TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP. HỒ CHÍ MINH
KHOA SAU ĐẠI HỌC
LỚP CAO HỌC KINH TẾ - 2011
TIỂU LUẬN
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA VIỆC SỬ DỤNG
ĐIỆN THOẠI DI ĐỘNG VÀ CÁC DỊCH VỤ CỘNG THÊM
CỦA DỊCH VỤ ĐIỆN THOẠI VINAPHONE ĐẾN
SẢN XUẤT VÀ TIÊU THỤ NÔNG SẢN CỦA
NÔNG DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT
GV hướng dẫn: TS. Trần Đắc Dân
Học viên thực hiện: Đặng Ngọc Chung
MỞ ĐẦU
1.
SỰ CẦN THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Trong xu thế hội nhập thế giới và cạnh tranh ngày càng gay gắt, nền kinh tế Việt Nam
đang từng bước chuyển mình, phát triển theo định hướng công nghiệp hóa – hiện đại hóa. Viễn
thông là một trong những ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước, đóng vai trò quan trọng trong
lĩnh vực an ninh – quốc phòng, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân và đem
lại một nguồn thu ngân sách to lớn.
Thị trường viễn thông Việt Nam hiện nay theo đánh giá của các chuyên gia là đang dần
đi vào bão hòa. Số lượng thuê bao phát triển còn vượt cả dân số Việt Nam, dù trong số đó không
ít thuê bao ảo. Số lượng các nhà mạng đã quá đông khi có đến 7 doanh nghiệp hoạt động chính
thức (VinaPhone, MobiFone, Viettel, Vietnamobile, Beeline, S-Fone, EVNTelecom) và 2 doanh
nghiệp đã được cấp phép kinh doanh mạng ảo (Indochina Telecom, VTC).
VinaPhone là nhà cung cấp các dịch vụ phi thoại hàng đầu, đem đến những tiện ích phong phú
cho khách hàng.
2.
MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
Từ cơ sở lý luận về Marketing Mix, dịch vụ Thông tin di động, dịch vụ cộng thêm cũng
như mối quan hệ giữa các vấn đề này cùng những khảo sát thực tế về mức độ ảnh hưởng của
dịch vụ điện thoại di động và các dịch vụ cộng thêm của dịch vụ điện thoại di động vinaphone tại
Tp Đà Lạt, để tài này góp phần xây dựng những giải pháp nhằm gia tăng mức độ sử dụng dịch vụ
điện thoại di động và các dịch vụ cộng thêm của dịch vụ VinaPhone tại TP.Đà Lạt.
3.
ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Trung tâm Dịch vụ Viễn thông khu vực II, Văn phòng Đại diện Vinaphone tại Lâm
Đồng, dịch vụ điện thoại di động của các doanh nghiệp viễn thông trên địa bàn tình Lâm Đồng,
dịch vụ cộng thêm cộng thêm của vinaphone.
4.
PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Dựa trên nhiệm vụ và chức năng của Trung tâm Dịch vụ Viễn thông khu vực II, Văn
phòng Đại diện Vinaphone tại Lâm Đồng , phạm vi phân tích là doanh thu, số lượng, tốc độ phát
triển thuê bao, các dịch vụ cộng thêm của dịch vụ vinaphone.
Đề tài không nghiên cứu các vấn đề về vốn sử dụng, giá thành dịch vụ cũng như các vấn
đề chuyên sâu về kỹ thuật của dịch vụ thông tin di động VinaPhone.
5.
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đề tài sử dụng các phương pháp cơ bản sau: phương pháp duy vật biện chứng, phương
pháp thống kê, dự báo toán học, đối chiếu so sánh, suy luận logic… để làm rõ vấn đề nghiên cứu
và đạt được mục tiêu đề ra của đề tài.
6.
BỐ CỤC CỦA ĐỀ TÀI
Đề tài gồm 3 phần:
các điều kiện môi trường nào có nhiều khả năng ảnh hưởng đến việc ra quyết định của doanh
nghiệp.
