Phòng GD – ĐT Phù Cừ Sáng kiến kinh nghiệm Ngữ văn 9
Sáng kiến kinh nghiệm Ngữ văn:
TÊN ĐỀ TÀI: RÈN LUYỆN KỸ NĂNG NÓI CHO HỌC SINH QUA
HOẠT ĐỘNG NHÓM TRONG TIẾT ĐỌC-HIỂU VĂN BẢN VÀ
TIẾT LUYỆN NÓI -NGỮ VĂN 9
PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ.
I/ LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1. Cơ sở lí luận của đề tài.
Hiện nay, các nước trên thế giới rất coi trọng dạy học theo quan điểm giao tiếp. Đây
là một trong những tư tưởng quan trọng của chiến lược dạy học các môn ngôn ngữ ở
trường phổ thông, lấy hoạt động giao tiếp là một trong những căn cứ để hình thành và
phát triển các hoạt động ngôn ngữ mà cụ thể là năng lực nghe, nói, đọc, viết.
Nếu như nghe, đọc là hai kỹ năng quan trọng của hoạt động tiếp nhận thông tin,
thì nói và viết là hai kỹ năng quan trọng của hoạt động bộc lộ, truyền đạt thông tin cần
được rèn luyện và phát triển trong nhà trường.
Nếu người thầy đóng vai trò chủ đạo hướng dẫn học sinh chủ động khám phá
chiếm lĩnh tác phẩm văn chương, thì người học (học sinh) phải tự mình bộc lộ sự hiểu
biết, phải biết phát triển tư duy thành lời - ngôn bản. Muốn cho người nghe hiểu cho
được thì người nói phải nói cho tốt, có nghĩa là nói phải mạch lạc, logic, phải bảo đảm
các qui tắc hội thoại, phải chú ý đến các cử chỉ, nét mặt, âm lượng… Vì thế, luyện nói
là việc rất quan trọng trong quá trình dạy- học văn, là biện pháp góp phần nâng cao
chất lượng hiệu quả của giờ dạy học Ngữ văn. Luyện nói tốt sẽ giúp người học sẽ có
được một công cụ giao tiếp hiệu quả trong cuộc sống xã hội.
2. Cơ sở thực tiễn của đề tài.
Trong thực tế giảng dạy ở trường thuộc địa bàn nông thôn, đa số học sinh chưa có
kỹ năng nói trước tập thể, rất ngại nói, không tự tin khi nói trước đông người. Đối với
học sinh ở trường nông thôn, trình độ có hạn, phần tiếp thu còn chậm so với học sinh ở
thị xã. Hơn nữa, thời gian học tập của các em rất hạn chế, bởi vì các em đa số con nhà
nông. Sau buổi học về các em còn rất nhiều công việc của gia đình nên có phần ảnh
hưởng đến việc học, nhất là đến vụ mùa. Với học sinh, các em có vẻ xem nhẹ hoạt
động nói trong giờ học.
học văn bản cũng như trong tiết luyện nói.
Đây cũng là kĩ năng vừa giúp các em thể hiện mình, tự bày tỏ những suy nghĩ
cảm xúc những điều cảm thụ, phân tích, đánh giá một cách tự tin trứơc tập thể. Vừa là
biện pháp có khả năng khắc phục đựơc những khó khăn, thực trạng mà chúng ta đang
quan tâm. Từ đó nâng cao chất lượng dạy học môn Ngữ văn.
Qua 5 năm giảng dạy bộ môn Ngữ Văn 9 với những thuận lợi và khó khăn mà
bản thân tôi đã gặp trong quá trình dạy học bộ môn nói chung và dạy học tiết luyện nói
nói riêng, tôi đã rút ra được những vấn đề mang tính kinh nghiệm. Tôi xin mạnh dạn
trình bày những sáng kiến của tôi về việc: “RÈN LUYỆN KỸ NĂNG NÓI CHO HỌC SINH
QUA HOẠT ĐỘNG NHÓM TRONG TIẾT ĐỌC-HIỂU VĂN BẢN VÀ TIẾT LUYỆN NÓI Ở
MÔN NGỮ VĂN 9 ”.
II. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI.
Như chúng ta đều biết, mục tiêu của dạy học môn Ngữ văn là hình thành những
con người có ý thức, có tư tưởng tình cảm cao đẹp, có năng lực cảm thụ các giá trị
chân, thiện, mỹ và đặc biệt là có khả năng thích ứng với cuộc sống năng động trong xã
hội hiện đại.
Dạy-học Ngữ văn không chỉ chú trọng dạy cái gì mà còn phải biết dạy như thế
nào đặc biệt trong xu hướng không ngừng đổi mới phương pháp dạy học hiện nay.
Quan điểm tích hợp và tích cực luôn chi phối các hoạt động dạy học Ngữ văn, nhất là ở
phần dạy-học Đọc- hiểu văn bản cũng như dạy các kĩ năng làm Tập làm văn. Một tiết
dạy-học Ngữ văn đạt hiệu quả trước hết phải tạo nên không khí hứng thú cho mỗi giờ
GV: Hà Thị Nhung – Trường THCS Tống Trân
2
Phòng GD – ĐT Phù Cừ Sáng kiến kinh nghiệm Ngữ văn 9
học. Không khí đó chỉ có được khi người dạy biết da dạng hóa các hình thức, biện
pháp dạy học.
Mặc khác, với tinh thần quan điểm dạy học mới, SGK Ngữ văn không chỉ chú
trọng nội dung mà còn chú trọng hình thức nhằm phục vụ cho việc đổi mới phương
pháp dạy-học.
Để đạt được những mục tiêu trên và thực hiện theo yêu cầu của phương pháp dạy
- Thực trạng của vấn đề dạy học bài luyện nói và khả năng nói của học sinh trước
một vấn đề.
Đối tượng áp dụng, thử nghiệm của đề tài là các em học sinh khối lớp 8,9 các năm học
mà bản thân đã phụ trách giảng dạy tại trường THCS Tống Trân.
GV: Hà Thị Nhung – Trường THCS Tống Trân
3
Phòng GD – ĐT Phù Cừ Sáng kiến kinh nghiệm Ngữ văn 9
IV. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tôi đã sử dụng phối hợp nhiều phương pháp điều
tra, nghiên cứu khác nhau. Sau đây là một vài phương pháp tiêu biểu:
+ Phương pháp quan sát và thu thập thông tin giúp tôi biết được thực tiễn của vấn đề
nghiên cứu.
+ Phương pháp điều tra thông qua phiếu điều tra và hoạt động giao tiếp nhằm tìm hiểu
những thuận lợi và khó khăn cũng như những mong muốn của học sinh trong tiết học
luyện nói cũng như trong những giờ thảo luận nhóm.
+ Phương pháp phân tích, phân loại áp dụng trong việc giải quyết các tình huống sư
phạm gặp phải, phân tích bản chất hiện tượng, phân nhóm hoạt động cho học sinh,…
+ Phương pháp tổng hợp áp dụng trong việc tổng hợp kết quả điều tra, kết quả nghiên
cứu,…
+ Phương pháp so sánh được sử dụng để làm rõ sự tiến bộ(kết quả) trước và sau khi áp
dụng đề tài trong dạy học.
+ Lắng nghe, khen thưởng, động viên kịp thời cũng là một phương pháp đem lại hiệu
quả trong việc khích lệ hứng thú học tập tích cực, chủ động cho học sinh.
V. KẾ HOẠCH NGHIÊN CỨU.
- Xác định rõ đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài.Đối tượng áp dụng và thử
nghiệm nội dung, phương pháp của đề tài,
- Điều tra đối tượng: Thông qua quá trình giảng dạy để điều tra về khả năng nhận thức,
kỹ năng nói của học sinh đặc biệt trong các giờ luyện nói.
