TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA MÔI TRƯỜNG VÀ TÀI NGYÊN THIÊN NHIÊN
BỘ MÔN KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG
NGUYỄN THỊ LAN ANH LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
CHUYÊN NGÀNH KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG ĐẶC ĐIỂM LÝ, HÓA BÙN ĐÁY
TRÊN CÁC KÊNH RẠCH CHÍNH Ở
QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Cán bộ hướng dẫn: Ths. DƯƠNG TRÍ DŨNG
QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Cán bộ hướng dẫn: Ths. DƯƠNG TRÍ DŨNG
Cần Thơ, 12/2013
i
PHÊ DUYỆT CỦA HỘI ĐỒNG
Luận văn kèm theo đây với tựa đề “Đặc điểm lý, hóa bùn đáy trên các kênh
rạch chính ở quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ” do Nguyễn Thị Lan Anh
thực hiện và báo cáo đã được hội đồng chấm luận văn thông qua.
PGS.TS. Bùi Thị Nga Ths. Nguyễn Công Thuận
MỤC LỤC
Trang
MỤC LỤC 1
CẢM TẠ 3
TÓM LƯỢC 4
Chương 1: MỞ ĐẦU 4
1.1 Đặt vấn đề 4
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 5
1.2.1 Mục tiêu tổng quát 5
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 5
1.3 Nội dung thực hiện 5
Chương 2: LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 6
2.1 Sơ lược về thành phố Cần Thơ 6
2.1.1 Vị trí địa lý 6
2.1.2 Địa hình 7
2.1.3 Khí hậu 7
2.1.4 Thủy văn 8
2.1.5 Tài nguyên đất 8
2.1.6 Tài nguyên nước 9
2.1.7 Tài nguyên sinh vật 9
a. Thực vật 9
b. Động vật 10
2.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 10
2.3 Hiện trạng chất lượng môi trường nước tại thành phố Cần Thơ 10
2.4 Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng bùn đáy 11
2.4.1 Thành phần cơ giới của đất (Sa cấu đất) 11
2.4.2 pH 14
2.4.3 Chất hữu cơ 14
2.4.4 Tổng đạm (TN) 15
2.4.5 Tổng lân (TP) 16
4.2.2 pH 29
4.2.3 Chất hữu cơ (CHC) 30
4.2.4 Đạm tổng số (TN) 30
4.2.5 Lân tổng số (TP) 31
4.3 Đặc điểm lý, hóa bùn đáy của rạch Cái Sơn 31
4.3.1 Thành phần cơ giới của nền đáy 31
a. Tỉ lệ cát trong nền đáy 32
b.Tỉ lệ sét trong nền đáy 33
c.Tỉ lệ thịt trong nền đáy 33
4.3.2 pH 34
4.3.3 Chất hữu cơ (CHC) 34
4.3.4 Đạm tổng số (TN) 35
4.3.5 Lân tổng số (TP) 36
4.4 Tính chất bùn đáy tại rạch Cái Khế, Đầu Sấu và Cái Sơn 36
Chương 5: KẾT LUẬN - KIẾN NGHỊ 37
5.1 Kết luận 37
5.2 Kiến nghị 38
TÀI LIỆU THAM KHẢO 38
Phụ lục 1: Kết quả phân tích các chỉ tiêu chất lượng bùn đáy 43
v
DANH MỤC HÌNH
Trang
Hình 2.1: Bản đồ hành chính Thành phố Cần Thơ 3
Hình 2.2: Tam giác sa cấu (USDA/ Soil Taxonomy) (nguồn: Lê Văn Khoa và Trần
Bá Linh, 2000) 10
Hình 3.1: Sơ đồ vị trí thu mẫu rạch Cái Khế 16
Hình 3.2: Vị trí thu mẫu rạch Đầu Sấu và rạch Cái Sơn 17
Hình 4.1: Tỉ lệ cát trong nền đáy tại các địa điểm khảo sát ở rạch Cái Khế 22
Hình 4.2: Tỉ lệ sét trong nền đáy tại các địa điểm khảo sát ở rạch Cái Khế 22
Hình 4.3: Tỉ lệ thịt trong nền đáy tại các địa điểm khảo sát ở rạch Cái Khế 23
Hình 4.4: Giá trị pH tại các địa điểm khảo sát ở rạch Cái Khế 24
Hình 4.5: Giá trị CHC tại các địa điểm khảo sát ở rạch Cái Khế 25
Hình 4.6: Giá trị TN các địa điểm khảo sát ở rạch Cái Khế 26
Hình 4.7: Giá trị TP các địa điểm khảo sát ở rạch Cái Khế 26
