Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trường PTDT Nội trú
I. PHẦN MỞ ĐẦU
1. lý do chọn đề tài.
Mục tiêu giáo dục phổ thông đã và đang chuyển hướng từ chủ yếu là trang bị
kiến thức sang trang bị năng lực cần thiết cho học sinh. Nội dung giáo dục kỹ năng
sống đã được tích hợp trong một số môn học, việc giáo dục kỹ năng sống cho học
sinh phổ thông còn được thực hiện thông qua nhiều chương trình, dự án như: Giáo
dục bảo vệ môi trường, giáo dục an toàn giao thông, giáo dục phòng chống HIV/
AIDS, giáo dục phòng tránh tai nạn thương tích…. Vì vậy, việc giáo dục kỹ năng
sống cho học sinh hiện nay ở các trường phổ thông đang được đặt lên hàng đầu, bên
cạnh việc nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo; đặc biệt ở trường Phổ thông dân
tộc nội trú (PTDTNT) việc giáo dục kỷ năng sống là hết sức quan trọng. Để giáo dục
kỹ năng sống cho học sinh đạt hiệu quả cao, góp phần hình thành và phát triển nhân
cách toàn diện cho học sinh, đáp ứng yêu cầu nguồn nhân lực trong giai đoạn hiện
nay, đòi hỏi phải có sự chung tay góp sức của các lực lượng giáo dục trong xã hội mà
tiên phong là đội ngũ giáo viên trong các nhà trường phổ thông.
Rèn kỹ năng sống cho học sinh thực sự có tác dụng tốt đến việc giáo dục đạo
đức học sinh trong nhà trường; không những giúp cho các em có được những kĩ năng
ứng xử, giao tiếp mà còn tạo thành thói quen phân tích đánh giá tình hình, thói quen
vươn lên xử lý tình huống một cách hợp lí. Khác với các phương pháp trước đây trong
việc giáo dục đạo đức học sinh là khoảng cách giữa thầy và trò khi các em mắc lỗi
thường các thầy, cô giáo hay dùng hình thức trách phạt, kỷ luật mà ít khi lắng nghe
các em giải bày... Nay với việc chú trọng rèn kỹ năng sống cho học sinh đòi hỏi thầy,
cô giáo cần có sự ân cần chỉ bảo, phân tích, lắng nghe các em nói lên những suy nghĩ,
dẫn đến việc làm chưa phù hợp với chuẩn đạo đức người học sinh. Việc giáo dục đạo
đức, hình thành các kỹ năng sống tối thiểu của các em đã được lồng ghép trong các
chương trình học tập, được tích hợp trong các bộ môn và còn được trải nghiệm qua
thực tế cho nên gây được hứng thú cho các em trong việc tu dưỡng đạo đức, hướng
thiện và nâng cao được năng lực học tập, sáng tạo. Từ đó, các em có nhận thức đúng
đắn trong việc thực hiện nội qui, qui định của nhà trường và tự giác thực hiện.
a. Mục tiêu của giáo dục kỷ năng sống: Trang bị cho học sinh những kiến thức,
giá trị, thái độ và kĩ năng phù hợp. Trên cơ sở đó hình thành cho học sinh những hành
vi, thói quen lành mạnh, tích cực; loại bỏ những hành vi, thói quen tiêu cực trong các
mối quan hệ, các tình huống và hoạt động hàng ngày.
Tạo cơ hội thuận lợi để học sinh thực hiện tốt quyền, bổn phận của mình và
phát triển hài hòa về thể chất, trí tuệ, tinh thần và đạo đức.
Nâng cao khả năng tự đánh giá bản thân và tính tự trọng, tự tin ở học sinh trong
quan hệ bạn bè cùng trang lứa và người lớn. Nâng cao sự hiểu biết của học sinh về
những tác động xấu của các vấn đề xã hội như: Ma túy, HIV/AIDS, mại dâm, riệu,
thuốc lá…đối với sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, chính trị của đất nước cũng
như sự phát triển giống nòi của dân tộc.
Nâng cao kiến thức và hiểu biết về giới tính, sức khoẻ sinh sản, sức khoẻ tình
dục. Giúp học sinh hiểu và tự giải quyết những vấn đề về sức khoẻ bản thân, phát
triển ở HS những giá trị và những kỹ năng sống có khả năng đưa đến một phong cách
sống lành mạnh, tích cực và có trách nhiệm. Khuyến khích hành vi có trách nhiệm của
học sinh để ngăn ngừa tình trạng mang thai sớm, sự lây truyền của các bệnh xã hội.
Tạo điều kiện cho học sinh nhận biết được sự lạm dụng về tình dục và cách xử lý với
những vấn đề này. Giúp các em biết coi trọng phụ nữ và các em gái, ngăn chặn những
hành vi bất bình đẳng giới trong cộng đồng.
