TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
=====***=====
NGUYỄN THỊ THÚY HẰNG
RÈN LUYỆN KỸ NĂNG VIẾT
CHO HỌC SINH LỚP 10
TRONG DẠY HỌC LÀM VĂN
Ở TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phƣơng pháp dạy học Ngữ văn
HÀ NỘI, 2015
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
=====***=====
NGUYỄN THỊ THÚY HẰNG
RÈN LUYỆN KỸ NĂNG VIẾT
CHO HỌC SINH LỚP 10
TRONG DẠY HỌC LÀM VĂN
Ở TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phƣơng pháp dạy học Ngữ văn
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học
ThS. Dƣơng Thị Mỹ Hằng
trình nghiên cứu trung thực và chưa từng công bố trong bất kì công trình
nghiên cứu nào khác.
Hà Nội, tháng 05 năm 2015
Sinh viên
Nguyễn Thị Thúy Hằng
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
HTBT
:
Hệ thống bài tập
Nxb
:
Nhà xuất bản
THPT
:
Trung học phổ thông
MỤC LỤC
2.3. Nội dung dạy học về rèn luyện kĩ năng viết trong chương trình Làm văn
10 ở THPT.................................................................................................... 23
2.3.1. Về chương trình Ngữ văn 10 ........................................................... 23
2.3.2. Về sách giáo khoa Ngữ văn 10 (Bộ chuẩn) .................................... 25
2.3.3. Nhận xét chung về chương trình và sách giáo khoa Làm văn 10 ... 26
Chương 3. HỆ THỐNG BÀI TẬP RÈN LUYỆN KỸ NĂNG VIẾT CHO
HỌC SINH LỚP 10 TRONG DẠY HỌC LÀM VĂN ................................... 28
3.1. Hệ thống bài tập rèn luyện kỹ năng viết ............................................... 28
3.1.1. Rèn luyện kỹ năng tìm hiểu đề ........................................................ 28
3.1.2. Rèn luyện kỹ năng tìm ý và lập dàn ý ............................................. 32
3.1.3. Rèn luyện kỹ năng viết bài văn ....................................................... 42
3.1.4. Rèn luyện kỹ năng sửa chữa ........................................................... 53
3.2. Quy trình chung rèn luyện kỹ năng viết ............................................... 56
KẾT LUẬN ..................................................................................................... 58
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Khóa luận tốt nghiệp
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
1.1. Trong thời đại ngày nay, khoa học công nghệ và thông tin trên toàn thế
giới phát triển mạnh mẽ. Trước tình hình đó, ngành giáo dục đã có những biến đổi
to lớn cả về nội dung và phương pháp dạy học để phù hợp với sự phát triển của xã
hội, đưa đất nước hội nhập cùng thế giới. Mục tiêu giáo dục trong thời đại mới được
xác định: không chỉ dừng lại ở chỗ giúp học sinh tiếp thu kho tàng kiến thức, năng
lực mà còn phải giúp học sinh có khả năng vận dụng một cách linh hoạt những kiến
thức, kỹ năng đó vào thực tiễn cuộc sống.
Dạy và học trong nhà trường đang đứng trước yêu cầu đổi mới toàn diện từ
phương hướng, mục tiêu đến nội dung và phương pháp dạy học ở tất cả các cấp học,
bậc học. Nghị quyết 29 về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo nêu rõ
gắn với nội dung bài học, không chỉ cung cấp cho học sinh cách hiểu về nội dung
mà còn giúp học sinh tư duy, sáng tạo, hình thành năng lực, qua các bài tập học sinh
biết cách ứng dụng vào thực tiễn. Rèn kỹ năng chính là đóng góp vào sự phát triển
năng lực cho học sinh.