Bảng 4.1: Hàm lượng cát, thịt, sét trong thành phần cơ giới của bùn đáy ở các địa
điểm khảo ở rạch Cái Khế 21
Bảng 4.2: Hàm lượng cát, thịt, sét trong thành phần cơ giới của bùn đáy ở các địa
điểm khảo ở rạch Đầu Sấu 27
Bảng 4.3: Hàm lượng cát, thịt, sét trong thành phần cơ giới của bùn đáy ở các địa
điểm khảo ở rạch Cái Sơn 32
Bảng 4.4: Biến động giá trị của các chỉ tiêu lý, hóa bùn đáy tại các rạch khảo sát 37
vii
TÓM LƯỢC
Đề tài “Đặc điểm lý, hóa bùn đáy trên các kênh rạch chính ở quận Ninh
Kiều, thành phố Cần Thơ” được tiến hành thực hiện từ tháng 6/2013 đến tháng
11/2013 nhằm đánh giá chất lượng và mức độ ô nhiễm bùn đáy trên một số kênh
rạch chính trong nội ô tại 15 vị trí khảo sát dọc theo 3 tuyến rạch Cái Khế, Đầu Sấu,
Cái Sơn qua 2 đợt thu mẫu.
Kết quả nghiên cứu cho thấy bùn đáy của các kênh rạch khảo sát có tỉ lệ cát, thịt
và sét dao động lần lượt là 2,64 - 77,4%; 15,7 - 65,9%; 6,91 - 39%; giá trị pH dao
động trong khoảng 6,06 - 7,34; hàm lượng chất hữu cơ chiếm 2,47 - 8,86%C; hàm
lượng TN từ 0,07 - 0,29%N và hàm lượng TP dao động trong khoảng 0,09 -
0,41%P
2
O
5
. Các chỉ tiêu khảo sát ở đầu mùa mưa và cuối mùa mưa của các rạch ít
biến động. Tất cả các rạch khảo sát đều có hàm lượng chất hữu cơ rất cao, nhất là
rạch Đầu Sấu.
Nguồn gây ô nhiễm chính cho các rạch khảo sát chủ yếu là chất thải sinh hoạt
của các chợ, của các hộ dân sống ven rạch và ghe xuồng neo đậu trong lòng rạch;
ngoài ra còn có chất thải từ các nhà máy tiểu thủ công nghiệp và nước thải từ các
trong những con rạch chính dài nhất tại thành phố Cần Thơ hiện nay là nơi phải tiếp
nhận nguồn chất thải từ dân cư ven rạch, từ việc buôn bán trên khu chợ (chợ Cái
Khế và chợ An Nghiệp), nước thải đô thị, Theo kết quả quan trắc chất lượng nước
tại thành phố Cần Thơ trong vòng 3 năm: 2008, 2009, 2010 trên rạch Cái Khế, các
chỉ tiêu BOD, COD, Coliform đều không đạt QCVN 08: 2008/BTNMT, chủ yếu ô
nhiễm hữu cơ (Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố Cần Thơ, 2011). Với kết
quả khảo sát động vật nổi trên rạch Cái Khế vào mùa khô năm 2010 cho thấy hầu
hết các loài động vật nổi đã phát hiện được đều là những loài sống trong thủy vực
giàu hữu cơ (Dương Trí Dũng, 2011). Rạch Đầu Sấu và rạch Cái Sơn trước đây
rộng 9-10m, đến nay lòng rạch đã bị thu hẹp có đoạn lòng rạch chỉ còn 4-5m do sự
lấn chiếm của người dân sống ven sông rạch cùng với rác thải sinh hoạt từ các hộ
dân thải ra môi trường.
Việc xả rác thải và nước thải chưa được xử lý mang theo nhiều cặn bã hữu cơ và
vô cơ từ các căn nhà ven sông, từ khu chợ hoặc khu công nghiệp vào trong kênh
rạch nội ô thành phố đã gây ra ô nhiễm môi trường nước, đồng thời, theo thời gian
lắng đọng xuống nền đáy sẽ gây ra hiện tượng bùn lắng và bùn đáy. Sự tích tụ chất
hữu cơ vào các con rạch này làm cho bùn đáy thường chứa hàm lượng chất hữu cơ
dạng thô rất cao đang trong quá trình phân huỷ. Đặc biệt với mức độ phát triển
nhanh chóng của dân số ở thành phố Cần Thơ thì tình trạng ô nhiễm sẽ ngày càng
trở nên trầm trọng hơn và ảnh hưởng đến cảnh quan đô thị của thành phố.
