Luận văn thạc sĩ nhận diện khả năng tồn tại sai phạm trọng yếu trên báo cáo tài chính của các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán việt nam - Pdf 30



BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
LÊ THỊ CẨM GIANG NHẬN DIỆN KHẢ NĂNG TỒN TẠI SAI PHẠM
TRỌNG YẾU TRÊN BÁO CÁO TÀI CHÍNH CỦA
CÁC DOANH NGHIỆP NIÊM YẾT TRÊN
THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
Đà Nẵng – Năm 2015BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG LÊ THỊ CẨM GIANG

MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1. Tính cấp thiết của đề tài 1
2. Mục tiêu nghiên cứu 3
3. Câu hỏi nghiên cứu 3
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
5. Phương pháp nghiên cứu 4
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 5
7. Tổng quan tài liệu 5
8. Kết cấu của luận văn 10
CHƯƠNG 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ SAI PHẠM TRỌNG
YẾU VÀ CÁC MÔ HÌNH NHẬN DIỆN SAI PHẠM TRỌNG YẾU
TRÊN BÁO CÁO TÀI CHÍNH 11
1.1. TỔNG QUAN VỀ KHẢ NĂNG TỒN TẠI SAI PHẠM TRỌNG YẾU
TRÊN BÁO CÁO TÀI CHÍNH 11
1.1.1. Khái niệm sai phạm trọng yếu trên báo cáo tài chính 11
1.1.2. Các sai phạm trọng yếu thường gặp trên báo cáo tài chính 15
1.2. CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CHUNG VỀ SAI PHẠM 18
1.2.1. Thuyết đại diện 18
1.2.2. Lý thuyết về phân loại xã hội của Edwin Hardin Sutherland (1883-
1950) 20
1.2.3. Tam giác gian lận của Donald R. Cressey (1919-1987) 21
1.2.4. Mô hình bàn cân gian lận của D.W. Steve Albrecht 22
1.2.5. Công trình nghiên cứu của Hiệp hội các nhà điều tra gian lận Hoa
Kỳ (ACFE) 23
1.3. CÁC MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ SAI PHẠM TRỌNG YẾU TRÊN
BÁO CÁO TÀI CHÍNH 24

3.2.3. Kết quả ước lượng mô hình nghiên cứu 64
3.3. PHÂN TÍCH KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 65
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 73
CHƯƠNG 4. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 74
4.1. KẾT LUẬN 74
4.2. KIẾN NGHỊ NHẰM HẠN CHẾ SAI PHẠM TRỌNG YẾU TRÊN BÁO
CÁO TÀI CHÍNH 75
4.2.1. Đối với Bộ tài chính, tổ chức nghề nghiệp kế toán kiểm toán 75
4.2.2. Đối với kiểm toán viên 79
4.2.3. Đối với các đối tượng sử dụng thông tin báo cáo tài chính khác 81
KẾT LUẬN 83
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN (bản sao)
PHỤ LỤC

DANH MỤC BẢNG Số hiệu
Tên bảng
Trang
1.1.
Các loại gian lận phổ biến trên báo cáo tài chính
16

Các biến độc lập trong nghiên cứu của Persons
42
3.2.
Đo lường các biến độc lập và biến kiểm soát trong
nghiên cứu nhóm tác giả Malaysia (tạm dịch)
42
3.3.
Bảng tổng hợp tóm tắt kết quả tham khảo ý kiến chuyên gia
về các biến độc lập được chọn trong mô hình nghiên cứu
44
3.4.
Đo lường biến độc lập của mô hình đề xuất
45
3.5.
Bảng tham khảo tỷ lệ % để xác định mức trọng yếu tổng
thể báo cáo tài chính trên thế giới
55
3.6.
Bảng tham khảo tỷ lệ % để xác định mức trọng yếu tổng
thể báo cáo tài chính của VACPA
55
3.7.
Kết quả chọn mẫu
58
3.8.
Thống kê mô tả các biến trong mô hình
59

