1
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài:
Trong nền kinh tế hội nhập hiện nay, đặc biệt Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
(ASEAN) sẽ chính thức gọi là một thị trường chung vào cuối năm nay. Trong bối cảnh
xu thế hội nhập kinh tế khu vực và thế giới, việc giao lưu trao đổi hàng hóa giữa các
nước diễn ra ngày càng mạnh mẽ, kéo theo những nhu cầu mới về vận tải, kho bãi, các
dịch vụ phụ trợ,… Cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất và tiến bộ khoa học –
công nghệ, Logistics có cơ hội phát triển ngày càng mạnh mẽ đóng một vai trò rất
quan trọng trong việc thúc đẩy tăng trưởng nền kinh tế. Theo thông tin chính thức từ
chiến lược phát triển dịch vụ của Việt Nam đến năm 2020 do Chính phủ công bố, tốc
độ phát triển trung bình của dịch vụ logistics là 25%/năm. Nhưng trên thực tế, nhiều
công ty đang có tốc độ phát triển lên đến 35- 40%/năm.
Công nghệ quản trị hiện đại về chuỗi cung ứng cũng đã được áp dụng tại các
doanh nghiệp Việt Nam và các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, như hệ thống
kho phân phối, cảng cạn, hệ thống gom hàng container, các ga hàng hóa hiện đại tại
các sân bay. Đến tháng 9/2014, Việt Nam có tổng cộng 44 cảng biển các loại, trong đó
có 14 cảng biển loại I, IA; 17 cảng biển loại II. Kinh phí phát triển hệ thống cảng biển
theo quy hoạch đến năm 2020, tầm nhìn 2030 ước tính khoảng 80.000 – 100.000 tỷ
đồng, sản lượng hàng hóa đã khai thác thông qua các cảng dự tính năm 2015 khoảng
từ 400 đến 410 triệu tấn/năm, trong đó hàng tổng hợp, container từ 275 đến 280 triệu
tấn/năm… Về đội tàu: Tính đến cuối năm 2013, đội tàu vận tải biển Việt Nam có
1.788 tàu các loại, với tổng dung tích 4,3 triệu GT và tổng trọng tải khoảng 6,9 triệu
DWT, đứng thứ 5/10 nước ASEAN; ngoài ra, Việt Nam còn sở hữu 80 tàu mang cờ
quốc tịch nước ngoài với tổng trọng tải 1,1 triệu DWT, chiếm khoảng 15% tổng trọng
tải đội tàu quốc gia
Tuy nhiên, trên thực tế, hoạt động kinh doanh dịch vụ Logistics ở Việt Nam trong
những năm qua vẫn chưa phát triển đúng với kì vọng mà chúng ta mong muốn. Mặc
dù đã đạt được nhiều kết quả và thành tựu đáng ghi nhận, nhưng hoạt động của ngành
2014 ước đạt 150 tỷ USD; tăng 13,6% so với năm 2013. Trong bối cảnh hoạt động
xuất nhập khẩu sôi động đó, hoạt động kinh doanh công ty Vinafreight có bước tăng
trưởng khả quan. Công ty đã hoàn thành.702 tỷ đồng, lợi nhuận sau thuế đạt hơn 43,6
tỷ đồng, lần lượt tăng 38,0% và 22,3% so với cùng kỳ năm 2013. Bước sang năm
2015, hoạt động xuất nhập khẩu dự kiến sẽ tiếp tục tăng trưởng tích cực. Tuy nhiên,
các khó khăn, thách thức từ môi trường kinh doanh của ngành vẫn luôn hiện hữu. Do
đó, Công ty cần đổi mới bằng sự sáng tạo và cải tiến không ngừng để các hoạt động
kinh doanh của Công ty được phát triển theo hướng bền vững
Đứng trước tình hình đó, để có thể tồn tại cũng như giữ vững vị thế của mình, và
không ngừng phát triển trong môi trường cạnh tranh ngày càng gay gắt, các doanh
nghiệp Logistics của Việt Nam phải từng bước hoàn thiện và phát triển nhằm nâng cao
chất lượng phục vụ.Vinafreight là một công ty có thế mạnh cũng như được biết đến
khá nhiều trong ngành vận tải giao nhận. Chính vì thế, việc đẩy mạnh hoạt động kinh
doanh dịch vụ Logistics của công ty để có thể ngày càng phát triển hơn khi Việt Nam
đang dần mở cửa và hội nhập thế giới là nhiệm vụ quan trọng và cấp thiết. Đó là lý do
