kho thóc và gạo bảo quản tại Thái Lan [55].
Các loài ngài trong bộ cánh vảy hại ngũ cốc đợc phát hiện ở vùng
Đông Nam á gồm 16 loài trong đó ngài thóc (S.cerealella O.) và ngài gạo
Corcyra cephalonica Stainton là hai loài gây hại rất mạnh và có mặt ở tất cả
các kho Dự trữ [55].
ở Việt Nam công tác nghiên cứu thành phần côn trùng hại kho cũng có
nhiều kết quả ghi nhận.
Những công bố đầu tiên có thể kể đến nh kết quả điều tra côn trùng
hại kho ở miền Bắc Việt Nam của Đinh Ngọc Ngoạn (1964) [32], thành phần
côn trùng gây hại trong kho lơng thực của Vũ Quốc Trung (1978) [33], kết
quả điều tra côn trùng kho lơng thực ở các tỉnh miền Bắc và miền Nam sau
giải phóng 1975 của Bùi Công Hiển và cộng sự (1980) [11].
Kết quả điều tra thành phần côn trùng trong kho ở Việt Nam công bố
1996 của Nguyễn Thị Giáng Vân và cộng sự (1996) [41], cho thấy đã ghi
nhận đợc 110 loài côn trùng, chỉ tính riêng trong kho thóc dự trữ, các tác giả
đã ghi nhận đợc 23 loài côn trùng gây hại trong kho thóc dự trữ đổ rời thuộc
14 họ của 3 bộ, trong đó có 4 loài thuộc nhóm gây hại sơ cấp và 19 loài thuộc
nhóm gây hại thứ cấp.
Theo kết quả điều tra thành phần sâu mọt hại kho thóc năm 1993 của
Nguyễn Thị Vân, Lơng Thị Hải, Tống Mai San (Cục BVTV) tiến hành ở 28
tỉnh trong cả nớc đã phát hiện thấy 60 loài mọt thuộc bộ cánh cứng, hơn 10
loài thuộc bộ cánh vẩy và một số loài khác [42].
Trng i hc Nụng nghip H Ni Lun vn thc s khoa hc Nụng nghip 12
Theo kết quả nghiên cứu của Bùi Minh Hồng, Hà Quang Hùng (2004),
về thành phần sâu mọt và thiên địch trong kho bảo quản đổ rời ở kho dự trữ
Quốc Gia khu vực Hà Nội và phụ cận. Số loài sâu mọt gồm 15 loài thuộc 11
họ,3 bộ. Bộ Coleoptera chiếm 86,6%, bộ Lepidoptera và bộ rận sách
Theo Sawhney K.L (1988), ở ấn Độ ớc tính thiệt hại do côn trùng gây
ra là 2,55% [48].
ở Mỹ hàng năm thiệt hại sau thu hoạch ớc tính là 5 tỷ USD chủ yếu là
do côn trùng gây ra (Phillips Tom, 2002) [46].
Subrahmanyan (1962), cho biết tổng lợng lơng thực của thế giới đã
có thể tăng lên 25-30% nếu chúng ta đã có thể tránh đợc mất mát sau thu
hoạch (dẫn theo Snelson, 1987) [62].
Bakal (1963), đánh giá sự mất mát hàng năm do chuột, côn trùng và
nấm mốc gây ra là 33 triệu tấn. Lợng lơng thực này đủ để nuôi sống ngời
dân nớc Mỹ trong một năm (dẫn theo Snelson, 1987) [62].
Kết quả nghiên cứu của các tác giả Mỹ về mất mát ngũ cốc sau thu
hoạch vào năm 1967 ở các nớc công nghiệp phát triển lên đến 42 triệu tấn
tức bằng 95% tổng sản lợng thu hoạch của Canada, hay bằng gấp đôi sản
lợng lơng thực của nớc ta trong năm 1992 [46].
Hall (1970), cho biết các nớc Mĩ La tinh, thiệt hại đợc đánh giá vào
khoảng 25 - 50% đối với riêng các mặt hàng ngũ cốc và đậu đỗ, còn ở châu
Phi, thiệt hại vào khoảng 30%. ở khu vực Đông Nam châu á những năm qua
đã xảy ra một số dịch hại lớn do côn trùng gây ra đối với ngũ cốc, làm tổn thất
trên 50% [50].
