MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Chúng ta đang sống trong thời đại của hai cuộc cách mạng: cách mạng khoa học
– kỹ thuật (CMKH - KT) và cách mạng xã hội. Những cuộc cách mạng này đang
phát triển như vũ bão với nhịp độ nhanh chưa từng có trong lịch sử loài người, thúc
đẩy nhiều lĩnh vực, có bước tiến mạnh mẽ và đang mở ra nhiều triển vọng lớn lao
khi loài người bước vào thế kỷ XXI. Công nghệ thông tin và truyền thông (ICT) là
một thành tựu lớn của cuộc CMKH – KT hiện nay. Nó thâm nhập và chi phối hầu
hết các lĩnh vực nghiên cứu khoa học, ứng dụng công nghệ trong sản xuất, giáo dục,
đào tạo và các hoạt động chính trị, xã hội khác. Và việc đưa CNTT với tư cách là
phương tiện dạy học (PTDH) hiện đại đã trở thành một trào lưu mạnh mẽ với quy
mô quốc tế và đó là một xu thế của giáo dục thế giới [17].
Một trong những vấn đề ngành Giáo dục nước ta quan tâm hiện nay là yêu cầu
giáo viên ứng dụng những thành tựu CNTT nhằm cụ thể hóa chủ trương đổi mới
phương pháp dạy học. Điều này được cụ thể qua việc khuyến khích người dạy
chuyển sang soạn giáo án và bài giảng trên máy vi tính mà chúng ta vẫn quen gọi là
giáo án điện tử (GAĐT). Đây là một yêu cầu cần thiết đối với những người làm
công tác giảng dạy nói chung trong xu thế hiện nay [8].
Sinh học là bộ môn khoa học thực nghiệm, chứa đựng cả một kho tàng kiến thức
sinh động, phong phú, hấp dẫn, dễ dàng kích thích,tạo hứng thú cho học sinh. Muốn
được như vậy, GV cần tổ chức các hoạt động bằng các phương pháp quan sát, mô
tả, thí nghiệm, thực nghiệm,… giúp HS tự tìm tòi, phát hiện để chiếm lĩnh tri
thức[2].Phần Sinh học cơ thể thực vật trong chương trình Sinh học 11 nâng cao
chứa đựng nhiều nội dung kiến thức hay, có những kiến thức các em khó có thể
hình dung nếu không có hình ảnh minh họa, cũng có những kiến thức rất thực tế
gần gũi với các em, tuy nhiên tư liệu hình ảnh trong sách giáo khoa (SGK) không
đáp ứng đủ nhu cầu tìm hiểu của học sinh cũng như tài liệu cho quá trình soạn giáo
án của giáo viên. Để nâng cao hiệu quả giảng dạy cho giáo viên cũng như sinh viên
sư phạm mới ra trường có thể tiết kiệm được thời gian tìm kiếm nguồn tư liệu, phục
Phân tích mục tiêu, kiến thức phầnSinh học cơ thể thực vật – Sinh học 11NC.
-
Sưu tầm, biên tập hệ thống hình ảnh, video, kiến thức bổ sung, trò chơi ô chữ
phù hợp với từng nội dung kiến thức trong SGK thuộc phần Sinh học cơ thể
thực vật – Sinh học 11NC.
-
Ứng dụng quy trình thiết kế bộ tư liệu hỗ trợ giảng dạy các kiến thức về phần
Sinh học cơ thể thực vật trên phần mềm Microsoft FrontPage.
-
Thiết kế giáo án có sử dụng hình ảnh, video, trò chơi ô chữ của bộ tư liệu để
giảng dạy một số bài thuộc phần Sinh học cơ thể thực vật trong SGK sinh học
11NC.
-
Khảo sát điều tra tính khả thi, hiệu quả việc sử dụng bộ tư liệu hỗ trợ giảng
dạy phần Sinh học cơ thể thực vật – Sinh học 11NC.
4. Nội dung bộ tư liệu
-
Hệ thống các hình ảnh, phim có chú thích nội dung.