3
tôi chọn đề tài “GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ KINH DOANH DỊCH VỤ
LOGISTICS TẠI CÔNG TY VINAFREIGHT-ĐỊNH HƯỚNG GIA NHẬP CỘNG
ĐỒNG KINH TẾ ASEAN (AEC 2015)
2. Tình hình nghiên cứu
Trong thời gian thực hiện việc nghiên cứu đề tài tại công ty Vinafreight em đã
phần nào nắm sơ qua về hoạt động Logistics tại công ty, và cũng nhìn thấy được
những thuận lợi và cũng như khó khăn mà công ty đang gặp phải. Song song đó, trong
quá trình em thực hiện hoạt động nghiên cứu cũng gặp nhiều thuận lợi như: các anh
chị trong công ty luôn nhiệt tình giúp đỡ và giải đáp những vướng mắc. Khó khăn: khi
đưa vào một tình huống cụ thể thì còn gặp nhiều khó khăn do chưa có kinh nghiệm để
giải quyết vấn đề. Và cùng với kiến thức đã được học và các số liệu phân tích từ năm
2010- 2014, em đã đưa ra các đánh giá chung về thực trạng hoạt động kinh doanh dịch
vụ logistics của công ty Vinafreight. Bên cạnh đó, em cũng đã đưa ra những giải pháp
tài liệu nghiên cứu trước đây để xây dựng cơ sở luận cứ chứng minh giả thuyết và tìm
ra vấn đề nghiên cứu. Có 3 phương pháp thu thập số liệu: thu thập số liệu bằng cách
tham khảo tài liệu, thu thâp số liệu từ những thực nghiệm, thu thập số liệu phi thực
nghiệm
- Phương pháp phân tích: là phương pháp phân chia cái toàn thể đối tượng
nghiên cứu thành những bộ phận đơn giản hơn để nghiên cứu, phát hiện từng thuộc
tính và bản chất của từng yếu tố đó, và từ đó giúp chúng ta hiểu được đối tượng rõ
rang, rành mạch hơn. Nhiệm vụ của phân tích là thông qua cái riêng để tìm ra được cái
chung, thông qua hiện tượng để tìm ra bản chất, thông qua cái đặc thù để tìm ra cái
phổ biến.
- Phương pháp tổng hợp: Là quá trình ngược lại với phương pháp phân tích,
nhưng lại hỗ trợ cho quá trình phân tích để tìm ra cái chung, cái tổng quát. Từ những
kết quả của phương pháp phân tích, phương pháp này sẽ tổng hợp lại những cái riêng
thành cái chung, đánh giá lại những cái riêng đó. Phương pháp phân tích và phương
pháp tổng hợp là hai phương pháp đối lập nhau, nhưng gắn bó chặt chẽ với nhau, bổ
sung cho nhau trong quá trình nghiên cứu.
6. Dự kiến kết quả nghiên cứu:
Những giải pháp và các kiến nghị mà em đưa ra đều dựa trên những vướng mắt
mà công ty Vinafreight đang gặp phải, cho nên đề tài nghiên cứu là có bám sát với
thực tế công ty. Vậy nên, dự kiến kết quả nghiên cứu có thể sẽ giải quyết được những
vấn đề khó khăn mà công ty đang gặp phải và song song đó là nghiên cứu đưa ra các
giải pháp thúc đẩy hoạt động kinh doanh dịch vụ Logistics tại công ty được cụ thể hóa
từng giải pháp. Em hy vọng các kết quả nghiên cứu này sẽ góp phần nào đó tháo gỡ
được những tồn đọng khó khăn của công ty đang gặp phải và cũng như là có những
định hướng mới cho công ty sau này. Tuy nhiên, do thời gian hạn chế và lượng kiến
thức thực tế chưa nhiều và chưa có nhiều kinh nghiệm, nên bài nghiên cứu không thể
tránh khỏi sai sót.
7. Kết cấu của Khóa luận:
Ngoài lời mở đầu và kết luận, đề tài gồm có 3 chương:
Chương I: Cơ sở lý luận về kinh doanh dịch vụ Logistics và Cộng đồng kinh tế
giản, ngắn gọn nhất là cung ứng, là chuỗi hoạt động nhằm đảm bảo nguyên nhiên vật
liệu, máy móc, thiết bị, các dịch vụ,… cho hoạt động của tổ chức, doanh nghiệp được
tiến hành liên tục, nhịp nhàng và có hiệu quả; bên cạnh đó còn tham gia vào quá trình
phát triển sản phẩm mới.