1.3. Là một bộ phận trong chương trình Ngữ văn 10, phần Làm văn cùng với
Văn học và Tiếng Việt, thực hiện mục tiêu nghe, nói, đọc, viết; góp phần hình thành
nhân cách tốt đẹp và các năng lực trong sự phát triển toàn diện của mỗi cá nhân học
sinh. Nó có vị trí đặc biệt trong quá trình dạy học tiếng mẹ đẻ bởi vì: phân môn Làm
văn sử dụng và hoàn thiện một cách tổng hợp các kiến thức và kỹ năng tiếng Việt
đã hình thành; rèn cho học sinh kỹ năng sản sinh ngôn bản, nhờ đó tiếng Việt không
chỉ được xem xét từng phần, từng mặt qua từng phân môn và trở thành một công cụ
tổng hợp để giao tiếp. Do vậy, phân môn Làm văn đã thực hiện mục tiêu cuối cùng,
quan trọng nhất của dạy học tiếng mẹ đẻ là dạy học sinh sử dụng được tiếng Việt để
giao tiếp, tư duy, học tập. Như vậy, thực hành trong Làm văn là việc làm vô cùng
quan trọng đối với học sinh. Tuy nhiên, trên thực tế, kết quả dạy học Làm văn vẫn
chưa đáp ứng được sự mong đợi, hoạt động thực hành trong phân môn này còn bộc
lộ những hạn chế. Giờ học Làm văn vẫn bị giáo viên và học sinh thờ ơ, và cũng là
giờ dạy và học sơ sài qua loa nhất trong bộ môn Ngữ văn. Hiện nay, dư luận hết sức
lo lắng khi hiện tượng làm văn của học sinh còn nhiều yếu kém. Nhiều bài văn kỹ
năng viết non yếu, câu chữ lộn xộn, sao chép máy móc, sai nhiều lỗi chính tả… Khi
yêu cầu dạy học làm văn được đặt ra là không chỉ nhằm vào truyền thụ kiến thức
SVTH: Nguyễn Thị Thúy Hằng
2
Khóa luận tốt nghiệp
cho học sinh mà còn rèn luyện cho học sinh những kỹ năng cần thiết, hệ thống bài
tập vẫn quá đơn điệu, ít ỏi, chưa có sự phong phú về kiểu loại nhằm đáp ứng đúng
mục đích rèn luyện. Các bài làm văn trong hệ thống sách giáo khoa Ngữ văn 10 đã
Khóa luận tốt nghiệp
viết của các giáo sư, các nhà nghiên cứu đầu ngành giàu tâm huyết với môn Làm
văn nói chung trong nhà trường phổ thông.
Các tác giả Phan Trọng Luận, Trương Dĩnh, Nguyễn Thanh Hùng, Trần Thế
Phiệt trong cuốn “Phương pháp dạy học Văn” bên cạnh việc đánh giá toàn diện,
chính xác và sâu sắc về vị trí riêng, phương pháp dạy học và tình hình dạy học phân
môn Làm văn trong nhà trường thì các tác giả còn chỉ ra các vấn đề có tính chất
nguyên tắc và phương pháp trong dạy học Làm văn, ở những việc cụ thể như dạy lý
thuyết, việc ra đề kiểm tra, việc chấm, trả bài cho học sinh.
Trong nước cũng có nhiều công trình nghiên cứu tập trung chính vào hướng
nghiên cứu về kỹ năng viết. Sách Ngữ pháp văn bản và việc dạ làm văn của
Nguyễn Trọng Báu - Nguyễn Quang Ninh - Trần Ngọc Thêm (NXBGD, Hà Nội1985)[2] trình bày một cách tinh giản những vấn đề và kết quả nghiên cứu hiện có
trong lĩnh vực ngữ pháp văn bản và dạy Làm văn như một ứng dụng và thiết thực
nhất của ngữ pháp văn bản. Các tác giả đã đưa ra một số vấn đề cơ bản của ngữ
pháp văn bản như lĩnh vực viết câu, sự ra đời của ngữ pháp văn bản, liên kết câu,
chỉnh thể trên câu đoạn văn.