1
Phân tích môi trường vĩ mô
Môi trường vĩ mô bao gồm những yếu tố tác động đến đơn vị một cách toàn diện, đặc
điểm hoạt động của đơn vị đó. Nó được xác lập bởi các yếu tố như: những điều kiện kinh tế,
chính trị xã hội, văn hoá tự nhiên, dân số, công nghệ và kỹ thuật. Mỗi yếu tố của môi trường vĩ
mô có thể ảnh hưởng đến tổ chức một cách độc lập hoặc trong liên kết với các yếu tố khác.
Việc phân tích môi trường vĩ mô giúp doanh nghiệp trả lời câu hỏi “Doanh nghiệp đang
trực diện với những gì?”.
1.1.1.1.
Yếu tố kinh tế
Các yếu tố môi trường kinh tế thường tác động một cách trực tiếp và năng động, các diễn
biến của môi trường kinh tế bao giờ cũng chứa đựng những cơ hội và đe doạ khác nhau đối với
từng doanh nghiệp và cũng có ảnh hưởng tiềm tàng đến các chiến lược của doanh nghiệp. Các
yếu tố kinh tế cơ bản là:
Xu hướng của tổng sản phẩm nội địa và tổng sản phẩm quốc dân.
Các số liệu về tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm nội địa và tổng sản phẩm quốc dân hàng năm sẽ
cho biết tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế và tốc độ tăng thu nhập bình quân đầu người.
Lãi suất và xu hướng lãi suất trong nền kinh tế có ảnh hưởng đến xu thế của đầu tư, tiết kiệm và
tiêu dùng. Do đó ảnh hưởng đến hoạt động của doanh nghiệp.
Cán cân thanh toán quốc tế.
Xu hướng của tỷ giá hối đoái. Sự biến động của tỷ giá hối đoái làm thay đổi điều kiện kinh
doanh nói chung, tạo ra những cơ hội và đe dọa khác nhau đối với doanh nghiệp.
Mức độ lạm phát. Tỷ lệ lạm phát cao hay thấp có ảnh hưởng đến tốc độ đầu tư vào nền kinh tế.
Việc lạm phát quá cao hoặc thiểu phát đều ảnh hưởng không tốt đối với nền kinh tế. Do đó việc
duy trì một tỷ lệ lạm phát vừa phải sẽ có tác dụng khuyến khích thị trường tăng trưởng.
Các chính sách tiền tệ của nhà nước.
Yếu tố dân số tác động tiếp đến sự thay đổi của môi trường kinh tế và xã hội. Thông tin
về dân số cung cấp cho nhà quản trị những dữ liệu quan trọng trong việc hoạch định chiến lược.
Do đó khi xây dựng chiến lược cần quan tâm các yếu tố sau:
Tổng dân số xã hội, tỉ lệ tăng dân số.
Kết cấu và xu hướng thay đổi của dân số: tuổi tác, giới tính, dân tộc, nghề nghiệp, tôn giáo, phân
phối thu nhập.
Xu hướng dịch chuyển dân số giữa các vùng.
1.1.1.5.
Yếu tố tự nhiên
Môi trường tự nhiên bao gồm: vị trí địa lý, khí hậu, cảnh quan tự nhiên, cảng biển, các tài
nguyên. Điều kiện tự nhiên là yếu tố đầu vào quan trọng của nhiều ngành kinh tế. Đồng thời điều
kiện tự nhiên có thể trở thành thế mạnh nhưng cũng có thể cản trở sự phát triển của một ngành.
Do đó nhà quản trị cần phải quan tâm đến :
Các loại tài nguyên.
Các vấn đề ô nhiễm môi trường.
Sự thiếu hụt năng lượng.
Sự tiêu phí nguồn tài nguyên thiên nhiên.
1.1.1.6.
Yếu tố kỹ thuật – công nghệ
Ít có ngành công nghiệp và doanh nghiệp nào mà không phụ thuộc vào công nghệ hiện
đại. Sẽ còn nhiều công nghệ tiên tiến ra đời, tạo ra các cơ hội cũng như các nguy cơ đối với tất cả
các ngành. Khi nghiên cứu yếu tố này cần lưu ý các vấn đề sau:
Chi phí cho công tác nghiên cứu và phát triển từ ngân sách quốc gia.