- Dưới góc độ quản trị chuỗi cung ứng, thì Logistics là quá trình tối ưu hóa về
vị trí, lưu trữ và chu chuyển các tài nguyên/ yếu tố đầu vào từ điểm xuất phát đầu tiên
là nhà cung cấp, qua nhà sản xuất, người bán buôn, bán lẻ, đến tay người tiêu dùng
cuối cùng, thông qua hàng loạt các hoạt động kinh tế. [xem Logistics and Supply
Chain Management, tác giả Ma Shuo, tài liệu giảng dạy của World Maritime
University, 1999]
Ngoài các định nghĩa được nêu trên, trong thực tế còn tồn tại một số định nghĩa
khác cũng khá phổ biến như:
- Theo quan điểm “5 Right” thì: “Logistics là quá trình cung cấp đúng sản
phẩm đến đúng vị trí, vào đúng thời điểm với điều kiện và chi phí phù hợp cho khách
hàng tiêu dùng sản phẩm”.
7
- Theo GS.TS Đoàn Thị Hồng Vân thì “Logistics là quá trình tối ưu hóa về vị
trí và thời gian, vận chuyển và dự trữ nguồn tài nguyên từ điểm đầu tiên của dây
chuyền cung ứng cho đến tay người tiêu dùng cuối cùng”
- Trong Luật Thương mại 2005, lần đầu tiên khái niệm về dịch vụ logistics
được pháp điển hóa. Luật quy định “Dịch vụ logistics là hoạt động thương mại, theo
đó thương nhân tổ chức thực hiện một hoặc nhiều công đoạn bao gồm nhận hàng, vận
chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, các thủ tục giấy tờ khác, tư vấn khách
hàng, đóng gói bao bì, ghi ký mã hiệu, giao hàng hoặc các dịch vụ khác có liên quan
tới hàng hóa theo thỏa thuận với khách hàng để hưởng thù lao”.
1.2. Các loại hình dịch vụ Logistics.
1.2.1. Các dịch vụ Logistics chủ yếu:
Là dịch vụ thiết yếu trong hoạt động Logistics và cần phải tiến hành tự do hóa để
thúc đẩy sự lưu chuyển dịch vụ, bao gồm:
tin liên quan đến vận chuyển và lưu kho hàng hóa trong suốt cả chuỗi Logistics; hoạt
động xử lý lại hàng hóa bị khách hàng trả lại, hàng hóa tồn kho, hàng hóa quá hạn, lỗi
mốt và tái phân phối hàng hóa đó.
1.2.2. Các dịch vụ liên quan đến vận tải.
Dịch vụ vận tải hàng hải:
Dịch vụ vận tải hàng hải bao gồm các dịch vụ vận tải hàng nguyên container,
hàng gom, hàng rời và dịch vụ môi giới tàu
- Dịch vụ vận tải hàng hải là một hành vi thương mại mà theo đó người làm
dịch vụ giao nhận sẽ nhận hàng từ người gửi, tổ chức vận chuyển bằng các phương
tiện tàu thuyền đến địa điểm được quy định trước, tiến hành lưu kho, lưu bãi và làm
thủ tục giấy tờ và các dịch vụ khác có liên quan để giao hàng cho người nhận theo sự
ủy thác của người gửi hàng.
- Ưu điểm:
Khả năng và năng lực thông qua của vận tải biển là rất lớn với sức chở
không bị hạn chế. Tận dụng điều kiện thiên nhiên của biển nên không phải bỏ nhiều
vốn và nhân lực vào việc xây dựng những tuyến đường biển.
Thích hợp với chuyên chở hàng hóa trong buôn bán quốc tế.
- Nhược điểm:
Phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện tự nhiên, điều kiện hàng hải. Quy trình tổ
chức chuyên chở khá phức tạp, tốc độ vận chuyển chậm so với một số phương thức
khác. Đi qua nhiều khu vực chính trị xã hội khác nhau, do đó chịu sự chi phối nhiều
bởi các luật lệ, tập quán, văn hóa của các nước, các khu vực khác nhau.
Quãng đường vận chuyển xa do đó khả năng gặp rủi ro cao: rủi ro thiên
nhiên (bão, thiên tai,… ), cướp biển,…
Dịch vụ vận tải hàng không:
- Vận tải hàng không đóng vai trò quan trọng trong thương mại quốc tế, chiếm
10% khối lượng hàng hóa vận chuyển và 1/1000 khối lượng hàng hóa luân chuyển
(t/km) trong buôn bán quốc tế.
9
Logistics là công cụ liên kết các hoạt động kinh tế trong một quốc gia và toàn cầu
qua việc cung cấp nguyên liệu, sản xuất, lưu thông phân phối, mở rộng thị trường.
Logistics hỗ trợ cho luồng chu chuyển các giao dịch kinh tế, có ý nghĩa quan trọng
10
trong chiến lược thúc đẩy xuất khẩu phát triển và tăng trưởng kinh tế của mỗi quốc
gia.