Đáp ứng được mục tiêu giáo dục toàn diện theo chương trình đào tạo của Bộ
Giáo dục và Đào tạo đó là giúp các em học để biết, học để làm, học để tồn tại và học
để chung sống.
Giúp HS đổi mới phương pháp học tập của mình; từ đó giúp các em có khả
năng học tập tốt hơn, các tư duy hoạt động của các em được phát triển, các em biết lập
luận, tự tin nắm kiến thức và giải quyết các tình huống trong học tập. Đồng thời giáo
2|
Lương Đức Thuận – Hiệu trưởng trường PTDTNT Krông Ana
nhau, những văn kiện chỉ đạo của Đảng và nhà nước liên quan đến vấn đề cần nghiên
cứu để xem xét vấn đề và tìm ra những giải pháp hợp lí, có sức thuyết phục, xây dựng
một lí thuyết mới, bổ sung hoàn chỉnh cụ thể hoá lí thuyết cũ.
b. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Trên cơ sở kiểm chứng, đánh giá các
thông tin thu lượm được sẽ hình dung được thực trạng, đặc điểm hoạt động của học
sinh một cách tương đối chính xác. Từ đó có phương hướng điều chỉnh kế hoạch sao
cho phù hợp với tình hình thực tế của trường.
3|
Lương Đức Thuận – Hiệu trưởng trường PTDTNT Krông Ana
Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trường PTDT Nội trú
c. Phương pháp thống kê, so sánh, tổng hợp: Dựa trên kết quả điều tra thống kê
lại, so sánh và tổng hợp để tìm nguyên nhân, từ đó đưa ra những biện pháp thích hợp
để giáo dục kỹ năng sống cho học sinh.
Thông thường những phương pháp nghiên cứu trên được kết hợp với nhau làm
cho các kết quả thu được vừa có sức thuyết phục về mặt lí luận vừa có ý nghĩa thực
tiễn.
II. PHẦN NỘI DUNG
1. Cơ sở lý luận.
a. Cơ sở pháp lý của việc giáo dục kỹ năng sống trong nhà trường.
Căn cứ Luật Giáo dục (Được sữa đổi, bổ sung năm 2009).
Điều lệ trường Trung học cơ sở, trường THPT và trường PT có nhiều cấp học
ban hành kèm theo thông tư số 12/2011/TT-BGDĐT ngày 28/3/2011 của Bộ trưởng
Bộ Giáo dục & Đào tạo;
Thông tư số 01/ 2016/TT-BGDĐT ngày 15/ 01/ 2016 của Bộ Giáo dục và Đào
tạo về việc ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động của Trường phổ thông Dân tộc
Nội trú;
dung chương trình, phương pháp, hình thức tổ chức, sự phối hợp các lực lượng trong
và ngoài nhà trường nhằm thực hiện mục tiêu các nhiệm vụ giáo dục rèn luyện kỹ
năng sống ở học sinh.
b.4. Phân loại kỹ năng sống: Trong giáo dục chính quy ở nước ta những năm
vừa qua, kỹ năng sống thường được phân loại theo các mối quan hệ, bao gồm các
nhóm sau:
- Nhóm kỹ năng nhận biết và sống với chính mình, bao gồm các kỹ năng như:
tự nhận thức, xác định giá trị, ứng phó với căng thẳng, tìm kiếm sự hỗ trợ, tự trọng, tự
tin…
- Nhóm kỹ năng nhận biết và sống với người khác, bao gồm các kỹ năng sống
như: giao tiếp có hiệu quả, giải quyết mâu thuẫn, thương lượng, từ chối, bày tỏ sự
thông cảm, hợp tác…
- Nhóm các kỹ năng ra quyết định một cách có hiệu quả, bao gồm các kỹ năng
sống cụ thể như: tìm kiếm và xử lý thông tin, tư duy phê phán, tư duy sáng tạo, ra
quyết định, giải quyết vấn đề…
b.5. Mục tiêu giáo dục kỹ năng sống cho học sinh: Trang bị cho học sinh những
kiến thức, giá trị, thái độ và kỹ năng phù hợp. Trên cơ sở đó hình thành cho học sinh
những hành vi thói quen lành mạnh, tích cực, loại bỏ những hành vi, thói quen tiêu
cực trong các mối quan hệ, các tình huống và hoạt động hàng ngày.