Ô nhiễm bùn đáy hiện nay là một trong những vấn đề đáng được quan tâm vì nó
có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến hệ sinh thái thuỷ vực, thay đổi cấu trúc và thành
phần loài, đặc biệt là động vật đáy (Đặng Ngọc Thanh và ctv., 2002; Dương Trí
Dũng và ctv., 2007). Việc xác định đặc điểm bùn đáy và đánh giá mức độ ô nhiễm
của bùn đáy các thủy vực trên là yêu cầu bức thiết cho công tác quản lý và giảm
thiểu ô nhiễm môi trường. Tuy nhiên, hiện nay thành phố Cần Thơ vẫn chưa có
nhiều nghiên cứu đánh giá chất lượng và mức độ ô nhiễm bùn đáy trên một số kênh
2
rạch chính trong nội ô. Do vậy, đề tài “Đặc điểm lý, hóa bùn đáy trên các kênh rạch
3
Chương 2: LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU
2.1 Sơ lược về thành phố Cần Thơ
2.1.1 Vị trí địa lý
Thành phố Cần Thơ có địa hình bằng phẳng hơi nghiêng theo các chiều: cao từ
Đông Bắc thấp dần xuống Tây Nam và cao từ bờ sông Hậu thấp dần vào nội đồng,
rất đặc trưng cho dạng địa hình địa phương. Đây là vùng đất có hệ thống sông
ngòi, kênh rạch chằng chịt, cao độ mặt đất phổ biến từ 0,8m - 1m so với mực nước
biển tại mốc quốc gia Hòn Dấu. Cần Thơ có 3 vùng địa mạo chính:
- Khu dòng chảy chính giới hạn bởi 2 bờ sông Hậu hình thành dãy đất cao và các
cù lao giữa sông;
- Vùng đồng lũ thuộc Tứ giác Long Xuyên bao gồm quận Thốt Nốt, Vĩnh
Thạnh, một phần huyện Cờ Đỏ và một phần quận Ô Môn, chịu ảnh hưởng lũ hằng
năm;
- Vùng châu thổ chịu ảnh hưởng triều và tác động của lũ cuối vụ gồm các quận
Ninh Kiều, Bình Thủy, Cái Răng, phần phía Nam của quận Ô Môn và huyện
Phong Điền.
Nằm trong khu vực bồi tụ phù sa hàng năm của sông Mekong, trên bề mặt đất
xuống độ sâu 50m có 2 nhóm trầm tích phù sa mới và phù sa cổ. Nhìn chung đất
phù hợp cho sản xuất nông nghiệp, nhưng không phù hợp cho xây dựng, giao
thông (Trung tâm quan trắc Tài nguyên và Môi trường Cần Thơ, 2010).
2.1.3 Khí hậu
Thành phố Cần Thơ thuộc vùng ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa, khí
hậu nóng ẩm nhưng ôn hòa; có hai mùa rõ rệt trong năm gồm mùa mưa (từ tháng 5
đến tháng 11) và mùa khô (từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau).
Nhiệt độ không khí trung bình tại trạm Cần Thơ trong năm 2011 là 27,2
o
C giảm
0,4
o
C so với năm trước. Tháng có nhiệt độ cao nhất từ tháng 3 đến tháng 4 (28,1-
28,6
o
C); vào tháng 1 nhiệt độ 25,8
và Thốt Nốt lên tới trên 2 km/km
2
. Hệ thống sông rạch chính tại Cần Thơ gồm:
- Sông Hậu: là nhánh phía Tây của sông Mekong trong lãnh thổ Việt Nam, vừa
là nguồn cung cấp nước ngọt chính cho ĐBSCL và Cần Thơ, vừa là ranh giới
tự nhiên của thành phố Cần Thơ với 2 tỉnh Đồng Tháp và Vĩnh Long. Sông Hậu
cũng là thủy lộ Quốc tế cho các tàu đi về Campuchia Sông Hậu là con sông lớn
nhất của vùng với tổng chiều dài chảy qua Cần Thơ là 55 km, tổng lượng nước
sông Hậu đổ ra biển khoảng 200 tỷ m
3
/năm (chiếm 41% tổng lượng nước của sông
Mekong), lưu lượng nước bình quân tại sông Cần Thơ là 14.800 m
3
/giây. Tổng
lượng phù sa của sông Hậu là 35 triệu m
3
/năm (chiếm gần 1/2 tổng lượng phù sa
sông Mekong).
