UBND TỈNH AN GIANG
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
Số : 28 /HD-SGDĐT
V/v : Hướng dẫn đánh giá và rèn
luyện kĩ năng viết cho HS tiểu học
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Long Xuyên, ngày 03 tháng 8 năm 2010
Kính gửi : Trưởng phòng GDĐT các huyện, thị, TP
Tiếp tục đẩy mạnh phong trào “Vở sạch – chữ đẹp” nhằm góp phần cải thiện
chất lượng giáo dục ở cấp tiểu học, qua kết quả khảo sát rộng rãi của Tổ bộ môn Tiếng
Việt từ năm học 2007-08 đến 2009-10 trên khắp các địa bàn về thực tế dạy-học, rèn
luyện kĩ năng viết của GV và HS, những mặt mạnh và yếu trong công tác này đã được
nhận diện. Mặc dù phần lớn thầy cô đều tỏ ra cố gắng trong dạy Tập viết, Chính tả và
các phân môn khác, dù đa số HS đều có đủ sách giáo khoa Tiếng Việt, có vở Tập viết
và một số dụng cụ học tập cần thiết, song tỉ lệ HS viết chữ đúng mẫu, đúng chính tả,
trình bày sạch đẹp, có tư thế ngồi, cách cầm bút đúng cách vẫn còn khá thấp, chỉ đạt
khoảng trên 36%.
Nơi này hay nơi khác,
vai trò mẫu mực
của một số thầy cô giáo chưa được
thể hiện, nhiều HS
cầm bút không đúng cách
,
viết chữ xấu
,… dẫn đến hiệu quả dạy – học
thấp đòi hỏi chúng ta phải nỗ lực thật nhiều trong năm học 2010-2011 cũng như những
năm học sắp tới.
Để giúp cán bộ quản lí có cơ sở đánh giá/ rút kinh nghiệm, giúp GV nắm bắt
những nội dung rèn luyện kĩ năng viết cho HS, Sở có những nhận định, đánh giá và
hướng dẫn thực hiện cụ thể về mảng công tác này như sau :
giữa các hàng không đều. Cá biệt, có GV không mang theo vở Tập viết đến lớp, phải
mượn của HS.
Nhiều GV chưa chú ý nhắc nhở thường xuyên việc bảo quản, giữ gìn sách
vở, tư thế ngồi, vị trí đặt vở, cách cầm bút, ý thức viết chữ đẹp của HS. Hoặc chỉ quan
tâm nhắc nhở HS trong các tiết Tập viết, Chính tả. Phần lớn chỉ tập trung cho dạy kiến
thức từng bài học là chủ yếu.
Còn nhiều GV chấm chữa bài thiếu thường xuyên, một số GV còn để sót
lỗi chính tả, ít sửa sai cho HS, nhất là bài luyện viết ở nhà. Nhiều GV chỉ quan tâm cho
điểm bài tập chính tả, không chú ý chữa bài, chưa giúp HS diện trung bình/yếu biết
được những chỗ sai sót để sửa chữa, rèn luyện. Ít lưu ý HS bằng những nhận xét thiết
thực, khi cho điểm lại thường quá rộng rãi.
GV thiếu chỉ dẫn cho HS biết cách trình bày vở; thiếu kiểm tra vở HS
thường xuyên; việc chấm điểm vở sạch – chữ đẹp hàng tuần, hàng tháng chưa đi vào
thực chất khiến nhiều HS chưa biết cách trình bày vở.
Nhiều GV còn đọc sai nhiều âm, vần do hạn chế về phát âm của địa
phương
(trong đó có nhiều GV người dân tộc thiểu số)
nên khó sửa chữa uốn nắn HS, nhất
là HS dân tộc. Tốc độ đọc của một số GV có khi không phù hợp với khối lớp, trình độ
HS. GV đọc quá nhanh khiến HS phải chạy đua theo thời gian, chữ viết vì thế không
đẹp, không đúng mẫu. Khả năng sư phạm của nhiều GV đối với chương trình hiện
hành còn nhiều bất cập, thậm chí “quá tầm” đối với một số người.
Phần lớn GV không có thói quen tra tự điển phục vụ cho soạn bài, lên lớp.
Một bộ phận nhỏ GV trình bày bảng vẫn sai chính tả.
GV các lớp đầu cấp, đặc biệt là lớp 1 chưa có ý thức đầy đủ về vai trò
quan trọng đặc biệt của mình trong hướng dẫn HS ngồi viết, cầm bút đúng quy định.
Chưa thật tận tâm, tỉ mĩ trong hướng dẫn HS luyện viết, kể cả đối tượng HS trung
bình/ yếu. Nhiều thầy cô thiếu bao quát lớp để nhắc nhở HS kịp thời.