Cogburl (1975), đã thí nghiệm để đánh giá sự hao hụt trọng lợng của
thóc trong quá trình bảo quản và kết luận rằng một con ngài cái (S. cerealella O.)
mang trứng có thể phá huỷ hoàn toàn 50g thóc bảo quản sau 3 thế hệ [10].
Trng i hc Nụng nghip H Ni Lun vn thc s khoa hc Nụng nghip 14
Moore và cộng sự (1966), đã nghiên cứu sự mất mát do ngài thóc
(S. cerealella O.) gây ra, nhận thấy để hoàn thành một vòng đời ở bên trong hạt,
trung bình một cá thể ngài đã sử dụng 32,9 mg trọng lợng hạt, tạo ra tỷ lệ thiệt
hại về trọng lợng là 10,35% (dẫn theo Bùi Công Hiển, 1995) [10].
Malek và cộng sự (1989), làm thí nghiệm với mức độ thiệt hại của các
loài S. cerealella O., Rhizopertha dominica Fabr, Corcyra cephalonica,
chỉ còn 66kg (Trung tâm nghiên cứu về hao hụt vật liệu kê lót che phủ trong
kho dự trữ Quốc Gia, Tổng Cục Dự trữ Quốc Gia,1982) [36].
Theo kết quả điều tra của PTS Trần Minh Tâm về tình hình sâu mọt hại
kho thóc bảo quản đổ rời thuộc Dự trữ Quốc gia khu vực Hà Sơn Bình cho
thấy: Mật độ ngài ở các kho biến động từ 100 - 150 con/m
2
. Số sâu mọt ở các
kho rất cao, nếu tính tổng số thì mật độ biến động từ 76 - 110 con/kg. Với mật
độ sâu mọt này đã dẫn đến tỷ lệ hạt bị hại khá lớn. Nhiều hạt thóc bị sâu hại
đục thủng, ăn gần hết phần tinh bột hoặc phá phôi. Tính đến ngày điều tra
23/10/1990 ở kho Tam Hng (Bình Đà), thóc sau 2 năm bảo quản thì tỷ lệ hạt
bị hại là 21,4% và ở kho Kim Bài, thóc sau 6 tháng bảo quản thì tỷ lệ hạt bị
hại là 2,3%. Nh vậy thóc bảo quản càng lâu thì tỷ lệ hạt bị hại càng cao. Sau
thời gian bảo quản từ 6 tháng đến 2 năm, tỷ lệ hạt bị hại đã tăng lên 9 lần [27].
ở nớc ta lúa thu hoạch vụ chiêm và vụ đông xuân thờng có mật độ
ngài thóc (S. cerealella O.) cao hơn vụ mùa, ở các kho công tác phòng trừ sâu
hại không tốt, ở lớp mặt dày 20 - 30cm, có tới 40% - 60% số hạt bị gây hại. Bình
thờng trọng lợng 1000 hạt thóc nặng 23 - 27g, nhng ở những hạt bị hại trọng
lợng hạt chỉ nặng khoảng 15 - 17g (dẫn theo Vũ Quốc Trung, 1978) [33].
2.5. Mức độ nguy hại của các loài côn trùng hại thóc bảo quản
Mức độ gây hại của côn trùng hại thóc bảo quản đợc đánh giá dựa vào
sự phá hoại hoặc phần trăm thiệt hại do từng loài côn trùng gây ra. Ngài
Sitotroga cerealella Oliv., Rhizopertha dominica Fabr., Sitophilus oryzae và
Corcyra cephalonica là những loài sâu hại chủ yếu trên thóc bảo quản.
Ngài thóc (S. cerealella O.) là loại sâu gây hại hạt ngũ cốc nguyên vẹn,
đặc biệt là thóc, gạo, bắp, kê Trong kho thóc ngài thóc (S. cerealella O.)
thờng đợc xếp đứng đầu danh mục những loài côn trùng hại thóc bảo quản chủ