- Thời gian nghiên cứu của đề tài: Chủ yếu là 2 năm học 2010 – 2011 và 2011 –
2012.Tuy nhiên quá trình quan sát thực tế và tìm hiểu thực trạng liên quan đến vấn đề
tập trung vào những em khá, giỏi, chăm còn những học sinh lười sẽ thụ động, không
phát huy được. Dù có hoạt động thảo luận nhóm thì những em yếu cũng ngồi im. Kết
quả yếu vẫn yếu, lười vẫn lười. Tâm lý chung, giáo viên rất ngại dạy tiết Luyện nói,
nhất là trình độ học sinh ở vùng nông thôn. So với yêu cầu của phương pháp dạy mới
và những định hướng của sách giáo viên thì tiết dạy “luyện nói”và hoạt động nói qua
phần thảo luận nhóm còn nhiều lúng túng chưa đạt yêu cầu.
III. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU VÀ CÁC BIỆN PHÁP THỰC HIỆN.
1. Những yêu cầu cần thiết đối với GV và HS trong quá trình
dạy- học bài luyện nói và trong giờ thảo luận nhóm.
*/ Yêu cầu đối với học sinh.
Ngay từ đầu năm học, chúng tôi phổ biến những qui định đối với môn Ngữ văn
đối với việc học Ngữ văn nói chung và cho kĩ năng luyện nói nói riêng để học sinh có
tâm thế chuẩn bị :
a. Dụng cụ :
- Đầy đủ sách giáo khoa
- Vở : Vở học, vở soạn, vở bài tập
- Bảng phụ (4 em có một bảng phụ). Bảng phụ các em có thể dùng tờ lịch cũ
bọc giấy bóng ngoài. Một cây bút lông. Hoặc các em có thể mua bảng giấy da đen cỡ
(80-60cm) nhưng bảng đen thì việc đem đi học hơi cồng kềnh nên dùng bảng phụ bằng
giấy lịch bọc nhựa tiện hơn.
b.Chia nhóm :
- Để tiện việc hoạt động thảo luận nhóm, tôi chia lớp làm 5 nhóm, mỗi nhóm 6
em liền kề nhau (bàn trên và bàn dưới) cho câu hỏi thảo luận ngắn trong một tiết học
văn bản hoặc tiếng việt.
- Đối với tiết luyện nói, chia lớp làm 4 nhóm, mỗi nhóm từ 7-8 em. Trong mỗi
nhóm cử ra một em viết chữ rõ ràng chịu trách nhiệm ghi vào bảng phụ sau khi đã
thống nhất ý kiến trong nhóm. Các em còn lại trong nhóm đều ghi vào vở soạn của
mình ý kiến thống nhất của tổ.
GV: Hà Thị Nhung – Trường THCS Tống Trân
- Sau mỗi lần trình bày nói trước lớp giáo viên khuyến khích bằng những tràn vỗ
tay để tạo không khí sôi nổi cho giờ học
- Chọn những em nói tốt trình bày cả bài luyện nói để tạo ấn tượng cho cả lớp khi
sắp kết thúc tiết học. Đó sẽ là điều kích thích niềm mong muốn được nói hay như bạn
ở nhiều đối tượng để các em chuẩn bị thật kĩ cho bài luyện nói ở những bài sau.
- Cho điểm khuyến khích đối với những em nói tốt ,những em có sự cố gắng
trong quá trình luyện nói.
2/ Rèn kĩ năng “nói” qua hoạt động thảo luận nhóm trong tiết
đọc hiểu văn bản.
Thường trong một tiết học Ngữ văn sẽ có từ 1-2 câu hỏi thảo luận nhóm, thời
gian thảo luận từ 3-5 phút, thường là dạng câu hỏi mở, chúng tôi cho các em thảo luận
nhóm 5. Đây là những câu hỏi ngắn, học sinh tư duy trả lời :
GV: Hà Thị Nhung – Trường THCS Tống Trân
6
Phòng GD – ĐT Phù Cừ Sáng kiến kinh nghiệm Ngữ văn 9
- Trước hết cá nhân trình bày quan điểm của mình trước nhóm :
Các em cần đọc kỹ câu hỏi, xác định nội dung yêu cầu của câu hỏi, suy nghĩ và viết
ra trong vở của mình, sau đó trình bày ra nhóm, nêu ý kiến của mình giống bạn thì
nhất trí khỏi phải nói lại mất thời gian .Từ các ý kiến, nhóm trưởng khái quát lại nội
dung mà nhóm đã nhất trí, mỗi em trong nhóm phải nắm vững nội dung đó. Em
được cử ghi chép sẽ ghi vào bảng phụ.