Tạo cơ hội thuận lợi để học sinh thực hiện tốt quyền và bổn phận của mình,
phát triển hài hoà về thể chất, trí tuệ, tinh thần và đạo đức.
b.6. Nội dung giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trong nhà trường phổ thông:
Kỹ năng tự nhận thức, kỹ năng xác định giá trị, kỹ năng kiểm soát cảm xúc, kỹ năng
ứng phó với căng thẳng, kỹ năng tìm kiếm sự hỗ trợ, kỹ năng thể hiện sự tự tin, kỹ
năng giao tiếp, kỹ năng lắng nghe tích cực, kỹ năng thể hiện sự thông cảm, kỹ năng
thương lượng, kỹ năng giải quyết mâu thuẫn, kỹ năng hợp tác, kỹ năng tư duy phê
phán, kỹ năng kiên định, kỹ năng đạt mục tiêu, kỹ năng quản lý thời gian, kỹ năng tìm
kiếm và xử lý thông tin…
c. Vai trò của Đội Thiếu niên tiền phong Hồ Chí Minh trong việc giáo dục kỹ
năng sống.
DT
Nữ
Nữ
Chia theo Dân tộc thiểu số
DT Ê
đê
Tày
Nùn
g
Mườn
g
Kin
h
6
39
39
33
39
38
26
25
28
5
2
3
1
9
38
37
29
28
31
1
4
5
39
Nhà trường luôn nhận được sự chỉ đạo sát sao, sự quan tâm, động viên kịp thời
của các cấp, các ngành cũng như của cấp uỷ, chính quyền và các đoàn thể địa phương.
Đội ngũ giáo viên nhà trường nhiệt tình, có trách nhiệm, tâm huyết với nghề và luôn
quan tâm thương yêu học sinh. Các em học sinh trong nhà trường ngoan ngoãn, lễ
phép, biết đoàn kết thương yêu, giúp đỡ lẫn nhau. Tổng phụ trách đội năng động,
nhiệt tình, trách nhiệm, có khả năng tổ chức và điều hành các hoạt động tập thể; cơ sở
6|
Lương Đức Thuận – Hiệu trưởng trường PTDTNT Krông Ana
Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trường PTDT Nội trú
vật chất nhà trường đủ đáp ứng nhu cầu các hoạt động ngoài giờ lên lớp, học sinh ở
tập trung nội trú tại trường nên rất thuận lợi cho công tác giáo dục kỹ năng sống.
b. Khó khăn: Trình độ học sinh chưa đồng đều, năng lực tiếp thu kiến thức của
học sinh còn nhiều hạn chế, công tác tuyển sinh đã có sự đổi mới nhưng vẫn chưa đáp
ứng được yêu cầu trong công tác tuyển chọn học sinh khá giỏi vào trường. Các em
học sinh là người dân tộc thiểu số ở các buôn làng của các xã trên địa bàn huyện nên
đa số các em còn rụt rè, chưa mạnh dạn, thiếu tự tin trong giao tiếp và sinh hoạt tập
thể.
Phần lớn các em ở xa cách trường (có em xa hơn 20 km), giao thông đi lại khó
khăn, cách đồi, cách suối, nhiều em là con của các gia đình thuộc diện hộ nghèo, kinh
Lương Đức Thuận – Hiệu trưởng trường PTDTNT Krông Ana
Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trường PTDT Nội trú
sống được thực hiện trên cơ sở bản năng sẵn có của từng người dẫn đến hiệu quả chưa
cao; thời gian để thực hiện công tác giáo dục kỹ năng sống còn hạn hẹp, nhà trường
khó sắp xếp vì phần lớn công việc này phải làm việc ngoài giờ, đòi hỏi GV phải thực
sự nhiệt tình, tâm huyết thì mới thực hiện được.
Chưa có sự phối kết hợp tốt với gia đình học sinh để phát huy tốt khả năng của
học sinh trong việc thực hành kỹ năng sống.
2.3. Mặt mạnh – Mặt yếu:
Mặt mạnh: Đội ngũ cán bộ, giáo viên, nhân viên nhà trường nhiệt tình, có trách
nhiệm, tâm huyết với nghề và luôn quan tâm thương yêu học sinh. Học sinh được
tuyển chọn từ các trường tiểu học ở các xã nên đa số các em ngoan ngoãn, lễ phép,
biết đoàn kết thương yêu, giúp đỡ lẫn nhau. Cán bộ phụ trách đoàn, đội năng động,
nhiệt tình, trách nhiệm, có khả năng tổ chức và điều hành các hoạt động tập thể; cơ sở
vật chất nhà trường đủ đáp ứng nhu cầu các hoạt động ngoài giờ lên lớp, học sinh ở
tập trung nội trú tại trường nên rất thuận lợi cho công tác giáo dục kỹ năng sống.
Mặt yếu: Học sinh trường PTDTNT Krông Ana, ngoài những khó khăn chung
của lứa tuổi, các em hầu hết là con em các dân tộc thiểu số (97%), trong đó có nhiều
em từ các buôn làng xa xôi như buôn Krông, Buôn Krang… đến học tập và ở nội trú
tại trường, mang theo rất nhiều tập tục lạc hậu, nhiều thói quen trong sinh hoạt còn
chưa văn minh, thiếu kỹ năng thực hành, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng giải quyết vấn đề,
kỹ năng đối phó với những khó khăn trong cuộc sống và khả năng tự phục vụ bản
thân…; đa số các em còn rụt rè, chưa mạnh dạn trong giao tiếp và sinh hoạt tập thể.