Chi phí nghiên cứu và phát triển trong ngành.
Tiêu điểm các nỗ lực công nghệ.
Sự bảo vệ bằng phát minh sáng chế.
Chuyển giao công nghệ.
Tự động hoá.
Khách hàng là những người tiêu thụ và sử dụng sản phẩm của doanh nghiệp. Các doanh
nghiệp muốn tồn tại cần phải lôi kéo khách hàng nhiều hơn, khách hàng trung thành là một lợi
thế của doanh nghiệp.
Muốn làm được điều đó doanh nghiệp phải làm thỏa mãn những nhu cầu và những mong
muốn của khách hàng ngày càng một tốt hơn. Vì vậy, việc nghiên cứu khách hàng là rất quan
trọng nhằm giúp doanh nghiệp gần gũi với khách hàng hơn. Các vấn đề đặt ra khi nghiên cứu
khách hàng:
Vì sao khách hàng mua hoặc không mua sản phẩm?
Những vấn đề nhu cầu nào của khách hàng cần xem xét?
Những khác biệt quan trọng giữa các nhóm khách hàng khác nhau là gì?
Khách hàng mua sản phẩm như thế nào? Khi nào và bao nhiêu?
1.1.1.9.
Nhà cung cấp
Nhà cung cấp bao gồm những người cung cấp các yếu tố đầu vào cho doanh nghiệp như:
những nhà cung ứng trang thiết bị, vật tư, cung ứng tài chính hay các nguồn lao động. Các nhà
cung cấp có thể tạo ra những áp lực cho các doanh nghiệp trong những trường hợp sau:
Khi chỉ có một số ít các nhà cung cấp.
Khi sản phẩm thay thế không có sẵn.
Khi người mua thể hiện một lượng nhỏ trong sản lượng của nhà cung cấp.
Khi sản phẩm của nhà cung cấp có tính khác biệt và được đánh giá cao hơn khách hàng
của người mua.
Người mua phải chịu một chi phí cao do thay đổi nhà cung cấp.
Khi nhà cung ứng đe dọa hội nhập về phía trước.
Từ những áp lực của các nhà cung cấp, doanh nghiệp phải nghiên cứu để hiểu biết về
những nhà cung cấp, từ đó giúp doanh nghiệp có chiến lược liên kết một cách thích hợp với các
nhà cung cấp nhằm giảm áp lực đầu vào.
1.1.1.10.
Đối thủ tiềm ẩn
Đối thủ tiểm ẩn hay còn gọi là đối thủ tiềm năng là các đối thủ chưa nguy hiểm ở hiện tại
nhưng sẽ rất nguy hiểm trong tương lai. Đây là những doanh nghiệp mặc dù chưa có sức mạnh
điểm mạnh và những điểm yếu bên trong, cùng với cơ hội và nguy cơ bên ngoài là những điểm
cơ bản cần quan tâm khi thiết lập các mục tiêu và chiến lược.
Trong một doanh nghiệp bao gồm tất cả các yếu tố và hệ thống bên trong của nó, phải
phân tích kỹ những yếu tố nội bộ nhằm xác định rõ ưu điểm, nhược điểm của mình. Trên cơ sở
đó đưa ra các biện pháp nhằm giảm bớt nhược điểm và phát huy ưu điểm để đạt được lợi thế tối
đa.
Các yếu tố chủ yếu bên trong nội bộ mà ta cần phân tích là: marketing, sản xuất, tài
chính, quản trị, nghiên cứu và phát triển hệ thống thông tin.
1.1.1.12.
Yếu tố marketing
Marketing là một quá trình xác định dự báo, thiết lập và thỏa mãn các nhu cầu, mong
muốn của người tiêu dùng đối với các sản phẩm hay dịch vụ. Các vấn đề sau cần phải được làm
rõ và xem xét đến hiệu quả của hoạt động marketing:
Các loại sản phẩm hay dịch vụ của doanh nghiệp, mức đa dạng của sản phẩm, chu kỳ
sống của sản phẩm, chất lượng và ấn tượng của sản phẩm.