2- Về phía học sinh :
2.1- Những điểm mạnh :
Việc bôi xoá hay bỏ vở tuỳ tiện còn khá nhiều. Có em HS viết bỏ dòng, bỏ
trang hoặc không sửa lỗi chính tả. Một số HS khác lại để trống một số bài. Vẫn còn
hiện tượng một số HS viết sẵn trước bài Tập viết
(dành cho luyện tập trên lớp)
ở nhà.
Một số ít HS không có vở Tập viết hoặc quên mang theo.
Còn nhiều HS không có góc học tập, không có chỗ để luyện viết ở nhà.
Việc bảo quản SGK thuộc tủ sách dùng chung chưa tốt, dù đã được bao
bìa cẩn thận. Nhiều quyển do dùng đã nhiều năm, bị nhàu nát, quăn góc, vẽ bậy, thậm
chí bị mất một số trang.
Một số HS còn thiếu bảng con hoặc bảng không còn nguyên vẹn, hàng kẻ
mờ không đáp ứng được việc luyện tập viết chữ đúng mẫu, đúng cỡ.
Có thể khẳng định HS viết chưa tốt là do các em đã có thói quen ngồi
viết, cầm viết,… chưa đúng cách nhưng GV thiếu nhắc nhở, chưa điều chỉnh kịp thời
hoặc nhắc nhở không thường xuyên, chưa thực sự quan tâm sửa chữa, uốn nắn chữ
viết của đối tượng HS trung bình, yếu.
II- NHỮNG QUY ĐỊNH/ KHUYẾN CÁO VỀ RÈN LUYỆN KĨ NĂNG VIẾT
1- Đối với cán bộ quản lí :
Nâng cao chất lượng phong trào
“Giữ vở sạch – Viết chữ đẹp”
. Xem đây là một
là việc làm không thể thiếu trong hoạt động của nhà trường.
Kì thi “Viết chữ đẹp”
dành
cho GV ở cấp trường được tổ chức đồng loạt với sự tham gia của tất cả GV. Phòng
GDĐT ra đề, các trường chấm theo đáp án, biểu điểm của Phòng, sau đó gởi kết quả
về Phòng. Trên cơ sở đó, Phòng GDĐT xem xét số lượng GV có chữ viết chưa đúng
3
chưa đẹp để có kế hoạch giúp đỡ như tổ chức lại chuyên đề Tập viết hoặc các chuyên
đề khác hỗ trợ cho việc viết chữ đẹp của GV. Duy trì chất lượng hội thi “Viết chữ đẹp”
thực tế, xây dựng nền nếp dạy – học của GV và HS.
2- Đối với giáo viên :
GV phải coi vai trò mẫu mực của mình trong viết chữ và rèn luyện cho HS
viết chữ đẹp là 1 mục tiêu phấn đấu hàng đầu của một người thầy.
Quan tâm hướng dẫn, uốn nắn tư thế ngồi, cách cầm bút, thứ tự nét viết từng
con chữ, từng chữ (tiếng) cho HS ngay từ lớp 1 để tạo nền nếp ngồi viết đúng, tốt ngay
từ đầu cấp. Kiên quyết sửa chữa những em có thói quen xấu.
GV phải tăng cường khâu quản lí lớp trong từng tiết dạy, quan tâm đặc biệt
đến những đối tượng HS yếu/kém. Chấm chữa bài kĩ lưỡng, cho điểm và nhận xét
đúng đắn, chỉ ra những chỗ cần sửa chữa để HS có điều kiện khắc phục.
Chúng tôi cũng mong mỏi các Trường Sư phạm nên có quy trình đào tạo các
giáo sinh về cách cầm bút, chữ viết, hình thức trình bày chuẩn mực
(có thể xem xét từ
khâu thi tuyển đầu vào),
bên cạnh kĩ năng phát âm tốt,
sẵn sàng thích nghi cho công tác
đứng lớp sau này.
4
Qua các số liệu thống kê trong 3 năm khảo sát ở khắp các địa bàn, chất
lượng kĩ năng viết của HS thường chỉ “đẹp” ở các tiết dạy được đánh giá kết quả
chung là “tốt”.
Thầy có dạy tốt thì trò mới học tốt được ! Thầy có cầm bút chuẩn mực thì trò
mới cầm bút đúng. Thầy có viết chữ đúng mẫu, đẹp, đúng chính tả thì trò mới có thể
viết đẹp, đúng mẫu, đúng chính tả. Từ đó có thể khẳng định : chính tinh thần trách
nhiệm, lương tâm chức nghiệp và năng lực giảng dạy, phương pháp xây dựng nền nếp
lớp của GV đã ảnh hưởng quyết định đến kĩ năng viết chữ – nói riêng – và chất lượng
học tập – nói chung – của HS tiểu học hiện nay.
3- Đối với cơ sở vật chất/ dụng cụ dạy - học :
Trang bị
dựng trong những năm gần đây có diện tích chỉ khoảng 36m
2
, có những lớp HS phải
ngồi 3 em/ bàn nên rất chật, khó viết.