2.4. Các nguyên nhân, các yếu tố tác động:
Từ thực tế quản lý tôi nhận thấy rằng kỹ năng sống của các em còn yếu là do
nhiều nguyên nhân như:
- Do đặc điểm lứa tuổi, do hoàn cảnh sống và môi trường tác động.
Việc chỉ đạo cho các đoàn thể phối kết hợp trong việc tổ chức các hoạt động
giáo dục kỹ năng sống còn chưa chặt chẽ, thiếu về chiều sâu, chưa giao trách nhiệm
cụ thể rõ ràng nên các đoàn thể còn ỷ lại, thờ ơ, chưa thực sự quan tâm và phó mặc
cho tổng phụ trách đội.
Những tác động trên cho thấy những chuyển biến về nhận thức, thái độ và hành
vi kỹ năng sống của học sinh vẫn chưa có sự chuyển biến rõ rệt, dẫn đến chất lượng
giáo dục hạnh kiểm vẫn chưa đạt hiệu quả cao. Qua tổng hợp kết quả giáo dục về
hạnh kiểm và đánh giá về khả năng giao tiếp ứng xử của học sinh cho thấy:
Bảng 1: Kết quả xếp loại hạnh kiểm và đánh giá khả năng giao tiếp của học
sinh trong những năm mới chỉ đạo thực hiện:
NĂM
HỌC
TS HS
XẾP LOẠI HẠNH KIỂM
TỐT KHÁ
TB
YẾU
2011-2012
150
70,0
18,0
giao tiếp
46,1%
Thiếu tự
tin trong
giao tiếp
53,9%
Học
sinh bỏ
học
02
* Nhận xét: Qua bảng tổng hợp trên cho thấy kết quả xếp loại hạnh kiểm của
học sinh và khả năng tự tin trong giao tiếp của học sinh có những chuyển biến nhưng
chưa rõ nét. Tỉ lệ học sinh xếp loại hạnh kiểm trung bình hàng năm có giảm nhưng
chưa đáng kể.
Chất lượng các cuộc thi của nhà trường do ngành tổ chức hiệu quả chưa cao:
2.6. Nguyên nhân thực trạng:
9|
Lương Đức Thuận – Hiệu trưởng trường PTDTNT Krông Ana
Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trường PTDT Nội trú
Đối tượng HS là con em đồng bào các dân tộc thiểu số, đa số ở các buôn làng
và lôi cuốn học sinh tham gia, phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh.
Nêu cao vai trò của anh chị phụ trách chi đội – Giáo viên chủ nhiệm lớp trong
việc đoàn kết, thống nhất và chỉ đạo thực hiện mọi hoạt động của lớp, chịu trách
nhiệm trước nhà trường về công tác quản lý lớp học, trong đó có việc rèn luyện ý thức
đạo đức, nền nếp, nội quy, kỷ luật và thực hiện nghiêm túc các hoạt động của nhà
trường.
10 |
Lương Đức Thuận – Hiệu trưởng trường PTDTNT Krông Ana
Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trường PTDT Nội trú
Duy trì và đẩy mạnh được phong trào thi đua, tạo động lực kích thích hoạt động
giáo dục kỹ năng sống trong trường thu được kết quả cao.
3.2.Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp.
Từ thực trạng trên, bản thân luôn trăn trở, nghiên cứu, tìm tòi, học hỏi và tăng
cường các giải pháp chỉ đạo giáo dục kĩ năng sống nhằm khắc phục hạn chế và nâng
cao được hiệu quả của công tác này, từ đó góp phần nâng cao chất lượng giáo dục
toàn diện cho học sinh. Gồm 6 giải pháp cụ thể như sau:
3.2.1.Quán triệt và triển khai các văn bản chỉ đạo của các cấp; kiện toàn Ban
chỉ đạo công tác giáo dục kỹ năng sống trong nhà trường.
Tuyên truyền các văn bản chỉ đạo và kế hoạch giáo dục kỹ năng sống tới toàn
thể cán bộ, giáo viên, nhân viên, cha mẹ học sinh và học sinh, để mọi người thấy được
việc tham gia các hoạt động giáo dục kỹ năng sống sẽ hỗ trợ tích cực cho việc hình
thành nhân cách học sinh và nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện học sinh.