1.4.2. Vai trò của Logistics đối với các doanh nghiệp.
Đối với các doanh nghiệp, logistics có vai trò rất lớn. Logistics giúp giải quyết cả
đầu ra lẫn đầu vào của doanh nghiệp một cách hiệu quả. Nhờ có thể thay đổi các
nguồn tài nguyên đầu vào hoặc tối ưu hóa quá trình chu chuyển nguyên vật liệu, hàng
hóa, dịch vụ…
1.5. Chức năng của dịch vụ Logistics
Các dịch vụ logistics thực hiện chức năng hỗ trợ cho quá trình sản xuất cũng như
quá trình phân phối lưu thông hàng hoá tới người tiêu dùng cuối cùng cho các doanh
nghiệp sản xuất kinh doanh. Trong quá trình sản xuất, nhà cung cấp dịch vụ logistics
sẽ tư vấn cho các doanh nghiệp về quy trình sản xuất, lượng hàng hoá cần sản xuất,
lượng hàng dự trữ bao nhiêu
1.6. Nhiệm vụ của dịch vụ Logistics
- Nâng cao hiệu quả kinh doanh cho các doanh nghiệp bằng cách thoả mãn đầy
đủ, kịp thời và thuận lợi các yếu tố đầu vào, đầu ra. Phát triển dịch vụ logistics,đảm
bảo quá trình sản xuất, phân phối lưu thông hàng hoá trên thị trường được thông suốt,
dễ dàng.
- Phát triển lĩnh vực thương mại quốc tế với các quốc gia trên thế giới thông
qua các hoạt động vận tải ngoại thương, tư vấn ngoại thương
1.7. Logistics và hội nhập kinh tế thế giới
1.7.1. Khái niệm
Hội nhập kinh tế thế giới là sự gắn kết nền kinh tế của mỗi quốc gia vào các tổ
chức hợp tác kinh tế khu vực và toàn cầu, trong đó mối quan hệ giữa các nước thành
viên có sự ràng buộc theo những quy định chung của khối, đón nhận những luồng gió
Campuchia, Lào, Thái Lan, Mianma Đặc biệt còn có đường bộ xuyên châu Á, tuyến
đường sắt xuyên Đông Dương sẽ thúc đẩy phát triển cho ngành dịch vụ Logistics Việt
Nam với các nước ASEAN.
- Về vận tải hàng không, Việt Nam có nhiều sân bay, đặc biệt là sân bay Tân
Sơn Nhất, nằm ở vị trí lý tưởng.
1.8.1.2. Cơ sở hạ tầng giao thông vận tải
- Đối với vận tải đường biển: Việt Nam có ưu thế bờ biển dài, thuận tiện để
phát triển phương thức vận tải biển. Mặc khác, các tuyến vận tải hàng hóa xuất nhập
khẩu của Việt Nam được vận chuyển chủ yếu bằng đường biển. Do đó đây là cơ hội
tốt để các doanh nghiệp kinh doanh Logistics của Việt Nam tham gia vào mạng lưới
Logistics toàn cầu.
- Đối với vận tải thủy nội địa: Vận tải thủy nội địa có khả năng phát triển các
thành phần kinh tế rộng rãi với khả năng thu hút vốn đầu tư từ nhiều nguồn, cùng với
những lợi thế về mạng lưới sông dày đặc ở hai vùng kinh tế đồng bằng Bắc Bộ và
Nam Bộ, vận tải thủy nội địa đã và đang khẳng định vị trí quan trọng trong hệ thống
12
giao thông vận tải quốc gia. Do đó, cần đầu tư phát triển đội tàu, hình thành các cảng
đầu mối khu vực, đủ năng lực thực hiện nhiệm vụ tiếp chuyển hàng hóa cho khu vực.
- Đối với vận tải đường bộ: Với tốc độ tăng trưởng mạnh của nền kinh tế, nhu
cầu vận chuyển hàng hóa bằng đường bộ không ngừng gia tăng. Thêm vào đó, nhu cầu
vận tải tăng, nguồn vốn đầu tư hạn chế, đầu tư không đồng bộ,… đã ảnh hưởng đến
chất lượng của đường. Điều này làm tác động trực tiếp đến hiệu quả kinh doanh của
các doanh nghiệp Logistics.
- Đối với vận tải đường sắt: Vận tải đường sắt cũng là một trong những
phương thức vận tải trong mạng vận tải quốc gia, tạo mối liên kết giữa các vùng kinh
tế trọng điểm, đóng góp không nhỏ trong lưu thông hàng hóa và phát triển hệ thống
dịch vụ Logistics.