III. QUY TRÌNH KHẢO SÁT KĨ NĂNG VIẾT Ở 1 TRƯỜNG TIỂU HỌC :
Quy trình khảo sát kĩ năng viết của HS tại một trường tiểu học của một nhóm công tác/
cá nhân từ nơi khác đến, gồm những bước như sau :
1. Trao đổi mục đích yêu cầu, xác định các lớp khảo sát với BGH (đầu buổi).
2. Dự giờ môn Tiếng Việt cả 5 khối lớp (tuỳ thời khoá biểu, ưu tiên dự các tiết
Tập viết, Chính tả, Tập làm văn), tránh làm xáo trộn TKB của từng lớp.
Trong quá trình dự giờ, mỗi nhóm/ thành viên kết hợp thực hiện các công việc
sau đây :
a) Xem xét, đánh giá kĩ năng viết chữ (đúng mẫu, đúng chính tả), bảo quản
dụng cụ học tập (chú ý tập vở, sách giáo khoa) của HS.
b) Xem xét, đánh giá năng lực sư phạm của GV, tập trung ở các phần trình
bày bảng, chữ viết, phát âm, chấm chữa bài (đặc biệt các bài tập viết, chính tả, TLV).
c) Khảo sát kĩ năng viết của HS qua 1 bài Chính tả (do nhóm trưởng chọn,
GV lớp đọc), kết hợp với việc xem xét tư thế ngồi, cách cầm bút, sách vở, dụng cụ học
tập…
5
3. Làm việc nhóm : Hoàn thành Phiếu dự giờ, chấm bài chính tả, lập Phiếu
đánh giá, nhận xét chung (sau khi kết thúc 1 – 2 tiết dự giờ).
4. Trao đổi, rút kinh nghiệm với BGH vào cuối buổi (đại diện mỗi nhóm lần
lượt trình bày kết quả dự giờ, khảo sát ghi nhận được, Tổ trưởng đúc kết). Có thể kết hợp
trao đổi, rút kinh nghiệm nội bộ về diễn tiến công việc, hiệu quả,
IV. BIỂU MẨU, CÔNG CỤ KHẢO SÁT
1. Phiếu dự giờ (theo mẫu Phiếu dự giờ hiện hành)
2. Phiếu đánh giá, nhận xét qua dự giờ, khảo sát (xem phụ lục 1)
3. Phiếu tổng hợp (xem phụ lục 2)
4. Bài chính tả (1 – 2 bài) có độ dài, độ khó thích hợp cho từng khối lớp; có
, do
“năng lực giảng dạy của GV”
và do
“điều kiện CSVC”.
Cuối cùng, nhóm/ cá nhân khảo sát đề xuất một số kiến nghị từ thực tế kết quả
khảo sát vừa được thực hiện. Những kiến nghị ở phiếu tổng hợp của 1 hoặc nhiều đơn
vị được tập hợp từ những phiếu khảo sát của từng lớp.
6
Đây cũng là cơ sở, là nội dung chính mà nhóm/ cá nhân khảo sát dùng để trao
đổi, làm việc, rút kinh nghiệm với lãnh đạo nhà trường/ GV được khảo sát vào cuối
buổi/ ngày làm việc.
Hoạt động khảo sát thực tế ở các lớp học nhằm giúp tìm biện pháp khắc phục
tình trạng yếu kém về kĩ năng viết của HS tiểu học là một hoạt động cần thiết và hiệu
quả. Thực tế cho thấy những thống kê về chất lượng giờ dạy của anh chị em GV (khảo
sát mẫu có trên 66%, khảo sát riêng có trên 18% số tiết được đánh giá trung bình hoặc
chưa đạt, thể hiện ở chữ viết, trình bày bảng, phát âm và chấm chữa bài) cho ra những
số liệu rất đáng tin cậy.
Từ những đợt khảo sát được thực hiện như hướng dẫn trên đây, sự quan tâm
của CBQL cũng như GV ở từng trường chắc chắn sẽ được nâng lên đáng kể, chất
lượng dạy – học được cải thiện mạnh mẽ tạo một bước đột phá trong công tác chuyên
môn, góp phần nâng cao công tác hướng dẫn rèn luyện kĩ năng viết cho HS tiểu học.
Chắc chắn kĩ năng viết của HS sẽ được cải thiện rõ rệt nếu có được sự tận tuỵ
chăm sóc, chỉ bảo, vai trò mẫu mực của thầy cô trong lớp, bởi các điều kiện sách vở,
bút, bảng con,… của hầu hết các em đã được đáp ứng. Hiệu quả rèn luyện kĩ năng viết
của HS chắc chắn sẽ còn được nhân lên gấp bội – khi được những thầy cô lãnh đạo
nhà trường vun đắp – là cơ sở, bệ phóng lí tưởng để các em phấn đấu vươn lên trên
con đường học tập và rèn luyện của mình.