Tổ chức tuyên truyền với nhiều hình thức: trong các buổi họp hội đồng giáo
dục, họp phụ huynh học sinh đầu năm, các giờ chào cờ, các hội thi tuyên truyền và
trên các phương tiện thông tin đại chúng; thành lập Ban chỉ đạo công tác giáo dục kỹ
năng sống và phân công trách nhiệm cụ thể cho từng thành viên trong Ban chỉ đạo.
tham gia nhiều hoạt động tập thể thì mạnh dạn hơn trong giao tiếp, ứng xử; nói năng
mạch lạc hơn, tự tin hơn, và có khả năng tổ chức tốt hơn. Từ đó phụ huynh sẽ thấy
được vai trò của việc học, việc rèn kỹ năng sống để phối hợp với nhà trường trong
việc giáo dục học sinh.
3.2.3. Phát huy vai trò của giáo viên chủ nhiệm lớp trong công tác giáo dục kỹ
năng sống cho học sinh thông qua hoạt động của Đội thiếu niên tiền phong Hồ Chí
Minh.
Hiệu trưởng nhà trường lựa chọn những giáo viên có trình độ chuyên môn giỏi,
khả năng quản lý tốt, nhiệt tình với công tác chủ nhiệm, có phương pháp chủ nhiệm
tốt.
Chỉ đạo giáo viên chủ nhiệm, lập kế hoạch tổ chức các hoạt động giáo dục
ngoài giờ lên lớp trong năm học phù hợp với đối tượng học sinh với tình hình thực tế
của lớp mình phụ trách và cùng thời điểm với các ngày lễ lớn trong năm học. Giáo
viên chủ nhiệm xây dựng và báo cáo kế hoạch hoạt động có sự góp ý tham mưu của
tổng phụ trách đội, tổ chủ nhiệm, sự tư vấn và phê duyệt của ban giám hiệu nhà
trường và tiến hành thực hiện có hiệu quả.
Chỉ đạo giáo viên chủ nhiệm thường xuyên bồi dưỡng, huấn luyện đội ngũ cán
sự lớp có khả năng điều khiển các hoạt động giáo dục kỹ năng sống. Hướng dẫn HS,
cùng thiết kế các hoạt động của các chủ điểm giáo dục, tạo điều kiện để HS tự đánh
giá kết quả hoạt động khi kết thúc mỗi chủ điểm. Khen thưởng kịp thời để khích lệ
học sinh.
Ban giám hiệu kết hợp cùng các đoàn thể tăng cường kiểm tra công tác chủ
nhiệm lớp thông qua dự giờ thăm lớp, nghe báo cáo kết quả hoạt động, kiểm tra giáo
án, hồ sơ, báo cáo định kỳ.
3.2.4. Tổ chức đa dạng các hoạt động giáo dục kĩ năng sống thông qua hoạt
động của Đội thiếu niên tiền phong Hồ Chí Minh.
Giáo dục kỹ năng sống thông qua việc tích hợp vào nội dung các môn học đặc
biệt là môn giáo dục công dân, môn sinh học, môn địa lý, môn lịch sử…
Đưa nội dung giáo dục kỹ năng sống vào giờ sinh hoạt dưới cờ (chào cờ) như:
Tổ chức tuyên truyền về an toàn giao thông, phòng chống cháy nổ, sức khoẻ
toàn giao thông (Tháng 9 hàng năm); tổ chức đêm hội trăng rằm: thi hóa trang chú
Cuội, chị Hằng, thi trình bày mâm ngũ quả, thi văn nghệ.
Tổ chức chuyên đề phòng chống dịch bệnh, vệ sinh an toàn thực phẩm, phòng
chống tai nạn thương tích, đuối nước…(tháng 9)
Tổ chức đố vui để học với chủ đề “Bác Hồ Kính yêu” và kỷ năng mềm (15/10).
Thi viết báo tường và tổ chức các phong trào thi đua trong học tập, tổ chức đêm
giao lưu văn nghệ, lễ tri ân nhà giáo nhân kỷ niệm ngày Nhà giáo Việt Nam(20/11).
Tổ chức tuyên truyền về truyền thống Quân đội nhân dân Việt nam, giao lưu,
trò chuyện cùng các chú bộ đội ở Huyện đội, các bác cựu chiến binh trên địa bàn Thị
trấn, thăm viếng nghĩa trang liệt sĩ… nhân ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt
Nam.
Tổ chức liên hoan tiếng hát dân ca và nhạc cụ các dân tộc cấp trường và tham
gia các cấp.
Tổ chức chương trình thắp sáng ước mơ tuổi trẻ Việt nam, tặng quà cho học
sinh nghèo nhân dịp tết nguyên đán.
Tổ chức hội chợ ẩm thực nhân ngày học sinh, sinh viên Việt nam 9/01; tổ chức
cho học sinh gói bánh chưng, chế biến các món ăn trong bữa tiệc tất niên hàng năm.