- Trình bày ý kiến của nhóm trước lớp :
Hết thời gian thảo luận giáo viên có thể gọi bất kỳ một em trong nhóm trả lời. Các
nhóm còn lại sẽ nhận xét ý kiến về phần trình bày của tổ bạn
- Giáo viên nhận xét:
Cần chú ý hai mặt :
+ Nội dung nói : phải đáp ứng yêu cầu của câu hỏi thảo luận nhóm không
thiếu ,không thừa tránh dàn trải, lan man thiếu tập trung.
+ Kĩ năng nói : trình bày lưu loát ,mạch lạc làm nỗi rõ vấn đề bằng giọng
nói tự nhiên to rõ dễ nghe dễ theo dõi, tránh đọc ê a, hoặc nói quá nhỏ, nói nhát gừng
Nương đã từ chối nhân gian. Điều đó giúp em hiểu gì về hiện thực cuộc sống và hạnh
phúc của người phụ nữ dưới chế độ phong kiến ?”
( Hiện thực cuộc sống áp bức bất công. Trong cuộc sống ấy những con người bé nhỏ,
đức hạnh không thể tự bảo vệ được hạnh phúc chính đáng của mình ).
Ở bài : “Kiều ở lầu Ngưng Bích”, sau khi cho HS phát hiện những cảnh được
gợi tả ở 8 câu cuối, cho HS thảo luận câu : “Mỗi cảnh được diễn tả bằng một cặp câu
thơ lục bát gợi liên tưởng đến thân phận và nỗi buồn riêng của Kiều. Hãy diễn giải điều
này trên từng nét cảnh ?( HS phân tích từng cặp câu )
Ở bài : “Lục Vân Tiên gặp nạn”, sau khi phân tích về hành động của Trịnh
Hâm, cho HS thảo luận câu : “ Ý kiến của em như thế nào về Trịnh Hâm, khi Vân Tiên
đã từng là bạn của Trịnh Hâm ? Từ đó em có suy nghĩ về lòng ghen ghét của con người
? ( Lòng đố kỵ là nguyên nhân của sự phản bội và tội ác). Hay câu : “Qua tấm lòng
nhân nghĩa và cuộc sống của ông Ngư, Nguyễn Đình Chiểu muốn bày tỏ tình cảm gì
đối với người lao động ? ( Tin yêu và quý trọng nhân cách của những người lao động).
Ở bài “Đồng chí”, cho HS đọc đoạn thơ thứ 2 và cho HS thảo luận câu hỏi : “
Em cảm nhận được vẻ đẹp nào của tình đồng chí ?”( Vẻ đẹp của tình yêu thương mộc
mạc, chân thành, thắm thiết, đồng cam cộng khổ chia nhau cái chết nơi chiến hào )
Ở bài : Đoàn thuyền đánh cá”, cuối bài có thể cho HS thảo luận câu: “Theo
em, nhờ đâu nhà thơ sáng tác nên bài thơ Đoàn thuyền đánh cá với những câu thơ hấp
dẫn như vậy ?”(Trực tiếp quan sát; Dồi dào trí tưởng tượng; Tấm lòng tha thiết với vẻ
đẹp và sự giàu có của đất nước……)
Ở bài “Bếp lửa”, cho HS thảo luận Câu: “Khi viết lời thơ: Nhưng vẫn chẳng
lúc nào quên nhắc nhở-Sáng mai này bà nhóm bếp lên chưa?” Người cháu muốn nhắc
bà nhóm lửa? hay nhắc ai? Nhắc điều gì?” (Tự nhắc mình không được quên những lận
đận đời bà, không được quên tấm lòng ấm áp của bà, không được quên sự tận tụy hy
sinh và tình nghĩa của bà……)
Ở bài “Ánh trăng”, có thể cho thảo luận câu: Từ sự xa cách giữa người và
trăng, nhà thơ muốn nhắc nhở điều gì? Vì sao có sự xa lạ, cách biệt giữa người và
trăng? (Vì không gian khác biệt ; thời gian khác biệt; điều kiện sống nên có sự cách
biệt. Từ đó nhà thơ muốn nhắc nhở không nên quên quá khứ, phải thủy chung…).