Kênh phân phối: số lượng, phạm vi và mức độ kiểm soát.
Chiến lược về giá và tính linh động trong việc định giá.
Vấn đề quảng cáo, khuyến mại và dịch vụ hậu mãi.
1.1.1.13.
Yếu tố sản xuất
Sản xuất là một hoạt động chính yếu trong doanh nghiệp, nó gắn liền với việc tạo ra sản
phẩm. Vì vậy nó ảnh hưởng mạnh mẽ đến khả năng đạt tới thành công của doanh nghiệp. Do đó,
khi phân tích đến hoạt động sản xuất phải chú ý đến quá trình sản xuất, công suất máy móc, thiết
bị tồn kho, lượng lao động. Khi phân tích các yếu tố sản suất ta nên lưu ý các vấn đề sau:
Mức độ cung ứng nguyên vật liệu, quan hệ với người cung cấp hàng.
Sự bố trí các phương tiện sản xuất và hiệu quả sử dụng máy móc thiết bị.
Lợi thế do sản xuất với quy mô lớn.
1.1.1.14.
hậu so với những doanh nghiệp khác. Vì vậy cần đầu tư vào nghiên cứu và phát triển nhằm nâng
cao khả năng dự báo của doanh nghiệp, cũng như giúp doanh nghiệp kiểm soát được thị trường
một cách hiệu quả nhất.
Hệ thống thông tin giúp doanh nghiệp cải tiến các hoạt động của mình bằng cách nâng
cao chất lượng của các quyết định quản trị. Một hệ thống thông tin hiệu quả sẽ thu thập, mã hoá,
lưu trữ, tổng hợp và đưa ra các thông tin nhằm trả lời những câu hỏi về chiến lược. Do ngày nay
các tổ chức càng trở nên phức tạp hơn, phân tán trên một không gian rộng nên việc tổ chức một
hệ thống thông tin sao cho nhanh chóng và có hiệu quả là một việc làm hết sức cần thiết.
4
Phân tích ma trận SWOT
1.1.1.17.
Ma trận SWOT
Từ phân tích môi trường vĩ mô phân tích môi trường vi mô và môi trường nội bộ, ta tổng
kết những điểm mạnh, điểm yếu của doanh nghiệp và các cơ hội, nguy cơ có ảnh hưởng đến
doanh nghiệp.
Những điểm mạnh: phân tích những điểm mạnh.
Những điểm yếu: phân tích những điểm yếu.
Những cơ hội: phân tích các cơ hội.
Những nguy cơ: phân tích các nguy cơ.
1.1.1.18.
Phân tích ma trận SWOT
Để xây dựng ma trận SWOT trước tiên ta cần phân tích các điểm mạnh, điểm yếu, các cơ
hội và các nguy cơ trên các ô tương ứng. Sau đó phối hợp các yếu tố trên để tạo chiến lược và
tiến hành so sánh một cách có hệ thống từng cặp tương ứng của các yếu tố.
Ma trận SWOT được biểu thị như sau:
Hình 1. : Ma trận SWOT.
Việc kết hợp các yếu tố quan trọng bên trong và bên ngoài là nhiệm vụ khó khăn nhất của
Quá trình nghiên cứu thị trường
1.2.1.1.
Xác định vấn đề nghiên cứu
Mô tả vấn đề.
Thiết lập mục tiêu nghiên cứu.
Xây dựng các câu hỏi nghiên cứu.
Chuẩn bị các câu hỏi nhỏ.
Lên kế hoạch về thời gian.
1.2.1.2.
Lựa chọn mô hình nghiên cứu
Nghiên cứu thăm dò (thu thập những thông tin một cách không chính thống):
Nói chuyện với khách hàng
Xem xét lý thuyết
Thảo luận với các chuyên gia
Nghiên cứu mô tả (liên quan tới các biện pháp và qui trình, ai trả lời, cái gì, tại sao và
như thế nào).
Nghiên cứu nhân quả (được thực hiện bằng cách kiểm soát những nhân tố khác nhau để
xác định xem nhân tố nào gây ra kết quả, thường cần sự thử nghiệm khá phức tạp và đắt tiền).