- Đối với vận tải hàng không: Tuy có tới 90% khối lượng hàng hóa xuất nhập
khẩu được vận chuyển bằng đường biển, nhưng vận tải hàng không cũng là một
toán; chính sách tài chính, tín dụng; kiểm soát về giá cả, tiền lương tối thiểu; tiềm năng
phát triển và gia tăng đầu tư.
1.8.1.5. Cạnh tranh giữa các công ty Logistics:
Trong khi các doanh nghiệp Việt Nam cung cấp dịch vụ Logistics trong lĩnh vực
vận tải biển còn gặp nhiều khó khăn thì các tập đoàn Logistics trên lớn thế giới đã và
đang từng bước thâm nhập, và ngày càng khẳng định vị trí như APL Logistics, Maersk
Logistics, NYK Logistics… Đây là những tập đoàn hùng mạnh, tính cạnh tranh rất lớn
với bề dày kinh nghiệm, có mạng lưới đại lý, hệ thống kho hàng chuyên dụng, dịch vụ
khép kín trên toàn thế giới và đảm bảo khép kín quy trình hoạt động vận chuyển hàng
hóa toàn cầu.
- Yếu tố khách hàng: Khách hàng là một vấn đề vô cùng quan trọng và được
các doanh nghiệp đặc biệt quan tâm chú ý. Nhu cầu của khách hàng ảnh hưởng lớn tới
sản lượng và giá cả sản phẩm dịch vụ của doanh nghiệp, ảnh hưởng tới sự cạnh tranh
của doanh nghiệp vì vậy cũng gián tiếp ảnh hưởng tới hiệu quả hoạt động của doanh
nghiệp.
- Ảnh hưởng của hội nhập kinh tế thế giới đến hoạt động dịch vụ Logistics:
Việc trở thành thành viên chính thức của WTO đã đưa Việt Nam thành một
Quốc gia mở cửa về Thương mại hàng hóa, Dịch vụ và Đầu tư.
Vốn đầu tư nước ngoài, cụ thể là nguồn vốn ODA nhằm phát triển cơ sở hạ
tầng và các nguồn vốn từ các tổ chức phi chính phủ hỗ trợ cho Việt Nam ngày càng
tăng.
1.8.2. Các nhân tố bên trong.
Đây là những yếu tố chủ quan mà doanh nghiệp có thể kiểm soát được, bao gồm
các nhân tố: Tiềm lực doanh nghiệp, hệ thống thông tin, nghiên cứu và phát triển
- Nguồn lực tài chính của doanh nghiệp: Nguồn lực tài chính là yếu tố quan
trọng của doanh nghiệp giúp doanh nghiệp thực hiện những dịch vụ bổ trợ, cải thiện cơ
sở hạ tầng để nâng cao chất lượng dịch vụ của doanh nghiệp.
14
- Nguồn nhân lực của doanh nghiệp: Nguồn nhân lực của công ty bao gồm
cạnh tranh của ASEAN với thế giới, từ đó góp phần giảm khoảng cách giàu nghèo,
khoảng cách phát triển và thúc đẩy ổn định xã hội.
1.9.3. Một số cam kết về hoạt động Logistics:
Việt Nam đã sửa đổi và ban hành mới một số chính sách để thực hiện các cam kết
trong từng ngành cụ thể, đối với hoạt động logistics: Phát triển dịch vụ Logistics đã trở
15
thành tiêu chí quan trọng trong chính sách của các nước thành viên ASEAN với tạo
nên một môi trường Logistics ASEAN kết nối, thống nhất và biến ASEAN trở thành
một trung tâm logistics trong khu vực Châu Á- Thái Bình Dương. Việt Nam đã kí nghị
định thư về lộ trình hội nhập ASEAN về Dịch vụ Logistics và cam kết tự do hóa hầu
hết các phân ngành chủ yếu trong dịch vụ Logistics. Đến nay, Việt Nam đang trong
quá trình hoàn thiện hệ thống văn bản luật lệ, nâng cao năng lực quản lý nhà nước và
có chính sách cụ thể về Logistics phù hợp với cam kết trong ASEAN. Đáng chú ý, một
đóng góp quan trọng trong việc cải tiến các thủ tục hành chính quốc gia vừa qua là Đề
án 30 và đặc biệt là đổi mới trong lĩnh vực hải quan đã góp phần thúc đẩy dịch vụ
Logistic phát triển. Việt Nam cũng đạt mức tự do hóa có ý nghĩa với một lộ trình hợp
lý với phân bổ ngành bổ trợ cho dịch vụ Logistic. Đối với một số phân ngành dịch vụ
mà Việt Nam có lợi thế cung cấp như dịch vụ xếp dỡ container với hàng hóa vận
chuyển đường biển, đại lí kho bãi, và đại lý vận tải hàng hóa, dịch vụ thông
quan,…Việt Nam đặt hạn chế vốn góp nước ngoài không vượt quá 50% hoặc đặt ra lộ
trình cho phép tăng vốn góp của phía nước ngoài từ 5-7 năm. Trong nội bộ ASEAN
Việt Nam được đánh giá chúng ta đã phát huy hiệu quả chương trình kết nối Logistic
trong khu vực.