hình
Tên hình
Trang
1.1
Tam giác gian lận của Donald R. Cressey
21
2.1
Biểu đồ thể hiện tình hình điều chỉnh số liệu lợi nhuận
sau thuế của các doanh nghiệp niêm yết Việt Nam giai
đoạn 2010 – 2013
33
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Sự sụp đổ của nhiều đại gia danh tiếng trên thế giới sau nhiều năm
bưng bít số liệu mặc dù được kiểm toán bởi các công ty kiểm toán độc lập
hàng đầu thế giới như Enron, Worldcom… đã cảnh báo về tình trạng sai phạm
báo cáo tài chính ngày càng gia tăng và tinh vi. Những vụ phá sản này gây ra
hậu quả nghiêm trọng không chỉ đối với các cổ đông, mà còn ảnh hưởng đến
các chủ nợ, hệ thống ngân hàng, khách hàng, nhà cung cấp… từ đó ảnh
hưởng nghiêm trọng đến nền kinh tế đất nước. Bên cạnh đó, các đối tượng
gián tiếp gây ra những thiệt hại này là các công ty kiểm toán danh tiếng hàng
đầu cũng chịu những thiệt hại nặng nề, ảnh hưởng nghiêm trọng đến cả một
nghề nghiệp kiểm toán trên toàn thế giới.

mô hình của Persons (1995), Beneish (1999), Kaminski et al. (2004). Tuy
nhiên, các mô hình này đều có chung một đặc điểm là xây dựng dựa trên thực
tiễn các nước có nền kinh tế phát triển, thị trường chứng khoán phát triển, nền
kinh tế thị trường, và kế toán theo giá trị hợp lý. Trong khi nền kinh tế Việt
Nam là nền kinh tế đang phát triển, chưa phải là nền kinh tế thị trường, kế
toán hạch toán dựa trên cơ sở giá gốc, và còn nhiều điểm khác biệt so với thế
giới, dẫn đến việc áp dụng các mô hình nước ngoài vào nước ta có thể có
những điểm không phù hợp. Với lý do đó, tác giả thực hiện đề tài nghiên cứu
“Nhận diện khả năng tồn tại sai phạm trọng yếu trên báo cáo tài chính của
các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam” với
mong muốn xây dựng được một mô hình phù hợp cho Việt Nam, giúp các
kiểm toán viên Việt Nam có cơ sở để nhận diện sự tồn tại của các sai phạm
trên báo cáo tài chính của các doanh nghiệp niêm yết. Bên cạnh đó, việc xây
dựng thành công mô hình nhận diện khả năng tồn tại sai phạm trọng yếu trên
báo cáo tài chính thông qua các chỉ số tài chính có ý nghĩa khá lớn đối với các
nhà đầu tư và các đối tượng quan tâm, giúp họ có thêm công cụ hữu ích để
đánh giá độ tin cậy của các thông tin sử dụng cho việc ra quyết định tài chính,
giảm thiểu những thiệt hại không đáng có xảy ra.
3
2. Mục tiêu nghiên cứu
- Xây dựng được mô hình nhận diện khả năng tồn tại các sai phạm
trọng yếu trên báo cáo tài chính của các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường
chứng khoán Việt Nam thông qua các tỷ số tài chính, phù hợp với điều kiện
của Việt Nam.
3. Câu hỏi nghiên cứu
- Có thể nhận diện khả năng tồn tại sai phạm trọng yếu trên báo cáo tài
chính thông qua các chỉ số tài chính hay không?