Nhận diện loại và nguồn thông tin:
Sơ cấp và thứ cấp.
Định tính và định lượng.
Xác định và thiết kế công cụ nghiên cứu: Phương pháp thu thập dữ liệu (hỏi câu hỏi,
quan sát, thảo luận bàn tròn hay điều tra nhóm, điều tra qua điện thoại, thư, hỏi trực tiếp).
1.2.1.3.
Thu thập dữ liệu
Dữ liệu sơ cấp: những số liệu mới được thu thập lần đầu tiên
Điều tra (hỏi trực tiếp khách hàng xem họ muốn gì).
mối quan hệ giữa người cung cấp với khách hàng hoặc tài sản của khách hàng mà không có sự
thay đổi quyền sở hữu.
Sản phẩm của nó có thể có hay không gắn liền với một sản phẩm vật chất.
Những đặc điểm của dịch vụ:
•
Tính vô hình (Intanlibigity).
•
Tính đồng thời (inseparability).
•
Tính đa dạng (Variability).
•
Tính không thể dự trữ (Perishability).
9
Lý luận về dịch vụ thông tin di động
1.3.1.1.
Khái niệm về dịch vụ thông tin di động
Dịch vụ thông tin di động (TTDĐ) là dịch vụ thông tin vô tuyến hai chiều cho phép một
thuê bao di động có thể nhận cuộc gọi và thực hiện cuộc gọi tới bất kì thuê bao điện thoại cố
định hoặc di động nào nằm trong vùng phủ sóng.
10
Vai trò của dịch vụ thông tin di động
Theo các bậc thang nhu cầu của Maslow, nhu cầu của con người không ngừng mở rộng.
Cuộc sống càng phát triển với tốc độ nhanh, con người càng có thêm nhu cầu trao đổi thông tin
và tình cảm. Với sự trợ giúp của tiến bộ khoa học – kỹ thuật, chiếc điện thoại di động gần như
trở thành “vật bất ly thân” của mỗi người.
Dịch vụ TTDĐ có vai trò vô cùng to lớn đối với đời sống con người: giúp việc trao đổi
thông tin và tình cảm giữa cá nhân với cá nhân, cá nhân với tổ chức, tổ chức với tổ chức trở nên
dễ dàng, thuận tiện và ít tốn kém hơn.
11
Đặc điểm dịch vụ thông tin di động
đa dạng của họ. Chính vì vậy, tải trọng của mạng không thể đồng đều theo cả không gian và thời
gian. Ðiều này đòi hỏi nhà cung cấp dịch vụ phải nghiên cứu kĩ lưỡng về sự dao động của lượng
tải để có những chính sách điều tiết thích hợp đảm bảo phù hợp tối đa giữa nhu cầu phát sinh từ
khách hàng và năng lực cung cấp của mình.
1.4.
12
LÝ LUẬN VỀ DỊCH VỤ GIÁ TRỊ GIA TĂNG
Khái niệm về dịch vụ giá trị gia tăng
Dịch vụ giá trị gia tăng là những dịch vụ phát sinh thêm trong quá trình hoạt động của
dịch vụ chính, ở đây là dịch vụ thông tin di động. Có thể hiểu đây là một thuật ngữ ngành công
nghiệp viễn thông cho các dịch vụ không lõi, hoặc trong ngắn hạn, tất cả các dịch vụ vượt ra
ngoài những cuộc gọi thoại tiêu chuẩn và truyền fax.
−
−
−
−
Theo định nghĩa của Tổ chức Thương mại thế giới, Dịch vụ giá trị gia tăng là các dịch vụ
viễn thông mà theo đó nhà cung cấp “tăng thêm giá trị” cho thông tin của khách hàng bằng việc
nâng cao hình thức hoặc nội dung, hoặc cung cấp cho khả năng lưu trữ và phục hồi.
13
Đặc điểm của dịch vụ giá trị gia tăng
Các DV GTGT được cung cấp tại nhà điều hành mạng di động hoặc nhà cung cấp DV GTGT
bên thứ ba, hay còn gọi là Nhà cung cấp nội dung.