1.9.4. Tác động của việc hình thành AEC tới Việt Nam:
1.9.4.1. Thuận lợi:
- Việc tham gia tiến trình AEC sẽ tạo thêm khối lượng thương mại cho Việt
Nam. Vấn đề thuế quan có thể thể hiện một phần. Số liệu của Viện Kinh tế và Chính
trị thế giới cho thấy mức thuế quan bình quân của Việt Nam theo CEPT vẫn cao gần
gấp đôi mức bình quân của ASEAN-10 (6,22% so với 3,33%) và gần 20% dòng thuế
- ASEAN đề nghị các nước thành viên mới thúc đẩy nhanh tiến trình thực hiện
CEPT/AFTA lên 1 năm tương tự như ASEAN-6. Đây là một thách thức lớn đặt ra đối
với ASEAN-4 nói chung và Việt Nam nói riêng. Điều đó có nghĩa là chúng ta càng
phải sớm dỡ bỏ hàng rào bảo hộ cho các ngành sản xuất trong nước, trong khi đó cạnh
tranh ngày càng gay gắt, trụ vững được trong điều kiện cạnh tranh như vậy là điều
không đơn giản, nhất là với các doanh nghiệp không có khả năng cạnh tranh cao.
- Hệ thống pháp luật của Việt Nam vẫn chưa thực sự sẵn sàng để theo kịp tiến
trình hội nhập, mặc dù chúng ta đang cố gắng từng bước hoàn thiện. Cũng như các
nước khác trong khu vực, đây luôn là vấn đề nan giải cho thực trạng nền kinh tế từng
quốc gia, khu vực và thế giới luôn biến động. Hơn nữa những sự khác nhau giữa các
thành viên về chính trị, xã hội, trình độ phát triển nền kinh tế, văn hoá sẽ dẫn đến
tình trạng một thành viên khó có thể có được 1 hệ thống luật pháp phù hợp với tất cả
các thành viên khác và với khu vực.
- Nhận thức của người dân Việt Nam về hội nhập chưa đầy đủ, nhất là các
doanh nghiệp tư nhân. Đây cũng là một rào cản cho quá trình hội nhập khu vực trong
quá trình nhất thể hoá khu vực ASEAN.
- Trên thực tế, nguồn thu thuế từ hoạt động ngoại thương của Việt Nam luôn
chiếm tỷ lệ lớn - khoảng 20-25% tổng thu ngân sách, việc cắt giảm thuế sẽ có ảnh
hưởng không nhỏ tới nguồn thu.
- Nếu Việt Nam không tận dụng được những tác động tích cực của AEC sẽ có
nguy cơ chịu những tác động không thuận của quá trình này, như: thâm hụt thương
mại đối với khối lớn hơn; nhập khẩu lớn dẫn đến thất thu thuế trong khi đó xuất khẩu
không tăng bao nhiêu, sức hấp dẫn đối với đầu tư nước ngoài sẽ bị giảm sút
17
TÓM TẮT CHƯƠNG I:
Việt Nam đang bước vào thời kỳ hội nhập thế giới với nhiều lĩnh vực, đặc biệt là
hội nhập kinh tế thế giới. Từ những nghiên cứu về dịch vụ Logistics ở chương 1, ta có
thể thấy Logistics không chỉ đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong nền kinh tế quốc
gia mà còn có vai trò giảm thiểu các chi phí, tăng sức cạnh tranh trên thị trường cho
thuộc công ty Giao nhận kho vận ngoại thương Tp.HCM (Vinatrans), chuyên thực
hiện các dịch vụ về vận chuyển hàng không, dịch vụ hậu cần và đại lý tàu biển.
Năm 2001: Bộ trưởng Bộ Thương mại ban hành quyết định số
0964/2001/QĐ/BTM phê duyệt phương án cổ phần hóa thành lập Công ty Cổ phần
Vận tải Ngoại thương với tên giao dịch Vinafreight và số vốn điều lệ ban đầu 18 tỷ
đồng. Chuyên kinh doanh dịch vụ vận tải nội địa quốc tế, kinh doanh kho bãi, cho thuê
văn phòng, xuất nhập khẩu, Đại hội cổ đông đầu tiên của công ty được tiến hành thông
qua điều lệ, cơ cấu tổ chức, cơ cấu quản lý công ty.