Phương pháp dạy học tiếng Việt của Lê A (chủ biên), Nguyễn Quang Ninh,
Bùi Minh Toán - NXBGD, 2003, trong chương 7 đã trình bày phương pháp dạy học
Làm văn [1,tr.185-238]. Các tác giả đã cung cấp một số tiền đề lý thuyết của việc
dạy Làm văn. Phương pháp dạy học Làm văn đề cập đến phương pháp dạy lý
thuyết, phương pháp dạy thực hành, phương pháp ra đề làm văn, phương pháp chấm
và trả bài làm văn. Phần cuối chương là một số kỹ năng làm văn cần rèn luyện cho
học sinh gồm sáu kỹ năng. Đó là kỹ năng xác định nội dung, yêu cầu của đề bài và
phương hướng triển khai bài viết, kỹ năng lập ý, kỹ năng viết đúng theo dàn ý, kỹ
năng lập luận, kỹ năng hành văn, kỹ năng hoàn thiện bài viết. Ở kỹ năng hành văn,
các tác giả đặt vấn đề “Có thể gộp vào kỹ năng hành văn cả những năng lực sử
dụng các đơn vị ngôn ngữ ở học sinh. Đó là kỹ năng dùng từ đặt câu, dựng đoạn”
[1,tr.236]. Vì khi học sinh làm văn, về cơ bản, chỉ chú ý chạy theo nội dung, bám
sát các ý, chưa quan tâm tới việc lựa chọn phương tiện thể hiện nội dung đó như thế
thức….Đã xác định làm văn là bộ môn thực hành thì bài làm phải nhiều. Hiện nay
bài làm văn chỉ qu định một năm có tám bài mà hiện có xu thế bớt xuống còn sáu
bài với lý do giáo viên đứng lớp phải chấm bài nhiều quá. Điều nà liên quan đến
định mức lao động cho giáo viên văn hiện nay rất bất hợp lý. Phải qu định định
mức theo yêu cầu đào tạo chứ không phải làm ngược lại. Theo chúng tôi nếu hạ
SVTH: Nguyễn Thị Thúy Hằng
5
Khóa luận tốt nghiệp
mức bài làm xuống thì đã giảm sút tính thực hành của môn làm văn”[15, tr.61].
GS Trần Thanh Đạm cũng cho rằng: “…Dạ văn dạy tiếng mà không dạy
làm văn (tức là không có thực hành) thì xem như chưa dạy”[4, tr.100].
Nhà giáo Hà Thúc Hoan khẳng định: “…Dạ làm văn học làm văn dù
không thể bỏ qua phần lý thuyết nhưng thầy cô giáo và sinh viên, học sinh phải đặc
biệt chú trọng phần thực hành để rèn luyện k năng. Học làm văn cũng giống như
học bơi vấn đề không phải là đứng ở trên bờ để bàn luận về cách thức bơi mà phải
nhảy xuống nước và làm đi làm lại một số động tác. Vì lẽ nà chúng tôi thường cho
nhiều ví dụ trong mỗi bài giảng lý thuyết và cuối mỗi bài lý thuyết đều có nhiều bài
tập thực hành”[5, tr.8]. Những yêu cầu về bài tập làm văn cũng đã được đề cập đến,
nhà giáo Đỗ Kim Hồi cho rằng: “Là một hoạt động thực hành giao tiếp, bài tập làm
văn nhất thiết không thể không có mục đ ch giao tiếp của mình”[6, tr.7].
GS Trần Đình Sử phát biểu: “Hình thức luyện tập bài văn cần phải đa dạng,
ngoài bài tập nói, bài là văn thông tường hiện nay cần phải có thêm hình thức rút
ngắn hay mở rộng đoạn văn”[15, tr.60].