13 |
Lương Đức Thuận – Hiệu trưởng trường PTDTNT Krông Ana
Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trường PTDT Nội trú
Giáo dục ý thức bảo vệ môi trường, tham gia tết trông cây, chăm sóc bồn hoa
cây cảnh, bảo vệ môi trường…. tổ chức buổi đố vui với chủ đề “Phòng chống
HIV/AIDS"; tổ chức buổi truyền thông về “ Sức khoẻ sinh sản vị thành niên” cho học
sinh.
Tổ chức ngày hội thiếu niên tiếp bước lên đoàn nhân ngày 26/3 tạo không khí
trong công tác giáo dục kỹ năng sống thông qua hoạt động Đội thiếu niên tiền phong
Hồ Chí Minh
14 |
Lương Đức Thuận – Hiệu trưởng trường PTDTNT Krông Ana
Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trường PTDT Nội trú
Khen thưởng, động viên những cá nhân, tập thể có thành tích trong hoạt động.
Có thể động viên giáo viên và học sinh có nhiều thành tích bằng việc tổ chức chuyến
thăm quan di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh, tham gia giao lưu với các đơn vị bạn
để nâng cao trình độ hiểu biết.
Xây dựng các danh hiệu thi đua như giáo viên chủ nhiệm giỏi, tổng phụ trách
giỏi, chỉ huy liên đội giỏi… Cả giáo viên và học sinh đạt các danh hiệu trên đều được
tuyên dương và khen thưởng như giáo viên và học sinh đạt thành tích ở các môn văn
hoá, được ghi trong sổ vàng truyền thống của nhà trường và thành tích này cũng được
tính vào xét thi đua cuối năm của cá nhân và tập thể.
3.3.Điều kiện thực hiện các giải pháp.
Nghiên cứu, hiểu sâu sắc các văn bản hướng dẫn, xác định những nội dung cơ
bản cần triển khai. Chủ động xây dựng kế hoạch và lựa chọn thời gian thích hợp để
triển khai, tranh thủ được sự tham gia ý kiến của các tổ chức đoàn thể, cán bộ, giáo
viên, nhân viên, cha mẹ học sinh trong việc xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện.
Xây dựng kế hoạch bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ về công tác giáo dục kỹ
năng sống ngay từ đầu năm học, chỉ đạo các tổ chuyên môn xây dựng kế hoạch cụ thể
và thực hiện kế hoạch tại các tổ.
Chuẩn bị nội dung chu đáo cho các buổi tập huấn, sát với đặc điểm nhà trường,
phân công giáo viên phụ trách công tác tập huấn đảm bảo về nghiệp vụ, khả năng tổ
chức và truyền đạt.
Ban giám hiệu chủ động trong phối hợp và thống nhất biện pháp giáo dục giữa
thời đánh giá chất lượng của buổi sinh hoạt, biểu dương, khen thưởng các tập thể, cá
nhân đã tích cực tham gia trong buổi sinh hoạt, sau đó thông báo nội dung sinh hoạt
lần kế tiếp, để học sinh có thể chuẩn bị trước.
Ban giám hiệu đưa tiêu chuẩn tham gia các buổi sinh hoạt tập thể thành một
tiêu chuẩn thi đua xếp loại các lớp, tiêu chuẩn xét thi đua giáo viên chủ nhiệm cuối
năm.
3.4.Mối quan hệ giữa các giải pháp.
Các giải pháp trên có mối liên hệ mật thiết với nhau, khi thực hiện phải đồng
thời áp dụng các giải pháp đó thì hiệu quả giáo dục kỹ năng sống mới đạt hiệu quả
cao; trong đó biện pháp 1 là tiền đề, biện pháp 2;3;4;5 là quan trọng và then chốt, biện
pháp 6 là biện pháp hỗ trợ; trình tự thực hiện các biện pháp theo thứ tự từ 1 đến 6.
3.5.Kết quả khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề nghiên cứu, phạm vi và
hiệu quả ứng dụng.
Qua việc tăng cường các biện pháp giáo dục kĩ năng sống thông qua hoạt động
của Đội thiếu niên tiền phong Hồ Chí Minh đã đưa giáo dục kỹ năng sống vào các
hoạt động giáo dục. Bước đầu giúp đỡ học sinh rèn luyện một số kỹ năng cơ bản như:
kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng phát biểu trước đám đông, kỹ năng ứng xử, kỹ năng
tự bảo vệ sức khỏe....Các em đã có ý thức tốt hơn kỹ năng giao tiếp, ứng xử, tự tin,
biết tự chăm sóc sức khỏe cho bản thân, có kỹ năng quản lý về thời gian trong học tập
tốt hơn.... bước đầu các em đã biết vận dụng kiến thức đã học để bảo vệ môi trường,
chăn nuôi, trồng trọt, giải thích các hiện tượng thực tiễn, biết giúp đỡ, đoàn kết, biết
vâng lời, lễ phép với thầy cô giáo hơn, biết từ chối khi cần thiết…Chương trình giáo
dục kỹ năng sống làm cho các tiết sinh hoạt đội trở nên phong phú hơn, thu hút được
các em tham gia nhiệt tình hơn. Đặc biệt, đa số các em đã có ý thức hơn trong việc tự
rèn luyện kỹ năng sống nhằm tự hoàn thiện mình.