Hệ thống các kênh rạch nhỏ: Rạch Cần Thơ dài 16 km đổ ra sông Hậu tại bến
Ninh Kiều, rạch Bình Thủy, rạch Trà Nóc, rạch Ô Môn, rạch Thốt Nốt, kênh
Cái Sắn, Đây là những kênh rạch lớn dẫn nước từ sông Hậu vào các vùng nội
đồng và nối liền với kênh rạch của các tỉnh lân cận thành phố Cần Thơ, có nước
ngọt quanh năm, vừa có tác dụng tưới nước trong mùa cạn, vừa có tác dụng tiêu
úng trong mùa lũ và có ý nghĩa lớn về giao thông.
(Nguồn Trung tâm quan trắc Tài nguyên và Môi trường Cần Thơ, 2010).
2.1.5 Tài nguyên đất
Thành phố Cần Thơ nằm bên bờ sông Hậu, thường xuyên được bồi đắp phù sa
và có nguồn nước ngọt quanh năm. Đất đai chủ yếu là đất phù sa, về đặc điểm có
thể chia thành 4 loại:
- Đất phù sa ven sông: hình thành do sự bồi đắp phù sa hằng năm của sông Hậu.
phèn.
2.1.6 Tài nguyên nước
Nước ngọt từ sông Hậu, một chi lưu của sông Mekong, rất dồi dào, 200 tỷ
m
3
/năm, nhưng 81% có vào mùa mưa; vào 6 tháng mùa khô (12-5) chỉ có 19% lưu
lượng năm, riêng 3 tháng mùa kiệt (3-5) lưu lượng chỉ có 4% của lưu lượng năm.
Một điều đáng lưu ý là 90% lưu lượng của sông Mekong có nguồn ngoài biên giới
Việt Nam, nên các tỉnh, thành thuộc đồng bằng sông Cửu Long không thể chủ động
tổ chức khai thác sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên này, mà bị ảnh hưởng nhiều từ
các quốc gia thượng nguồn.
-Nước mưa có tổng lượng trung bình khoảng 2,3 tỷ m
3
/năm. Nếu tận dụng chỉ
tạm đủ cho nhu cầu nước của toàn thành phố Cần Thơ 3 tháng mùa kiệt.
-Nước dưới đất có trữ lượng dồi dào, ở các tầng Pleistocene, Pliocen và Miocen,
đều có chất lượng nước tốt. Theo một số nghiên cứu của các chuyên gia đầu ngành
nguồn nước này của Cần Thơ thuộc dạng chôn vùi, được bổ cập rất ít, khi khai thác
sẽ dẫn đến việc cạn kiệt (Nguồn: Trung tâm quan trắc Tài nguyên và Môi trường
Cần Thơ, 2010).
2.1.7 Tài nguyên sinh vật
a. Thực vật
Tài nguyên thực vật của thành phố Cần Thơ không nhiều. Thành phố không có
rừng, ngoại trừ một số vườn sinh thái. Thảm thực vật của thành phố Cần Thơ tập
7
trung trên vùng đất phù sa ngọt, gồm các loại cỏ, rong tảo, trâm bầu, cò ke, sung
vả, dừa nước, rau má, rau dền lửa, rau sam và các loại bèo, lục bình, rong đuôi
chồn, bình bát, Trên vùng đất phèn chủ yếu có các loài tràm, chà là nước, mây
nước, bòng bong, bồn bồn, bình bát, điên điển, lúa ma, sen, bông súng
Nguyên nhân gây ô nhiễm nguồn nước ở các kênh rạch tại Thành phố Cần Thơ
là do:
- Các khu công nghiệp trên địa bàn thành phố chưa có hệ thống xử lý nước thải
tập trung. Có những doanh nghiệp có hệ thống xử lý nước thải nhưng hoạt động
không liên tục. Có doanh nghiệp đặt cống xả nước thải ngầm dưới đất lén lút xả
nước thải ra sông rạch, gây ô nhiễm nguồn nước nghiêm trọng. Theo ông Nguyễn
Ngọc Minh - Giám đốc Sở Công thương thành phố Cần Thơ (2008), thành phố
8
Cần Thơ hiện có 6 khu công nghiệp và trên 6.000 cơ sở công nghiệp, tiểu thủ công
nghiệp. Trong đó, 490 doanh nghiệp sản xuất có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường.