Trong bài “ Con cò”,có câu thảo luận : “Hình tượng con cò xuyên suốt lời ru
với những biểu tượng nào? (Con cò, đứa con nhỏ, người mẹ, cuộc đời) Hoặc câu: “Đọc
bài thơ Con cò, em cảm nhận những điều cao đẹp nào của tình mẹ và những lời ru ?
(Tình mẹ là tình cảm cao đẹp và bền bỉ vì nó được xây đắp bằng đức tính hy sinh quên
mình của tình yêu thương che chở…. Lời hát ru rất cần thiết vì nó nuôi dưỡng và bồi
đắp lòng nhân ái trong cuộc đời mỗi con người….).
Bài “ Nói với con” cho thảo luận câu: “Em cảm nhận như thế nào về lời thơ:
“Người đồng mình tự đục đá kê cao quê hương-Còn quê hương thì làm phong tục?”
(Con người lao động sáng tạo để tồn tại, để giữ vững truyền thống dân tộc, có ý chí
vươn lên không chùn bước trước khó khăn. Giữ vững bản sắc văn hóa dân tộc. Ý chí
sống can trường dũng cảm…).
Bài “Mây và sóng” cho thảo luận câu : “Bài Mây và sóng nói với ta những
điều tốt đẹp nào trong cuộc sống tình cảm của con người? ” (Tình yêu mẹ là niềm vui
thiêng liêng, bền chặt trong tâm hồn con người).
Bài “ Những ngôi sao xa xôi”, thảo luận câu: “Qua truyện Những ngôi sao xa
xôi em hiểu gì về phẩm chất của thế hệ trẻ Việt Nam trong thời kỳ chống Mỹ cứu
nước? ” (Sống trong sáng- không quản gian khổ, hy sinh…)
Với những câu hỏi có tính chất tình huống hoặc khái quát ,tổng hợp vấn đề cảm
thụ văn học như trên đòi hỏi các em có tinh thần hợp tác .Và chính sự hợp tác đó sẽ
giúp các em nói một cách tự tin hơn.
3. Rèn kĩ năng nói qua tiết luyện nói ở phân môn Tập làm văn.
a.Xác định mục đích yêu cầu của bài luyện nói :
Để cho học sinh có thể thực hiện tốt tiết luyện nói, chúng tôi cho trước đề tài
cho các em về nhà soạn, hướng dẫn các em:
- Xác định đề tài (Nói cái gì ?)
- Xác định đối tượng (Nói với ai?trong hoàn cảnh nào ?)
GV: Hà Thị Nhung – Trường THCS Tống Trân
9
Phòng GD – ĐT Phù Cừ Sáng kiến kinh nghiệm Ngữ văn 9
- Xác định mục đích (Nói để làm gì ?)
- Bước 4: HS luyện nói trong nhóm ( 10 phút)
- Bước 5: HS luyện nói trước lớp ( 20-25 phút)
- Bước 5: Giáo viên tổng kết tiết luyện nói (3phút).
Đối với lớp 9, có 2 tiết luyện nói. Đó là: Luyện nói về tự sự kết hợp với nghị luận
và miêu tả nội tâm; Luyện nói về văn nghị luận: Nghị luận về một đoạn thơ-bài thơ.