Năm 2002: Công ty chính thức hoạt động theo tư cách pháp nhân được Sở kế
hoạch và Đầu tư TpHCM cấp phép.
19
Công ty chính thức trở thành thành viên của VIFFAS, đánh dấu một bước ngoặc
quan trọng trong sự nghiệp phát triển của công ty.
Năm 2003: Thành lập văn phòng tại Khu công nghiệp Việt Nam – Singapore.
Năm 2004: Góp vốn thành lập công ty TNHH Vector Quốc tế chuyên về dịch vụ
tổng đại lý cho các hãng hàng không. Ngoài ra còn góp vốn thành lập công ty TNHH
vận tải ô tô V-truck và công ty TNHH 2 thành viên VAX Global.
Năm 2005: Góp vốn thành lập công ty liên doanh Kintetsu Việt Nam, góp vốn
thành lập công ty TNHH viễn đông chuyên về dịch vụ giao nhận.
Năm 2006: Công ty triển khai dịch vụ chuyển phát nhanh nội địa và quốc tế
Vinaquick góp vốn thành lập công ty TNHH Jardine Shipping Services Việt Nam.
Năm 2007: Chính thức đăng kí công ty đại chúng với Ủy Ban Chứng Khoán Nhà
Nước.
Năm 2008: Công ty thực hiện trọn gói việc vận chuyển máy móc thiết bị, nguyên
vật liệu sản xuất cho một số khách hàng lớn từ nước ngoài về việt nam.
Năm 2009: Công ty mở văn phòng tại Bình Dương để thực hiện các dịch vụ trọn
gói cho khách hàng lớn thuộc các khu công nghiệp ở Bình Dương, công ty Vector
được chỉ định làm đại lý cho hãng HongKong Air, khai thác máy bay Freighter của
hãng Transacro.
Kinh doanh xuất nhập khẩu trực tiếp và nhận ủy thác xuất nhập khẩu.
Kinh doanh cho thuê văn phòng làm việc, kho bãi theo quy định pháp luật.
2.2.2. Nhiệm vụ
- Hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận, đạt hiệu quả kinh tế ngày càng cao và phát
triển công ty càng lớn mạnh, góp phần đóng góp cho ngân sách Nhà Nước.
- Giải quyết việc làm cho người lao động.
- Liên tục cải tiến chất lượng phục vụ khách hàng ngày càng tốt hơn, đa dạng
hóa và phong phú sản phẩm.
- Góp phần thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội.
21
2.3. Cơ cấu tổ chức – Bộ máy quản lý
2.3.1. Sơ đồ bộ máy tổ chức:
BP Chăm
Sóc KH BP Hiện
Trường BP Bán
Hàng
BP Chăm
Sóc KH
BP Hiện
Trường
Ban Giám Đốc
Phòng
Nhân
Sự Phòng
Logistic
Phòng
Phát
Triển
KD
Phòng
Ban giám đốc: chịu trách nhiệm điều hành, quản lí toàn bộ hoạt động của
công ty, quyết định về tất cả các vấn đề liên quan đến hoạt động hàng ngày của công
ty, chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện các quyết định của HĐQT về phương án kinh
doanh và phương án đầu tư của công ty. Quyết định lương và phụ cấp đối với người
lao động trong công ty và thực hiện các nhiệm vụ khác có liên quan đến hay bắt nguồn
từ các nhiệm vụ trên.
Phòng tổ chức hành chính: có chức năng tham mưu cho Tổng giám đốc
trong công tác quản lý nguồn lực, trực tiếp thực hiện công tác tổ chức, lao động, định
mức chi phí tiền lương của công ty và các hoạt động hỗ trợ cho các bộ phận chức năng
về hành chính quản trị.
Phòng kế toán tài chính: có trách nhiệm quản lý toàn bộ tài chính của công
ty, cân đối các nguồn vốn, tính toán chính xác thuế nộp và ngân sách Nhà nước. tiến
hành các khoản thu chi, các chứng từ xuất nhập khẩu trong hợp đồng thực hiện các
công tác quản lý tài sản, vốn. thu thập, xử lý, kiểm tra , phân tích và cung cấp thông tin
kinh tế, tài chính của công ty. Chịu trách nhiệm về báo cáo tài chính của công ty và
phát lương cho nhân viên. Tạm ứng tiền cho nhân viên để thực hiện các giao dịch.
Phòng phát triển kinh doanh: nghiệp vụ chủ lực của phòng là bán cước và
các dịch vụ hậu cần sân bay Tân Sơn Nhất.
Phòng dịch vụ hàng không: cung cấp dịch vụ vận chuyển, giao nhận hàng
hóa bằng đường hàng không.