- Tình trạng nuôi trồng thủy sản trên địa bàn thành phố ngày càng phát triển,
nhưng người nuôi không xây dựng ao hồ lắng lọc xử lý nước thải. Nước thải, bùn
đáy ao vẫn xả trực tiếp ra sông rạch, gây ô nhiễm nguồn nước. Đặc biệt là các
lồng, bè nuôi cá trên sông gây ô nhiễm nguồn nước từ chất thải của cá, thức ăn dư
thừa, hóa chất xử lý nước và khi cá bệnh Theo Sổ tay Kinh tế - Xã hội thành phố
Cần Thơ (2009), ước tính thành phố có 12.216 ha ao cá. Với chiều sâu nước ao cá
thực tế biến thiên từ 1,5 đến 4m, ta lấy trung bình là 2m thì lượng nước thay cho ao
cá là hơn 70 triệu m
3
nước/ngày hay gần 27 tỷ m
3
/năm, và nồng độ COD trong
nước thay ao cá lên đến 80 mg/l.
- Một vấn đề nữa là ở các khu đô thị trong nội ô thành phố chưa có hệ thống xử
lý nước thải sinh hoạt, do đó nước thải đổ trực tiếp ra sông rạch, gây ô nhiễm
nguồn nước mặt.
- Bên cạnh đó, người dân chưa có ý thức bảo vệ môi trường, vứt ném rác thải,
các chất độc hại trong sản xuất xuống sông, rạch làm tăng thêm ô nhiễm môi
trường nước
2.4 Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng bùn đáy
2.4.1 Thành phần cơ giới của đất (Sa cấu đất)
Đất tự nhiên bao gồm các kích cỡ hạt khác nhau. Tùy thuộc vào tỉ lệ kích cỡ các
hạt đất mà người ta chia thành đất cát, đất thịt và đất sét. Tỉ lệ tương đối của các loại
hạt riêng lẻ trong đất (cát, thịt, sét) được định nghĩa là sa cấu đất (Lê Văn Khoa,
2000). Đất có tỉ lệ sét chiếm đa số hơn gọi là đất sét; đất chứa thịt nhiều hơn gọi là
đất thịt và chiếm phần trăm cát cao hơn gọi là đất cát. Một loại đất mà không biểu
thị đặc tính vật lý ưu thế nào trong 3 nhóm trên (ví dụ 40% cát, 40% thịt, 20% sét)
thì được gọi là đất thịt nhẹ.
Sa cấu có liên quan đến kích thước của các phần tử hạt trong đất và nó biểu thị
thành phần tương đối các cấp hạt trong một loại đất. Vì kích thước các hạt đất luôn
cố định, do đó nó được xem là một đặc tính cơ bản của đất.
Sa cấu đất có ý nghĩa rất quan trọng liên quan đến nguồn gốc phát sinh và tính
chất phì nhiêu của đất. Các tính chất như: độ xốp, khả năng giữ ẩm, tính thấm, khả
năng giữ khí và nhiệt cũng đều phụ thuộc vào sa cấu đất (Ngô Ngọc Hưng, 2005).
Đất cát thì thông thoáng tốt cho sự phát triển của rễ, dễ thấm nhưng khô nhanh, dễ
mất chất dinh dưỡng. Đất sét nặng (quá 30% sét) có các phân tử đất nhỏ, mịn liên
kết với nhau, khoảng trống giữa các hạt đất rất nhỏ, làm cho nước khó thấm qua
đất sét (Nguyễn Công Thuận trích dẫn của Raymond W.Miller et al., 1995).
Theo Lê Văn Khoa và Trần Bá Linh (2000) để phân cấp sa cấu đất, các nhà khoa
học đã thiết lập ra tam giác sa cấu. Trên cơ sở tam giác này chúng ta có 12 cấp sa
cấu khác nhau (theo USDA/ Soil Taxonomy) tùy thuộc vào tỉ lệ phần trăm của các
loại hạt khác nhau trong đất. Tam giác này chỉ dùng cho các hạt khoáng có kích
thước <2mm. 10
Hình 2.2: Tam giác sa cấu (USDA/Soil Taxonomy)
Thành phần cơ giới được chia thành 12 cấp:
trình hình thành đất. Nguyên nhân là do chúng có thành phần khoáng và hóa học
khác nhau, tính chất vật lý, lý - hóa khác nhau.