Trong giờ luyện nói, chúng tôi chú ý nhắc nhở HS mấy điểm sau:
- Phải soạn bài ở nhà trước, soạn một dàn ý chi tiết và tự tập nói trước ở nhà
cho suôn sẻ, mạch lạc.
- Khi nói trước tổ, trước nhóm phải nói rõ ràng, mắt tập trung hướng vào người
nghe.
- Không cười đùa trong khi trình bày bài nói.
GV: Hà Thị Nhung – Trường THCS Tống Trân
10
Phòng GD – ĐT Phù Cừ Sáng kiến kinh nghiệm Ngữ văn 9
c . Định hướng dàn ý cho tiết luyện nói
Ở tiết luyện nói thứ nhất: Tiết 65 (Tự sự kết hợp nghị luận và miêu tả nội
tâm) Có thể chọn 1 trong 3 đề có ở sách giáo khoa phần luyện tập. Tôi chọn đề 3:
“Dựa vào nội dung phần đầu tác phẩm “Chuyện người con gái Nam Xương” đến
chỗ trót đã qua. Hãy đóng vai Trương Sinh kể lại câu chuyện và bày tỏ niềm ân
hận.”
Trước khi tiến hành luyện nói, Giáo viên kiểm tra vở soạn của HS và các em
trình bày dàn ý vào bảng phụ, sau đó GV chốt lại và đưa ra bảng phụ mà GV đã chuẩn
bị sẵn lên bảng đen cho HS theo dõi để luyện nói và hướng dẫn HS :
- Phải xác định ngôi kể cho phù hợp (Tôi)
- Phải hóa thân vào Trương Sinh kể lại câu chuyện theo trình tự
- Các nhân vật và các sự việc còn lại chỉ có vai trò như một cái cớ để nhân
vật Tôi giải bày tâm trạng của mình.
Dàn ý:
*. Mở bài : Tự giới thiệu về mình, nêu mối quan hệ với Vũ Nương trong câu chuyện.
*. Thân bài: Kể lại nội dung đoạn truyện (ngôi kể là ngôi thứ nhất: tôi – Trương Sinh).
chỡnh, hỡnh nh
* Suy ngh v mựa thu thiờn nhiờn thi khc giao mựa :
- T cỏi bt ng nhn ra tớn hiu mựa thu, xen ln vo nhng cm xỳc cú phn
no bõng khuõng luyn tic.
- Cm nhn bng cỏc giỏc quan mt cỏch tinh t nhy cm Qua ú th hin
tỡnh yờu thiờn nhiờn, yờu lng quờ , yờu mựa thu.
*. Kt lun :
- Qua hỡnh nh, hng v quen thuc, gn gi c trng ca mựa thu v
nhng cm nhn tinh t, tỏc gi ó th hin thnh cụng v p thiờn nhiờn thi im
giao mựa.
c. Nhng im cn chỳ ý trong tit luyn núi :
- tit luyn núi no cng chỳ ý khõu chun b ca hc sinh, cỏc em chun b
cng k tit luyn núi cng hiu qu
- tit dy trờn lp, giỏo viờn cn :
+ t chc cho hc sinh tho lun nhúm v luyn núi trc nhúm, núi trc
lp
+ chỳ ý hng dn k v hỡnh thc v ni dung núi
+ theo dừi v cho hc sinh ghi chộp nhng iu cn nhn xột
4. Rốn k nng núi qua mt giỏo ỏn c th.
Vi nhng lp m i tng hc sinh a s hc tt mụn vn thỡ giỏo viờn cú th
cho luyn núi theo yờu cu ca bi trong sỏch giỏo khoa (tit 140 -Luyn núi -Ngh
lun v mt on th bi th).Vic rốn k nng núi cho hc sinh ó c chỳng tụi chỳ
ý th hin qua cỏc hot ng dy- hc giỏo ỏn sau õy.
Tit 142 LUYN NểI :
NGH LUN V MT ON TH, BI TH
I) Mc tiờu cn t :
1.Kiến thức :
- Những yêu cầu đối với luyện nói khi bàn luận về một đoạn thơ, bài thơ trớc tập
thể.
sinh khắc sâu)
GV cho học sinh nhắc lại đề bài, gv ghi
bảng.