TS Trần Thanh Bình đã đặt ra vấn đề gắn bó ngữ pháp với tập làm văn,
hướng tới loại “bài tập văn bản”, đó là một dạng bài tập ngữ pháp để tạo cơ sở cho
sự tích hợp giữa ngữ pháp và làm văn nhưng chưa phải là bài tập làm văn “Vì trong
hệ thống bài tập dạy học tiếng Việt, việc rèn luyện những kiến thức của phần văn
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hệ thống bài tập rèn luyện kỹ năng viết trong
phân môn Làm văn của bộ môn Ngữ văn 10. Trên cơ sở đó, đề xuất xây dựng hệ thống
bài tập để phát triển kỹ năng viết phù hợp với thực tế và khả năng viết văn của học
sinh.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Trong phạm vi cho phép của đề tài, chúng tôi tìm hiểu hệ thống bài tập trong
phần Làm văn của sách giáo khoa Ngữ văn 10 (Bộ chuẩn). Đây là vấn đề luận văn
quan tâm và cũng là cơ sở quan trọng để có thể xây dựng được một hệ thống bài tập
rèn luyện kỹ năng viết văn của học sinh khối lớp 10 nói riêng và học sinh THPT nói
chung.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Triển khai đề tài này chúng tôi sử dụng một số phương pháp sau:
5.1. Phương pháp điều tra, khảo sát, thống kê, phân loại
Phương pháp này được sử dụng trong việc tiến hành điều tra thực tiễn dạy
học Làm văn và việc sử dụng hệ thống bài tập làm văn trong sách giáo khoa của
SVTH: Nguyễn Thị Thúy Hằng
7
Khóa luận tốt nghiệp
giáo viên và học sinh. Từ đó, khảo sát, thống kê, phân loại và phân tích kết quả
khảo sát thực trạng của học sinh trước khi tiến hành thực nghiệm, phân tích kết quả
thực nghiệm.
5.2. Phương pháp phân tích ngôn ngữ
Phương pháp phân tích ngôn ngữ là quan sát, phân tích các hiện tương ngôn
ngữ theo các chủ đề nhất định và chỉ rõ đặc trưng giữa chúng. Vận dụng phương
pháp này khi tiến hành hoạt động thực hành làm văn, học sinh tập so sánh, phân tích
các lỗi mà các em phạm phải khi diễn đạt: lỗi về dùng từ, viết câu. Trên cơ sở đó,
hướng dẫn học sinh cách vận dụng ngôn ngữ vào tạo lập văn bản.
trên cơ sở tổ hợp những tri thức và kỹ xảo. Kỹ năng được hình thành bằng con
đường luyện tập tạo khả năng cho con người thực hiện hành động không chỉ
trong điều kiện quen thuộc mà ngay cả trong điều kiện thay đổi”.
Theo Từ điển tiếng Việt, kỹ năng là khả năng vận dụng những kiến thức
trong một lĩnh vực nào đó vào thực tế.
Các nhà Giáo dục học phân tích kỹ năng thành hai loại: kỹ năng bậc một và
kỹ năng bậc hai.
Kỹ năng bậc một là kỹ năng thực hiện đúng hành động, hoạt động phù hợp
với những mục tiêu và điều kiện cụ thể tiến hành hành động ấy, cho dù hành động
SVTH: Nguyễn Thị Thúy Hằng
9
Khóa luận tốt nghiệp
cụ thể hay hành động trí tuệ. Loại kỹ năng này thông qua luyện tập tới mức hoàn
hảo, các thao tác được diễn ra hoàn toàn tự động hóa không cần có sự hiện diện của
ý thức hoặc sự tham gia của ý thức rất ít thì biến thành kỹ xảo. Ví dụ kỹ năng viết,
đi xe đạp....
Kỹ năng bậc hai là khả năng thực hiện hành động, hoạt động một cách thành
thạo, linh hoạt, sáng tạo, phù hợp với những mục tiêu trong những điều kiện khác
nhau. Trong kỹ năng bậc hai yếu tố linh hoạt sáng tạo là yếu tố cơ bản, đó là cơ sở
cho mọi hoạt động đạt hiệu quả cao.
Theo Lê A - Nguyễn Trí, quan niệm về kỹ năng được hiểu như một khả năng
của con người có thể hoàn thành các nhiệm vụ trong những điều kiện mới dựa trên
những tri thức và kinh nghiệm đã được tích lũy và một loạt các kỹ xảo trong mối
quan hệ mật thiết với nhau. Trong quá trình lĩnh hội và sáng tạo văn bản, kỹ năng và
kỹ xảo luôn có mối quan hệ biện chứng với nhau.
Theo Tâm lí học lứa tuổi và tâm lí học sư phạm, kỹ năng là “khả năng vận dụng
kiến thức (khái niệm, cách thức, phương pháp...) để giải quyết một nhiệm vụ mới”.