- Đá vụn >3mm: là điểm bất lợi của đất. Nếu hàm lượng nhỏ hơn 0,5% thì gọi là
đất không có đá.
- Sỏi (3 – 2mm): thẩm thấu quá lớn, không có khả năng dẫn nước theo mao dẫn,
sức chứa ẩm thấp (<3%).
- Cát (2 – 0,05mm) và bụi thô (0,05 -0,01mm): thẩm thấu cao, không trương nở,
không dẻo, có khả năng dẫn nước theo mao dẫn và khả năng giữ ẩm nhưng không
đáng kể.
- Thịt trung bình (0,05- 0,01mm): có tính dẻo, dính, độ phân tán, có khả năng
giữ nước, tính thấm kém, hầu như chưa tham gia vào quá trình hấp phụ trao đổi.
- Thịt nặng (0,005 – 0,001mm): có tính phân tán cao, thành phần gồm có
khoáng thứ sinh và nguyên sinh, có tính hấp phụ trao đổi cao, có chứa nhiều chất
mùn, có khả năng tạo cấu trúc đất. Nếu nằm ở dạng phân tán thì sẽ làm cho đất có
tính thẩm thấu kém, trương nở cao, dẻo, kết cấu chặt.
- Sét (<0,001mm): chủ yếu là các khoáng thứ sinh có tính phân tán cao, là
thành phần chính trong hấp phụ trao đổi, đóng góp quan trọng trong tạo kết cấu đất.
Thành phần cơ giới là một trong những tính chất quan trọng nhất của đất. Nó
ảnh hưởng lên các tính chất khác của đất, có ý nghĩa quan trọng trong vấn đề quản
lý và sử dụng đất.
Nói chung đất cát có hàm lượng chất hữu cơ thấp và độ phì thấp. khả năng giữ
ẩm và dinh dưỡng cũng kém. Dung lượng hấp phụ thấp và tính đệm kém. Tốc độ
thẩm thấu nhanh.
Khi hàm lượng sét hay thịt trong đất tăng lên thì tính chất của đất cũng được cải
thiện. Thông thường chúng trở nên phì nhiêu hơn, chứa nhiều chất hữu cơ hơn, khả
12
năng hấp phụ và tính đệm cũng tăng lên. Chúng có thể giữ nước tốt hơn, khả năng
thẩm thấu giảm.
Khi thành phần cơ giới cuả đất quá nhiều sét thì đất gây trở ngại cho quản lý và
Hàm lượng chất hữu cơ đất và độ bền cấu trúc đất liên quan chặt chẽ với nhau.
Hàng năm bổ sung xác hữu cơ thực vật đã duy trì có hiệu quả độ bền cấu trúc. Ở
đất không có cacbonat chứa hàm lượng mùn thấp hơn 3,4% thì cấu trúc đất bị suy
giảm nhiều hơn so với đất có chứa 4,3% có cấu trúc bền.
Vùng Tây Nam sông Hậu có hàm lượng chất hữu cơ trung bình từ (2- 4%). Hàm
lượng chất hữu cơ cao ở những vùng trũng thấp và tập trung khá trong vùng trũng
hơi thấp như: Hà Tiên, Hòn Đất, Tân Hiệp, Giồng Riềng (Kiên Giang), Long Mỹ
13
(Hậu Giang), Ngọc Hiển (Cà Mau). Chất hữu cơ có hàm lượng trung bình tập trung
ở những vùng đất phát triển, bão hòa nước ít nhất một tháng trong năm (Ngô Phạm
Trúc Hạnh (2010) trích từ Võ Quang Minh và Lê Hào Hiệp, 1990). Theo Nguyễn
Thị Gái trích từ Vũ Cao Thái (1997), đất ở Đồng bằng sông Cửu Long giàu hữu cơ
và Nito tổng số, tỉ lệ chất hữu cơ 3- 4 % có nơi 8 – 10% hoặc cao hơn, nhưng hầu
hết đều đạt mức trên 2%.