*Kết quả cụ thể: Khi tôi mới bắt tay vào nghiên cứu đề tài giáo dục kỹ năng
sống cho học sinh trong nhà trường, tôi đã làm một cuộc điều tra nhỏ về nhận thức
cũng như việc thực hiện những kỹ năng sống cơ bản của các em thì nhận thấy rằng,
hầu như các em chưa nhận thức được sự quan trọng phải học kỹ năng sống, hoặc thấy
không cần phải rèn kỹ năng sống; và có đến hơn 65% số học sinh trong trường thiếu
YẾU
Khả năng
tự tin trong
giao tiếp
Thiếu tự
tin trong
giao tiếp
Học
sinh bỏ
học
2013-2014
156
69,9
23,1
7,0
0
46,1%
53,9%
0
66%
34%
01
2016-2017
(HKI)
157
80,3
18,5
1,2
0
71,3%
28,7%
* Nhận xét: Kết quả ở bảng 2 cho thấy những tác động của những biện pháp
nêu ra trong đề tài đã ảnh hưởng tích cực đến việc rèn luyện đạo đức của học sinh. So
với các năm học trước, tỉ lệ học sinh được xếp loại hạnh kiểm tốt tăng lên đáng kể
(10,4%), từ 69,9% năm học 2013 – 2014 lên 80,3% trong học kỳ I năm học 2016 –
2017. Điều đó cũng đồng nghĩa tỉ lệ học sinh xếp loại hạnh kiểm trung bình giảm đi
hiện rõ nét từ kết quả các hoạt động phong trào và các cuộc thi. So với các năm học
trước, tỉ lệ học sinh đạt giải tăng lên đáng kể về văn hóa cũng như văn nghệ, thể dục
thể thao, công tác đội.
Những kết quả đạt được ở trên là cơ sở để nhà trường tiếp tục nhân rộng và
tăng cường các biện pháp đã thực hiện trong đề tài trong thời gian tiếp theo của năm
học và các năm học tiếp theo.
4. Kết quả thu được qua khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề nghiên
cứu.
- Đối với các thầy giáo, cô giáo: Ý thức tự giác nâng cao trình độ, tay nghề, đổi
mới phương pháp giảng dạy của giáo viên đáp ứng yêu cầu của ngành ngày càng cao
hơn. Việc sử dụng các kênh thông tin, các thiết bị, phương tiện dạy học đã tốt hơn, các
ứng dụng công nghệ thông tin: giáo án điện tử, sử dụng kênh hình cho việc giảng dạy
được nâng lên và có hiệu quả trong việc giảng dạy, truyền thụ kiến thức. Thông qua
việc dạy tích hợp giáo dục công dân, rèn kỹ năng sống qua các bộ môn được các thầy
cô chú trọng và thực hiện nghiêm túc. Thông qua các giải pháp để rèn các nhóm kỹ
năng sống mà thầy cô gần gũi học sinh hơn; hiểu được hoàn cảnh của các em, từ đó
có những biện pháp giáo dục đạo đức học sinh tốt hơn.
- Đối với học sinh: Các em đã bổ sung cho bản thân được các kỹ năng sống tối
thiểu mà trước đây các em không để ý tới như cách xưng hô lễ phép với thầy cô, với
khách, với người lớn tuổi; các em biết ứng xử thân thiện hơn trong mọi tình huống, đã
biết kiềm chế bản thân, biết làm việc theo nhóm, bước đầu có kỹ năng về hoạt động
xã hội. Các em đã biết giữ gìn sức khỏe, có ý thức bảo vệ bản thân. Thông qua việc
18 |
Lương Đức Thuận – Hiệu trưởng trường PTDTNT Krông Ana
Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trường PTDT Nội trú
rèn kỹ năng sống các em đã có ý thức tốt hơn trong học tập trên lớp và ý thức tự học
Công tác giáo dục kỹ năng sống trong nhà trường có vai trò rất quan trọng
trong việc nâng cao chất lượng giáo toàn diện học sinh. Để làm tốt công tác này, nhà
trường cần có những biện pháp chỉ đạo sát sao, cần phát huy tối đa vai trò chủ đạo của
Đội thiếu niên tiền phong Hồ Chí Minh trong việc tổ chức đa dạng các hoạt động giáo
dục kỹ năng sống cho học sinh.