GV:
+ Đề bài thuộc kiểu bài gì?
+ Dạng bài nghị luận cụ thể là gì ?
+ Đề yêu cầu nghị luận về vấn đề nào
trong bài thơ ?
GV chốt :Về kiểu bài, dạng bài nghi
luận về Bài thơ, (ghi bảng Phần phân
tích đề)
Hướng dẫn hs lập ý:
+ Theo yêu cầu đề tài, phần mở bài ta
phải làm gì?
+ Phần thân bài, để nghị luận về vấn đề
đó trong bài thơ, em cần xây dựng hệ
thống luận điểm như thế nào?
+Dùng những luận cứ, luận chứng nào?
+Kết bài ra sao?
(cho hs trao đổi nhóm, thảo luận) sau đó
ghi bảng phụ và trình bày ở bảng, các
nhóm khác nhận xét, gv nhận xét về dàn
ý và đưa ra dàn ý đại cương ở bảng phụ
cho hs tham khảo và so sánh.
Đề bài:
Bếp lửa sưởi ấm một đời –Bàn về bài
thơ bếp lửa của Bằng Việt
I/ Phân tích đề:
1. Kiểu bài: Nghị luận về bài thơ
2. Nội dung: Bếp lửa sưởi ấm một đời. (Bếp
n); li núi rừ rng, gn, cú ng iu;
chỳ ý quỏn xuyn i tng nghe.
- V ni dung: m bo ni dung trong
dn ý, ý mch lc.
+ i tng nghe: Tp trung theo dừi
bn núi, nhn xột bn núi theo yờu cu
trờn.
Tin hnh núi: Sau 10 phỳt núi trong
nhúm, gv cho hs núi trc lp:
+ 2 em núi MB
+ 2 em núi TB
+ 2 em núi KB
+ 2 em núi c bi
+ 2 em núi cho c lp nhn xột, so sỏnh,
rỳt ra u im, hn ch
+gv nhn xột, ch rừ u im, khuyt
im, b sung nhng gỡ cũn thiu sút.
Hot ng 3: GV tng kt tit hc.
+ Nhn xột v s chun b ca hs.
+ V tit luyn núi ca hs: u im, tn
ti, cn khc phc tit sau
+ Xem lại dàn ý của bài nói.
+ Giáo viên nhắc lại sự cần thiết phải
chuẩn bị tốt dàn bài để có thể làm tốt
bài nói hoặc viết.
* Hoạt động 5. Hớng dẫn học bài :
- Hớng dẫn học sinh về nhà tiếp tục
luyện tập.
- Soạn bài : Những ngôi sao xa xôi"
- Bp la ca tui th nhc nhn gian kh
không còn ỷ lại trông chờ vào những em học khá. Từ em khá đến em yếu đều có thể
nói được trước lớp.
Qua quá trình rèn luyện, trong năm học 2011-2012, kết quả về chất lượng của
việc luyện nói cũng như chất lượng môn Ngữ văn cao hơn kết quả của những năm học
trước.Cụ thể như sau :
* Năm học 2010-2011:
Điểm nói
Nội dung
Giỏi
(9-10)
Khá
(7-8)
TB
(5-6)
Yếu
(3-4)
Kém
(1-2)
Luyện nói tự
sự kết hợp
nghị luận và
miêu tả nội
tâm
0 3/34 16/34 10/34 5/34
Nghị luận về
một bài thơ,
đoạn thơ.
0 5/34 19/34 8/34 2/34
* Năm học 2011-2012:
đạt tương đối mạch lạc, dễ nghe, trình bày nội dung tương đối đầy đủ)
- Học kỳ II : 87% học sinh nói đạt mức trung bình trở lên (nói rõ ràng, khúc triết, tự
tin và truyền cảm) số học sinh nói đạt mức khá, giỏi cao hơn.