Theo Võ Thị Gương và ctv., (2010), chất hữu cơ trong đất đóng vai trò quan
trọng đối với tất cả tiến trình lý, hóa, sinh học của đất. Dựa vào khả năng phân hủy,
có thể chia chất hữu cơ trong đất thành hai thành phần chính: thành phần dễ phân
hủy và thành phần đa phân tử khó phân hủy. Những nghiên cứu gần đây về chất hữu
cơ trong đất đã chú trọng hơn đến thành phần mùn di động, dễ phân hủy cũng như
các thành phần đa phân tử chận phân hủy và rất khó phân hủy của mùn; bởi đây là
những thành phần chính liên kết với khoáng sét tạo nên chất hữu cơ cho đất.
Trong đất tự nhiên, nguồn cung cấp chất hữu cơ duy nhất là tàn tích sinh vật,
bao gồm xác động vật, thực vật và vi sinh vật (Nguyễn Như Hà, 2005).Tàn tích
sinh vật hay còn gọi là tàn dư hữu cơ, là phần chất hữu cơ do các vi sinh vật sống
trong đất, sau khi chết để lại cho đất.
Ở nền đáy thủy vực, các mảnh vụn hữu cơ rất nhỏ có vai trò như là thức ăn hơn
chất nền, trừ những động vật không xương sống nhỏ nhất và vi sinh vật, Những vật
chất hữu cơ lớn như xác lá cây hay thân gỗ mục có vai trò như chất nền hơn là thức
ăn. Ở các thủy vực có hàm lượng xác thực vật nhiều thường có mật độ động vật
được tạo thành do quá trình
khoáng hóa và tổng hợp với hai quá trình amon hóa và quá trình nitrat hóa có sự
tham gia của vi sinh vật (Viện thổ nhưỡng Nông hóa, 1998).
Hàm lượng nito dư thừa trong tự nhiên cũng gây đe dọa đến môi trường, hàm
lượng nitrit, amoni trong đất cao sẽ gây ra ô nhiễm môi trường. Việc lạm dụng
phân bón hoa màu cũng như các hợp chất của nito để nuôi gia súc đã dẫn đến một
lượng lớn nito chảy vào trong các ao hồ (khoảng 20-25%), nhờ vào dòng nito này,
lấy hết nguồn oxi trong nước và lấp đi ánh sáng mặt trời, làm tôm cá chết ngạt và
ngăn cản quá trình quang hợp của các thực vật sống dưới nước.
Do đó, việc quản lý hàm lượng nito trong đất có vai trò rất quan trọng trong
viêc bảo vệ môi trường, giảm thiểu tác động của ô nhiễm nito với môi trường.
2.4.5 Tổng lân (TP)
Lân tổng số trong đất phụ thuộc vào thành phần khoáng đất. Đất ĐBSCL được
tạo thành từ các khoáng nghèo lân. Đất phù sa được bồi đắp hàng năm và đất mặn
có hàm lượng lân tổng số cao nhất, thấp nhất là các loại đất phèn (Ngô Ngọc Hưng
et al., 2004).
Theo Đỗ Thị Thanh Ren (1999), trong đất lân có khuynh hướng phản ứng với
các thành phần trong đất tạo ra các hợp chất không hòa tan. Nguyên tố lân trong tự
nhiên kết hợp với oxi để cho ra P
2
O
5
, kết hợp với nước để cho ra acid
orthophosphoric. Đơn vị tính của lân trong đất là % P
2
O
5
hoặc % P.
Trong đất lân có thể ở dạng hữu cơ hoặc lân khoáng tùy thuộc vào sự hình thành
và phát triển của đất. Hàm lượng lân tổng số trong đất biến thiên trung bình từ
với đặc tính nền đáy hơn là các thông số thủy hóa, đặc biệt là thành phần cơ giới và
hàm lượng chất hữu cơ có ảnh hưởng rất lớn đến sự phân bố động vật đáy.
Theo Dương Trí Dũng (2012), ở những nơi có số loài động vật đáy phong phú
và sự xuất hiện thường xuyên của giun ít tơ với số lượng lớn chứng tỏ nơi đó bị ô
nhiễm vừa với hàm lượng các chất hữu cơ và hàm lượng COD, đạm N-NO
3
-
và
TSS trong nước tương đối cao, hàm lượng DO thấp.
Hình 3.1 : Sơ đồ vị trí thu mẫu rạch Cái Khế