điều này.
 Phạm vi nghiên cứu
+ Phạm vi không gian: Các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường
chứng khoán Việt Nam.
+ Phạm vi thời gian: giai đoạn 2010 – 2013.
5. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu chủ đạo là nghiên cứu định lượng.
 Phương pháp thu thập dữ liệu
- Thiết kế các biến độc lập: thu thập từ hai nguồn:
Thu thập dữ liệu sơ cấp: lập bảng câu hỏi để thu thập ý kiến của các
chuyên gia về các chỉ số tài chính giúp nhận diện khả năng tồn tại các sai
phạm trọng yếu trên báo cáo tài chính. Các chuyên gia là các kiểm toán viên
có kinh nghiệm, các nhà quản lý của doanh nghiệp, và các chuyên gia khác
trong lĩnh vực tài chính kế toán đang làm việc trên lãnh thổ Việt Nam. Mẫu
thu thập ý kiến gồm 30 phiếu khảo sát ý kiến. Việc thực hiện này nhằm giúp
cho mô hình xây dựng được phù hợp với Việt Nam hơn.
Thu thập dữ liệu thứ cấp: ngoài việc thu thập ý kiến của chuyên gia
như đã mô tả ở trên, tác giả còn thu thập thêm các tài liệu nghiên cứu trước
đây về các chỉ số tài chính được cho là có khả năng giúp nhận diện sai phạm
trọng yếu trên báo cáo tài chính.
Tổng hợp từ hai nguồn dữ liệu, tác giả sẽ chọn ra được các biến độc lập
là các chỉ số tài chính dự kiến có khả năng giúp nhận diện sai phạm trọng yếu
trên báo cáo tài chính.
5
- Cách thức thu thập số liệu: số liệu về các chỉ số tài chính của các
doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam được lấy từ báo
cáo tài chính công bố trên các website chuyên về đầu tư chứng khoán như