Giai đoạn làm thử theo mẫu cung không kém phần quan trọng. Ở giai đoạn
này, con người một mặt thực hiện các thao tác theo mẫu để hình thành kỹ năng, một
mặt con người đối chiếu với tri thức về hành động và điều chỉnh các thao tác hành
động nhằm đạt kết quả, giảm bớt những sai sót trong quá trình hành động.
Sau khi làm thử để nắm vững các cách thức hành động, người ta phải tiến
hành luyện tập để hoàn thiện kỹ năng. Ở giai đoạn này các tri thức về hành động
được củng cố nhiều hơn, các tri thức hành động cũng được ôn luyện có hệ thống
làm cho người ta nắm chắc hành động hơn. Đến đây có thể nói kỹ năng được hình
thành. Tuy nhiên đến đây kỹ năng vẫn chưa ổn định. Kỹ năng chỉ thực ổn định khi
người ta hành động có kết quả trong những điều kiện khác nhau. Tâm lí học hiện
đại đã khẳng định: “Chỉ trong họat động thì kỹ năng mới hình thành và phát triển”.
Như vậy bài tập là một tập hợp yêu cầu hoạt động để đạt tới kết quả nào đó. Nếu
làm một kiểu bài tập cùng kiểu lặp đi lặp lại tới mức độ cần thiết thì sẽ hình thành
được kỹ năng tương ứng.
1.2. Kỹ năng giao tiếp
1.2.1. Khái niệm
Giao tiếp là một hoạt động rất phong phú, đa dạng và phức tạp của con
người. Giao tiếp vừa biểu hiện văn hóa của mỗi người, vừa biểu hiện mức độ văn
minh của xã hội. Chính vì vậy, giao tiếp là một mặt quan trọng trong công tác giáo
SVTH: Nguyễn Thị Thúy Hằng
11
Khóa luận tốt nghiệp
dục và đào tạo ở nước ta. Đặc biệt, môn Ngữ văn, với tư cách là môn học công cụ,
có nhiệm vụ rèn luyện các kỹ năng giao tiếp cho học sinh.
Kỹ năng giao tiếp được hiểu là khả năng nhận biết nhanh chóng những biểu
hiện bên ngoài và diễn biến tâm lý bên trong, đồng thời biết sử dụng yếu tố ngôn
ngữ và phi ngôn ngữ, biết cách định hướng và điều khiển quá trình giao tiếp đạt
một kinh nghiệm hay về một sự kiện nào đó mà người nghe hiểu được điều chúng
ta muốn nói. Hoạt động nói chịu ảnh hưởng của các nhân tố sau: Nhân vật giao tiếp,
đối tượng giao tiếp, hoàn cảnh giao tiếp, mục đích giao tiếp,..
Những điều kiện để nói hiệu quả:
+ Nội dung bài nói tốt
+ Hiểu biết sâu rộng, kĩ càng về nội dung cần trình bày
+ Xác định đúng đối tượng nói và mục đích nói
+ Người nói phải có uy tín
+ Giọng nói tốt
1.2.1.3. Kỹ năng đọc
Đọc là hoạt động cơ bản của con người để chiếm lĩnh văn hóa. Đọc là hoạt
động tiếp nhận thông tin bằng mắt và có hoặc không sử dụng bộ máy phát âm. Hàng
ngày chúng ta thực hiện hoạt động đọc như: Đọc truyện, sách báo, biển báo (trường
học, cơ quan…), nhãn hàng hóa, thông tin, quảng cáo... để tiếp nhận thông tin.
Bản thân việc đọc đã có nhiều mức độ từ đọc thông, đọc thuộc, không vấp váp
về ngữ âm, nghĩa từ, biết ngừng giọng đúng chỗ là một trình độ. Bước hai là đọc kỹ,
đọc sâu để biết được cách hành văn, sắp xếp ý, dụng ý trong dùng từ, ngắt câu, chơi
chữ. Bước thứ ba là đọc hiểu cái thông điệp mà văn bản gửi đến cho người đọc là một
mức rất cao. Nhưng đọc văn là để cảm, đế sống, để thưởng thức, để dùng, để tự phát
triển bản thân, cho nên đọc sáng tạo và đọc sử dụng là khâu cao nhất. Người đọc phải
tìm được cái nghĩa mà người đọc trước chưa thấy, thậm chí hiểu cái nghĩa ngoài tầm
kiểm soát của tác giả. Đó đã là đọc sáng tạo. Trong các khâu đọc đó, đọc hiểu là khâu
cơ bản nhất, nó bắt đầu từ hiểu từ, hiểu câu, hiểu đoạn, hiểu liên kết, hiểu nghĩa toàn
bài. Có hiểu đúng thì mới nói chuyện hiểu sáng tạo.