19 |
Lương Đức Thuận – Hiệu trưởng trường PTDTNT Krông Ana
Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trường PTDT Nội trú
Để tăng cường giáo dục đạo đức, giáo dục kỹ năng sống, để hình thành nhân
cách cho học sinh đòi hỏi thầy, cô giáo phải có đức tính kiên trì, khéo léo trong ứng
xử, tế nhị để có thể tìm hiểu sâu sắc từng đối tượng học sinh và thương yêu các em
với một tình cảm chân thành. Cần có cách cư xử nhẹ nhàng, chừng mực với từng đối
tượng, quan tâm đến các em, tạo cho các em có sự tin tưởng tuyệt đối với giáo viên.
Muốn giáo dục cho học sinh tránh những hành vi đạo đức sai lệch, chưa ngoan
thì thầy, cô giáo phải biết kết hợp các phương pháp một cách nhuần nhuyễn; Phải
nghiên cứu, hiểu và nắm bắt kịp thời vấn đề tâm sinh lý cũng như những biểu hiện bất
thường của từng đối tượng một cách chính xác để sử dụng các giải pháp nhằm giáo
dục đạo đức, giáo dục kỹ năng sống thích hợp cho từng cá nhân để làm thay đổi
những suy nghĩ sai lệch ở từng đối tượng.
Đi đôi với việc giáo dục cũng cần chú ý tới việc biểu dương, khen thưởng kịp
thời những học sinh có đạo đức tốt trước cờ hoặc trên các bản tin của nhà trường,
trong sơ kết, tổng kết… Đồng thời, đẩy mạnh hoạt động vui chơi giải trí, trò chơi tập
thể, xây dựng tốt nề nếp học tập, thu hút các em vào các trò chơi bổ ích. Xây dựng mô
hình lớp tự quản, gắn cá nhân với tập thể lớp. Cần chú ý các tiết giảng dạy môn giáo
dục công dân, hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp, sinh hoạt lớp...
Mặt khác nhà trường, gia đình và xã hội cần phối hợp chặt chẽ nhằm hỗ trợ cho
- Đối với các thầy, cô giáo cần quan tâm thực hiện từng “bước nhỏ” chú ý giúp
đỡ, rèn kỹ năng sống cho học sinh từ những kỹ năng tối thiểu trong cuộc sống hàng
ngày đến các quy định, ứng xử, xử lý tình huống ở mọi nơi, mọi lúc; khi tiếp xúc với
HS phải gần gũi với các em và thể hiện đúng lương tâm trách nhiệm người thầy, coi
HS là con, em của mình để giúp các em có những kỹ năng phù hợp chuẩn đạo đức
HS.
- Đối với cha mẹ học sinh cần phải quan tâm nhiều hơn nữa đến việc giáo dục
con em ở gia đình, thường xuyên phối kết hợp chặt chẽ với nhà trường và xã hội.
Trên đây là đề tài tôi đã thực hiện trong thời gian qua, chắc chắn rằng sẽ còn
những khiếm khuyết cần bổ sung. Rất mong sẽ nhận được sự góp ý chân thành của
các đồng nghiệp, Hội đồng khoa học để kinh nghiệm trên được đầy đủ hơn, có khả
năng ứng dụng rộng rãi trong các nhà trường, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục
kỹ năng sống cho học sinh trường PTDTNT Krông Ana nói riêng và học sinh các
trường PTDTNT trên địa bàn toàn tỉnh nói chung.
Tôi xin chân thành cảm ơn.
Krông Ana, ngày 06 tháng 3 năm 2017
NGƯỜI THỰC HIỆN
Lương Đức Thuận
ĐÁNH GIÁ, NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG KHOA HỌC NHÀ TRƯỜNG.
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
21 |
Lương Đức Thuận – Hiệu trưởng trường PTDTNT Krông Ana
Thanh niên, 2007.
8. Lưu Thu Thủy (chủ biên), Giáo dục kỹ năng sống cho trẻ em có hoàn cảnh khó
khăn, 2005.
23 |
Lương Đức Thuận – Hiệu trưởng trường PTDTNT Krông Ana
Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trường PTDT Nội trú
MỤC LỤC
I. PHẦN MỞ ĐẦU
1. lý do chọn đề tài.
2. Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài.
3. Đối tượng nghiên cứu:
4. Giới hạn phạm vi nghiên cứu.
5. Phương pháp nghiên cứu.
II. PHẦN NỘI DUNG
1. Cơ sở lý luận:
2 Thực trạng của vấn đề nghiên cứu:
2.1. Thuận lợi- khó khăn
2.2. Thành công - hạn chế.
2.3. Mặt mạnh- mặt yếu.
2.4. Các nguyên nhân, các yếu tố tác động…
2.5. Phân tích, đánh giá các vấn đề về thực trạng mà đề tài đã đặt ra.
3. Nội dung và hình thức của giải pháp
3.1. Mục tiêu của giải pháp.
3.2. Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp.
3.3. Điều kiện thực hiện các giải pháp