quan hệ giữa các yếu tố của tam giác gian lận và khả năng xảy ra gian lận trên
báo cáo tài chính. Nghiên cứu của tác giả Cressey (1953) cho thấy, hành vi
gian lận thường xuất hiện khi có sự hiện diện của ba yếu tố (tam giác gian
lận) là động cơ/áp lực, cơ hội và thái độ/cá tính. Kết hợp với hướng dẫn của
Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 240 hiện hành – Trách nhiệm của kiểm
toán viên liên quan đến gian lận trong quá trình kiểm toán báo cáo tài chính
[2], nhóm tác giả tiến hành xây dựng các biến đại diện cho các yếu tố của tam
giác gian lận, từ đó chạy mô hình hồi quy logit với mẫu nghiên cứu là 78 công
ty niêm yết tại sàn giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh năm 2012.
Kết quả nghiên cứu này cho thấy khả năng xảy ra gian lận có mối quan
hệ có ý nghĩa thống kê với 3 yếu tố về Động cơ/Áp lực, với 1 yếu tố về cơ hội
và với 2 yếu tố về thái độ.
Đây là nghiên cứu đầu tiên của Việt Nam về mối quan hệ giữa các yếu
tố của tam giác gian lận với gian lận trên báo cáo tài chính, phù hợp với yêu
cầu của chuẩn mực VSA 240 hiện hành [2] và đồng nhất với chuẩn mực kiểm
toán số 240 của quốc tế (ISA 240) cũng như chuẩn mực kiểm toán số 99 của
Mỹ (SAS 99) [6] yêu cầu kiểm toán viên phải đánh giá rủi ro có sai phạm
trọng yếu trên báo cáo tài chính dựa trên các yếu tố Động cơ/Áp lực, cơ hội
và thái độ. Một ưu điểm nữa của nghiên cứu này là mô hình xây dựng được
có khả năng dự báo đúng 83,33% các công ty thuộc mẫu nghiên cứu, và dự
báo đúng 80% cho 20 công ty ngoài mẫu nghiên cứu. Kết quả này cho thấy
khả năng dự báo khá tốt của mô hình.
Tuy nhiên, mô hình này được xây dựng chỉ nhằm mục đích giúp cho
kiểm toán viên và các công ty kiểm toán dự báo gian lận xảy ra trên báo cáo
tài chính, chứ chưa quan tâm đến các đối tượng sử dụng báo cáo tài chính
khác như các cổ đông, nhà đầu tư, chủ nợ… Theo đó, cần có một mô hình phù
hợp để các đối tượng này có thể tự đánh giá một cách tương đối về độ tin cậy
7
điều kiện của Việt Nam, do đó, khi áp dụng vào Việt Nam, có thể có nhiều
yếu tố chưa phù hợp để sử dụng.
 Điểm nổi bật của luận văn so với hai nghiên cứu trên
- Thứ nhất, tác giả có xem xét đến yếu tố sự phù hợp của mô hình xây
dựng được đối với đặc thù Việt Nam.
Việc xây dựng được một mô hình nhận diện khả năng tồn tại sai phạm
trọng yếu trên báo cáo tài chính có phù hợp với Việt Nam hay không trước
hết thể hiện ở việc lựa chọn các biến độc lập. Các biến độc lập trong nghiên
cứu này là các chỉ số tài chính được đánh giá là có khả năng giúp nhận diện
sai phạm trọng yếu trên báo cáo tài chính.
Nghiên cứu của hai tác giả trên cũng có sử dụng các chỉ số tài chính để
giúp nhận diện gian lận trên báo cáo tài chính. Tuy nhiên, việc lựa chọn ra các
chỉ số tài chính đều mang tính chất kế thừa các nghiên cứu của thế giới trước
đây. Theo tác giả, thị trường chứng khoán cũng như nền kinh tế của Việt Nam
có một số các đặc điểm không giống với thế giới, thể hiện rõ nét nhất ở sự
non trẻ của nền kinh tế đang phát triển, qui mô thị trường, hay sự mâu thuẫn,
chồng chéo trong các qui định, các chính sách Do đó, khi kế thừa kết quả
nghiên cứu về các yếu tố tác động đến sai phạm trọng yếu trên báo cáo tài
chính, nên xem xét đến sự phù hợp của các yếu tố đó ở thị trường Việt Nam.
Khắc phục vấn đề này, trong nghiên cứu của mình, để lựa chọn ra các
tỷ số tài chính được cho là có khả năng nhận diện được sự tồn tại của các sai
phạm trên báo cáo tài chính, tác giả thu thập từ hai nguồn:
+ Kế thừa các nghiên cứu trước có liên quan: trong nghiên cứu của
mình, tác giả kế thừa hai nghiên cứu của các tác giả nước ngoài, gồm nghiên
cứu của tác giả Dr. Obeua S. Persons (Mỹ) và nghiên cứu của nhóm tác giả
Hawariah Dalnial, Amrizah Kamaluddin, Zuraidah Mohd Sanusi, và Khairun
Syafiza Khairuddin (Malaysia). Các nghiên cứu này dựa trên một số nền tảng

chính sau kiểm toán để phân tích, ra quyết định. Tuy nhiên, trong một số
trường hợp, doanh nghiệp chưa công bố báo cáo tài chính sau kiểm toán, chỉ
mới công bố báo cáo tài chính trước kiểm toán. Khi đó, các đối tượng này cần
có một cơ sở nào đó để đánh giá độ tin cậy của số liệu chưa được kiểm toán.
10
Hai nghiên cứu trên của hai tác giả Trần Thị Giang Tân và Nguyễn
Trần Nguyên Trân xây dựng mô hình với mục tiêu phục vụ cho công tác kiểm
toán của kiểm toán viên, theo đó, các biến độc lập của hai mô hình này đưa ra
có một số biến chỉ có kiểm toán viên mới có thể tiếp cận và đánh giá được.
Các đối tượng khác muốn sử dụng được mô hình khá khó khăn và mất nhiều
thời gian hơn.
Theo đó, trong nghiên cứu của mình, tác giả chỉ sử dụng các yếu tố là
các chỉ số tài chính được tính toán từ dữ liệu báo cáo tài chính được công bố
rộng rãi, tất cả các đối tượng có thể tiếp cận và đánh giá được liệu báo cáo tài
chính có khả năng tồn tại các sai phạm trọng yếu trong đó hay không, từ đó
phục vụ cho công tác kiểm toán cũng như việc phân tích ra quyết định tài
chính của một số đối tượng khác.
Ngoài ra, dữ liệu mẫu của nghiên cứu được xem xét trong một giai
đoạn, từ 2010-2013 với các doanh nghiệp niêm yết trên toàn lãnh thổ Việt
Nam. Điều này sẽ giúp mô hình xây dựng được mang tính bao quát và mang
tính ứng dụng cao hơn.
Như vậy, trên cơ sở kế thừa và bổ sung các nghiên cứu trước đây, đề tài
tập trung xây dựng mô hình nhận diện khả năng tồn tại sai phạm trọng yếu
trên báo cáo tài chính của các doanh nghiệp niêm yết phù hợp với điều kiện
Việt Nam, phục vụ cho công tác kiểm toán và việc phân tích ra quyết định tài
chính của các đối tượng sử dụng thông tin báo cáo tài chính khác.
8. Kết cấu của luận văn