Phòng đường biển:
Cung cấp dịch vụ gửi hàng lẻ đường biển từ Việt Nam đi mọi nơi trên thế
giới (LCL/FCL) các thị trường mạnh là Mỹ, Châu Âu, Nhật Bản và Châu Á.
Dịch vụ nhập nguyên container (FCL) giá cạnh tranh và hỗ trợ phí lưu kho.
23
Dịch vụ hàng công trình và triển lãm tại Việt Nam và các nước khu vực như
Lào, Campuchia.
Bộ phận chứng từ: chịu trách nhiệm lập hồ sơ Hải quan và các công văn cần
thiết giúp bộ phận hiện trường hoàn thành tốt nhiệm vụ. Thường xuyên theo dõi những
2.5. Tình hình nhân lực
- Trong quá trình phát triển của công ty, Vinafreight không ngừng đào tạo,
nâng cao chất lượng đội ngũ nhân sự. Bên cạnh chế độ đãi ngộ với mức lương cạnh
tranh, công ty cũng tạo môi trường làm việc chuyên nghiệp, khuyến khích thi đua và
nỗ lực làm việc.
- Công ty luôn cố gắng tạo công ăn việc làm ổn định cho người lao động và giải
quyết các chế độ, lương thưởng cho người lao động kịp đầy đủ theo quy định của công
ty và pháp luật. Tổng số lao động trong công ty Vinafreight tính đến ngày 31/12/2014
là 181 người.
2.6. Khách hàng, đối tác của công ty Vinafreight
- Công ty Vinafreight đã và đang ký kết được nhiều hợp đồng vận tải cho khách
hàng trong nhiều lĩnh vực như: Hàng không: Pouyuen, Tungmung, Dinsen. Hàng biển:
Hapro, Olam, Harris. Kho bãi: Aikibi, Gali, Midea.
- Hàng không: làm đại lý bán cước và hợp đồng vận chuyển với hơn 08 hãng
hàng không lớn trên thế giới như Lufthansa German Airlines, AirFrance, Korean
Airways, China Airlines, Cathay Pacific Airways, Eva Airways, Singapore Airlines,
Vietnam Airlines…
- Đường biển: Hiện tại Vinafreight đang có hợp đồng dài hạn với các hãng tàu
và hãng giao nhận lớn của thế giới như Hanjin, NYK Lines, CMA, APL, UASC,
OOCL, Evergreen, TS Lines, China Shipping…
2.7. Tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty Vinafreight giai
đoạn 2010- 2014
- Năm 2010, kinh tế thế giới đã trải qua những diễn biến đầy bất ngờ. Mặc dù
chịu tác động của cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế, nhưng nhìn tổng
thể thì tình hình kinh tế thế giới có sự tăng trưởng mạnh trong năm 2010 và đặc biệt là
nước ta đã vượt qua giai đoạn suy giảm nhờ những giải pháp kịp thời và linh hoạt. Kết
quả hoạt động kinh doanh năm 2011 so với năm 2010 được thể hiện ở bảng 2.7 dưới
đây.
15,6
-2,5
86,2
[Nguồn: Phòng kế toán của công ty Vinafreight]
- Nhìn vào bảng 2.7, ta thấy tổng chi phí và tổng doanh thu của công ty năm
2011 giảm lần lượt là tổng chi phí từ 366,9 tỷ đồng năm 2010 giảm xuống còn 272,4 tỷ
đồng vào năm 2011, giảm 94,5 tỷ đồng tương đương 25,8% so với năm 2010 và tổng
doanh thu năm 2008 đạt 385 tỷ đồng đã giảm vào năm 2011 chỉ còn 288 tỷ đồng, giảm
97 tỷ đồng tương đương 25,2% so với năm 2010. Do tổng doanh thu và tổng chi phí
đều giảm vào năm 2011 nên lợi nhuận của công ty Vinafreight cũng giảm từ 18,1 tỷ
đồng vào năm 2010 xuống còn 15,6 tỷ đồng vào năm 2011, giảm 2,5 tỷ đồng tương
đương 13,8% so với năm 2010.
- Năm 2012, mặc dù tình hình kinh tế thế giới có những khôi phục rất mạnh
mẽ, bản thân nền kinh tế Việt Nam cũng đã đạt được nhiều kết quả tích cực, song nhìn
chung chưa thực sự ổn định và còn tiềm ẩn nhiều yếu tố bất lợi. Điều này cũng tác
động không nhỏ đến hoạt động kinh doanh của công ty Vinafreight. Nhìn vảo bảng 2.8
dưới đây, ta sẽ thấy rõ hơn về tình hình hoạt động kinh doanh của công ty trong giai
đoạn 2011 – 2012