Kết quả đó cao hơn so với kết quả khảo sát của những năm học trước.
PHẦN III. KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
I. KẾT LUẬN.
Qua quá trình nghiên cứu và vận dụng đề tài, bản thân tôi rút ra được những bài học
kinh nghiệm cho giáo viên và học sinh như sau:
1. Về giáo viên : Muốn thực hiện đạt yêu cầu việc luyện nói cho học sinh giáo viên
cần:
- Đầu tư vào bài soạn, nghiên cứu kỹ để có câu hỏi thảo luận cho học sinh.
- Câu hỏi phải khuyến khích được tất cả HS trong lớp suy nghĩ. Câu hỏi phải ngắn gọn,
rõ ràng, vừa sức để học sinh có thể trả lời
- Ngay từ đầu, xây dựng cho học sinh phương pháp học tập, những qui định đối với
học sinh về việc học nói chung, môn văn nói riêng.
- Hướng dẫn cho học sinh cách học cũng như cách soạn bài (Nhất là đối với tiết luyện
nói)
- Có kế hoạch kiểm tra phần chuẩn bị bài của HS
- Rèn cho học sinh biết tự tổ chức thảo luận nhóm
Cần biết lắng nghe và tôn trọng ý kiến HS, tạo điều kiện, dẫn dắt HS thể hiện quan
điểm cá nhân của mình.
- Luôn luôn theo sát diễn biến của cuộc thảo luận và có thể tham gia như một thành
viên.
- Nắm vững qui trình tiết luyện nói và tiến hành các bước một cách linh hoạt, thuần
thục.
2. Về học sinh :
- Đầy đủ dụng cụ học tập, nhất là bảng phụ, chuẩn bị cả về ngôn ngữ để có
được hành văn lưu loát, ý tứ phong phú.
- Mỗi cá nhân cần phải chuẩn bị bài kĩ trước ở nhà.
* Đối với giáo viên:
+ Giáo viên dạy các cấp mầm non và tiểu học cần chú ý hơn đến việc rèn kĩ năng phát
âm chuẩn cho học sinh .
+ Giáo viên dạy Ngữ văn THCS cần có sự đầu tư giảng dạy trong việc rèn kĩ năng nói
và phải thực hiện thường xuyên đồng bộ từ các lớp 6,7,8 đến lớp 9 .
* Đối với các cấp lãnh đạo :
- Tiếp tục phát huy việc tổ chức các hoạt động sinh hoạt chuyên môn, học tập chuyên
đề về việc rèn kĩ năng nói cho học sinh để giáo viên các trường được giao lưu, trao
đổi,học hỏi…
- Cung cấp tài liệu, băng hình về việc rèn kĩ năng nói cho học sinh trong dạy -học Ngữ
văn.
- Tăng tiết luyện nói trong chương trình Ngữ văn ở khối lớp 8, 9 để học sinh có nhiều
thời gian hơn cho việc rèn kĩ năng nói cũng là kĩ năng nhận thức, cảm thụ văn học của
bản thân.
Trên đây chỉ là kinh nghiệm chủ quan rút ra từ quá trình giảng dạy và tham khảo
tài liệu của riêng bản thân tôi mặc dù kết quả chưa cao nhưng đó cũng là sự cố gắng nỗ
lực của thầy và trò chúng tôi. Vì điều kiện nghiên cứu còn hạn chế nên không thể tránh
hết những thiếu sót vì vậy rất mong quý thầy cô, các bạn đồng nghiệp, Hội đồng khoa
GV: Hà Thị Nhung – Trường THCS Tống Trân
17
Phòng GD – ĐT Phù Cừ Sáng kiến kinh nghiệm Ngữ văn 9
học các cấp xét duyệt sáng kiến kinh nghiệm này góp ý, bổ sung thêm để SKKN của
bản thân tôi được hoàn chỉnh hơn./.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Tống Trân, ngày 28 tháng 11 năm 2012
Người viết
Hà Thị Nhung
GV: Hà Thị Nhung – Trường THCS Tống Trân
18