này theo tác giả phản ánh đúng bản chất của sai phạm hơn. Do đó, trong nghiên
cứu của mình, tác giả sử dụng thuật ngữ sai phạm, và tập trung vào sai phạm
trọng yếu trên báo cáo tài chính bao gồm gian lận và sai sót trọng yếu.
Sai sót trọng yếu trên báo cáo tài chính
Sai sót được định nghĩa là “những lỗi không cố ý có ảnh hưởng đến
báo cáo tài chính, như:
- Lỗi về tính toán số học hoặc ghi chép sai;
- Bỏ sót hoặc hiểu sai, làm sai các khoản mục, các nghiệp vụ kinh tế
phát sinh;
12
- Áp dụng sai các chuẩn mực, nguyên tắc, phương pháp và chế độ kế
toán, chính sách tài chính nhưng không cố ý” [1].
Theo đó, sai sót trọng yếu là những sai sót không cố ý ảnh hưởng đến
thông tin trên báo cáo tài chính, từ đó ảnh hưởng đến quyết định của người sử
dụng báo cáo tài chính. Tác giả đồng tình với khái niệm này.
Gian lận trên báo cáo tài chính
Để hiểu rõ về khái niệm gian lận trên báo cáo tài chính, trước tiên cần
phải hiểu khái niệm về gian lận.
- Gian lận
Theo từ điển Tiếng Việt, gian lận được hiểu là hành vi thiếu trung thực,
dối trá, mánh khóe nhằm lừa gạt người khác. Theo nghĩa rộng, gian lận là việc
xuyên tạc sự thật, thực hiện các hành vi không hợp pháp nhằm lường gạt, dối
trá để thu được một lợi ích nào đó. Ba biểu hiện thường thấy của gian lận là:
chiếm đoạt, lừa đảo và ăn cắp.
Theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam VSA 240 hiện hành – Trách
nhiệm của kiểm toán viên liên quan đến gian lận trong quá trình Kiểm toán
báo cáo tài chính, đồng nhất với chuẩn mực kiểm toán quốc tế ISA 240 - The