Trong nhà trường, học sinh đọc các tài liệu học tập. Qua việc tiếp xúc với
các loại văn bản trong chương trình học, vốn kiến thức ngôn ngữ, văn học, khoa
học, nghệ thuật,... của học sinh cũng sẽ tăng dần lên. Vốn từ vựng và ngữ pháp của
các em ngày một phong phú, vững vàng, có tác dụng tích cực cho việc rèn luyện tư
duy, rèn kỹ năng diễn đạt gọn gàng, trong sáng.
Kỹ năng viết bao gồm nhiều kỹ năng bộ phận khác nhau:
- Kỹ năng tìm hiểu đề
- Kỹ năng tìm ý và lập dàn ý
- Kỹ năng viết bài văn
SVTH: Nguyễn Thị Thúy Hằng
14
Khóa luận tốt nghiệp
- Kỹ năng sửa chữa
Ngoài ra, trong mỗi kỹ năng này còn có các tiểu kỹ năng. Mỗi một kỹ năng
bộ phận lại hướng tới một nhiệm vụ cụ thể. Do đó, trong quá trình tạo lập văn bản
của học sinh, cần chú trọng việc rèn luyện các kỹ năng bộ phận trong kỹ năng viết
cho các em.
1.3. Kỹ năng viết trong môn Ngữ văn
Kỹ năng viết là một trong bốn kỹ năng giao tiếp chính của môn học Ngữ văn.
Kỹ năng viết nói chung và trong môn Ngữ văn nói riêng chỉ có thể hình thành bằng
con đường luyện tập, tạo ra các năng lực thực hiện hành động không chỉ trong
những điều kiện quen thuộc mà cả trong những điều kiện thay đổi. Đối với môn
Ngữ văn, kỹ năng viết được biểu hiện bằng việc luyện tập thông qua hệ thống bài
tập trong chương trình.
Theo chương trình đổi mới, nội dung môn Ngữ văn từ lớp 1 đến lớp 12 được tổ
chức theo bốn mạch chính, tương ứng với bốn kỹ năng giao tiếp cơ bản. Bốn mạch kỹ
năng này được triển khai thành hệ thống các chuẩn cần đạt đối với từng kỹ năng.
Dạy học theo hướng đổi mới, kỹ năng viết cũng xây dựng được những chuẩn
cần đạt cần thiết. Chuẩn cần đạt thể hiện những điều học sinh cần biết và có thể làm
được sau khi học. Hệ thống chuẩn này cũng là căn cứ để xác định được những nội
dung, phương pháp dạy học và phương pháp đánh giá thích hợp đối với mỗi lớp
học, cấp học.
hay một số văn bản cụ thể (phổ biến ở dạng bài viết phân tích tác phẩm văn học).
Đánh giá kỹ năng phân tích, bàn luận về một đề tài cụ thể (phổ biến ở dạng
bài nghị luận xã hội có đề tài mở).
Đánh giá kỹ năng tạo lập văn bản đáp ứng một nhu cầu cụ thể trong đời sống
như viết thư, báo cáo, quảng cáo,...
Việc đánh giá kỹ năng viết phải dựa vào nhiều tiêu chí khác nhau. Tùy vào
kiểu bài viết mà tiêu chí đánh giá có những khác biệt nhất định.
Về nội dung: Khả năng hiểu văn bản, chủ đề tư tưởng, quan điểm và ý định
của tác giả văn bản; khả năng nắm được đặc trưng thể loại văn bản; tính sáng tạo,
độc đáo của các ý tưởng được trình bày; khả năng tập trung vào đề tài đang bàn.