results in materially misleading financial statements”[10], tạm dịch: “gian
lận báo cáo tài chính là hành vi cố ý hoặc thiếu thận trọng, dù là cố ý hay bỏ
sót, làm sai lệch trọng yếu báo cáo tài chính”.
Như vậy, nhìn chung, khái niệm gian lận ở mọi nơi trên thế giới đều
tương đồng nhau, đều là hành vi cố ý là gây hại cho một số đối tượng khác.
Vì bản chất gian lận là hành vi có chủ đích và ảnh hưởng không nhỏ đến các
cá nhân, tổ chức khác, nên việc nhận diện và phát hiện ra được sự tồn tại của
gian lận là một vấn đề đang rất được quan tâm trên thế giới và ở Việt Nam
hiện nay.
 Khả năng tồn tại sai phạm trọng yếu trên báo cáo tài chính
Khả năng xảy ra một sự việc, hiện tượng là một khái niệm trừu tượng,
dùng để mô tả một sự việc, hiện tượng có thể xảy ra nhưng chưa khẳng định
chắc chắn là sẽ xảy ra.
14
Nghiên cứu về khả năng tồn tại sai phạm trọng yếu trên báo cáo tài
chính tức là nghiên cứu xem báo cáo tài chính có thể chứa đựng các sai phạm
trọng yếu hay là không. Hay nói một cách khác, tác giả nghiên cứu về xác
suất chứa đựng các sai phạm trọng yếu trên báo cáo tài chính của một doanh
nghiệp là cao hay thấp, và phụ thuộc vào các yếu tố nào. Nghiên cứu này sẽ
giúp cảnh báo người sử dụng thông tin báo cáo tài chính về độ tin cậy của
thông tin sử dụng. Nếu khả năng tồn tại sai phạm trọng yếu trên báo cáo tài
chính là thấp, tức thông tin đó đáng tin cậy hơn, và ngược lại, nếu khả năng
tồn tại sai phạm trọng yếu trên báo cáo tài chính là cao, người sử dụng cần
thận trọng trong việc sử dụng thông tin để ra các quyết định tài chính.
Theo nhiều nghiên cứu trước đây, có nhiều yếu tố giúp nhận diện khả
năng tồn tại sai phạm trọng yếu trên báo cáo tài chính bao gồm cả yếu tố định
lượng và yếu tố định tính. Nhưng trong phạm vi nghiên cứu này, tác giả sử

trị (xét về tiêu chuẩn định lượng) hoặc sai phạm về mặt bản chất của vấn đề
(xét về tiêu chuẩn định tính).
- Về mặt định lượng, trọng yếu là khi sai lệch trên báo cáo tài chính
cao hơn một số tiền nhất định và có thể sẽ gây ảnh hưởng đến quyết định của
người sử dụng báo cáo tài chính.
- Về mặt định tính, khái niệm trọng yếu gắn liền với tính hệ trọng của
các nghiệp vụ, khoản mục. Thông thường, các khoản mục, nghiệp vụ có gian
lận hoặc chứa đựng khả năng gian lận thì thường được coi là trọng yếu.
Việc nhận diện các sai lệch về mặt định tính khá khó và không rõ ràng.
Do đó, trong phạm vi nghiên cứu này, sai phạm trọng yếu được tác giả xem
xét là sai phạm về mặt định lượng. Cụ thể, các báo cáo tài chính có chênh lệch
số liệu ở chỉ tiêu lợi nhuận trước và sau kiểm toán lớn hơn hoặc bằng 5%
được cho là báo cáo tài chính khả năng có tồn tại sai phạm trọng yếu.
1.1.2. Các sai phạm trọng yếu thường gặp trên báo cáo tài chính
Đối với các sai sót trọng yếu, vì là hành vi vô ý nên việc nghiên cứu về
các sai sót trọng yếu không phổ biến so với hành vi gian lận.
Theo tổng hợp từ nghiên cứu của tác giả Trần Thị Giang Tân (2007)
16
[5], một đóng góp rất lớn của Hiệp hội các nhà điều tra gian lận Hoa Kỳ
(ACFE – Association of Certified Fraud Examiners) là đã thống kê được các
loại gian lận phổ biến trên báo cáo tài chính. Qua khảo sát 120 trường hợp về
báo cáo tài chính gian lận, ACFE đã thống kê các loại gian lận phổ biến trên
báo cáo tài chính được phát hiện như sau:
Bảng 1.1. Các loại gian lận phổ biến trên báo cáo tài chính
Loại gian lận
Trường hợp báo cáo
% (trường hợp)

Trích đoạn Thuyết đại diện Mô hình bàn cân gian lận của D.W Steve Albrecht Mô hình nhận diện gian lận trên báo cáo tài chính của Dr Obeua Đối với Bộ tài chính, tổ chức nghề nghiệp kế toán kiểm toán Đối với kiểm toán viên
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status