Về hình thức ngôn ngữ: Chuẩn mực về chính tả, từ vựng, ngữ pháp, phong cách
và ngữ dụng (phù hợp với ngữ cảnh, nhất là với đối tượng tiếp nhận và mục đích viết).
Cần chú ý đến khả năng dùng từ ngữ và cấu trúc câu đa dạng của người viết.
Về kết cấu: Mức độ phù hợp với các thể loại văn bản như văn bản miêu tả,
văn bản tự sự, văn bản biểu cảm, văn bản thuyết minh, văn bản nghị luận văn học
và xã hội; tính liên kết và mạch lạc trong phạm vi một đoạn văn và giữa các đoạn
văn trong một văn bản.
Về khả năng biểu đạt và lập luận: Mức độ biểu đạt rõ ràng, lôgic và có hiệu
quả các ý tưởng; khả năng phân tích, suy đoán, lập luận và sử dụng các lí lẽ, bằng
chứng (chi tiết, số liệu hay các ví dụ về người thật, việc thật,...) hỗ trợ cho các quá
trình đó.
Giáo viên đánh giá học sinh và cho các em tự đánh giá các công đoạn của
quá trình viết: từ suy nghĩ, quan sát, nghiên cứu, chọn đề tài; cho đến tìm kiếm và
SVTH: Nguyễn Thị Thúy Hằng
16
Khóa luận tốt nghiệp
xử lí tư liệu, viết bản thảo, sửa chữa, hoàn thiện và trình bày/công bố.
17
Khóa luận tốt nghiệp
động buộc người học tái hiện những kiến thức, giải quyết vấn đề trên cơ sở những
điều đã biết hoặc kết nối những kiến thức, giải quyết vấn đề dựa trên việc tìm kiếm
phương pháp mới qua đó nắm vững tri thức, rèn luyện và phát triển kỹ năng.
b. Hệ thống bài tập
Trong cuốn “Từ điển Từ và ngữ Hán Việt” [7] khái niệm hệ thống được hiểu
là: tập hợp những bộ phận có liên hệ chặt chẽ với nhau; thứ tự sắp xếp có quy củ; sự
liên tục. Bản chất cốt lõi của khái niệm hệ thống được thể hiện ở hai khía cạnh: Thứ
nhất là mối quan hệ nội tại có tính lôgic rất rõ của từng thành tố riêng biệt với
những thành tố khác trong một dãy các thành tố; thứ hai là tính chất tổng thể, hợp
thành của một đối tượng từ những thành tố bộ phận cùng loại hay có cùng chức
năng. Như vậy, khái niệm hệ thống được hiểu là tập hợp những thành tố có liên hệ,
quan hệ với nhau, tác động lẫn nhau tạo nên một chỉnh thể mới. Và hệ thống bài tập
là một tập hợp với nhiều bài tập khác nhau được xếp thành các nhóm (trong mỗi
nhóm có thể có những nhóm nhỏ hơn) theo một trình tự có chủ đích nhất định.
Theo quan điểm đổi mới bộ môn, hệ thống bài tập làm văn được xác định là
phương tiện thực hành nhằm tạo dựng và phát triển năng lực của học sinh. Học sinh
phổ thông ở các lứa tuổi khác nhau, trình độ khác nhau thì yêu cầu về năng lực sử
dụng ngôn ngữ cũng khác nhau, cách thể hiện các kỹ năng sử dụng ngôn ngữ cũng
rất khác nhau. Vì vậy, cần xuất phát từ hệ thống những kỹ năng sử dụng trong Làm
văn để thiết kế hệ thống bài tập. Điều đó cũng có nghĩa là xuất phát từ bản chất của
một kỹ năng cụ thể để thiết kế một hệ thống bài tập làm văn tương ứng tương ứng.
Hệ thống bài tập định hướng phát triển năng lực chính là công cụ để học sinh luyện
tập nhằm hình thành năng lực và là công cụ để giáo viên và các cán bộ quản lý giáo
dục kiểm tra, đánh giá năng lực của học sinh và biết được mức độ đạt chuẩn của quá
trình dạy học.
Theo yêu cầu rèn luyện kỹ năng, hệ thống bài tập được xây dựng vừa sức,