1.1.1. Trên thế giới
Từ thập niên 90 của thế kỉ trước, vấn đề ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy
học là một chủ đề lớn được UNESCO chính thức đưa ra thành chương trình hành
động trước ngưỡng cửa của thế kỉ XXI và dự đoán sẽ có sự thay đổi nền giáo dục
một cách căn bản vào đầu thế kỷ XXI do ảnh hưởng của CNTT [4].
Công nghệ thông tin ở các nước tiên tiến trên thế giới đã và đang phát triển như
vũ bão, khi CNTT càng phát triển thì việc phát huy ứng dụng CNTT vào tất cả các
lĩnh vực là một điều tất yếu.Ứng dụng CNTT trong dạy học và công tác quản lý
đang là một xu thế tất yếu của nhiều quốc gia trong thế kỷ XXI – kỷ nguyên của
thông tin và tri thức[4].Ở hầu hết các trường phổ thông các nước tiên tiến như Hoa
Kỳ, Pháp, Nhật,.. việc học với các phương tiện hiện đại đã không còn là vấn đề mới,
các trường đều có phương tiện hỗ trợ đa chức năng, phòng multimedia. Các bài
giảng sinh động ứng dụng các phần mềm dạy học thông minh đã kích thích sự hứng
thú, sáng tạo ở HS[9].
Không chỉ ở các nước có nền giáo dục tiên tiến từ lâu đã ứng dụng những thành
tựu của CNTT vào trong giảng dạy mà hiện nay hầu hết các trường học nói chung
và trường phổ thông nói riêng đều đã được trang bị những phương tiện kĩ thuật,
máy móc hiện đại phục vụ cho quá trình dạy học. Trình độ giáo viên được nâng cao
rõ rệt về trình độ tin học song song với chuyên môn, việc tìm kiếm thông tin, thao
tác trên máy tính cũng như sử dụng hiệu quả các tư liệu phục vụ cho quá trình dạy
học ngày càng thành thạo. HS được tiếp xúc nhiều hơn với các phương tiện trực
quan giúp quá trình học tập trở nên hứng thú hơn, kích thích sự sáng tạo và phát huy
nhiều hơn khả năng của học sinh. Chính vì vậy, hệ thống cơ sở dữ liệu dạy học
trong đó có bộ tư liệu hỗ trợ dạy học được trang bị đa dạng và tương đối đầy đủ,
đáp ứng nhu cầu dạy – học của giáo viên và học sinh [11].
1.1.2. Ở Việt Nam
Ở nước ta, vấn đề ứng dụng CNTT trong giáo dục, đào tạo được Đảng và Nhà
nước ta rất coi trọng, coi yêu cầu đổi mới PPDH có sự hỗ trợ của các phương tiện
dục Việt Nam thực hiện đổi mới căn bản toàn diện nền giáo dục Việt Nam [11].
Nhiều chương trình, dự án đã được triển khai nhằm đẩy mạnh ứng dụng CNTT
trong dạy học ở các trường THPT.Hiện có 96% các trường THPT trong cả nước đã
kết nối Internet phục vụ cho việc dạy và học ở trường. Tại mỗi trường đã trang bị ít
nhất hai máy tính để kết nối. Nhiều tỉnh, thành còn đầu tư mạnh hơn như Đà Nẵng,
Đồng Nai [6].
Hiện nay, việc giảng dạy bằng các trang trình chiếu powerpoint đang được nhiều
GV trường THPT thực hiện. Vấn đề xây dựng các bài giảng, giáo trình điện tử đáp
ứng đào tạo theo nhiều kênh thông tin là một hướng đang dần cụ thể hóa. Tuy
nhiên, mức độ và chất lượng của loại hình này vẫn còn nhiều hạn chế do khó khăn
trong điều kiện về cơ sở vật chất, tài chính và năng lực của đội ngũ giáo viên. Chính
vì vậy đòi hỏi một sự đầu tư lớn của ngành giáo dục cho công cuộc ứng dụng CNTT
trong dạy học đặc biệt là hệ thống cơ sở dữ liệu cho quá trình day – học.
1.2. Cơ sở lí luận của đề tài
1.2.1. Cơ sở lí luận về phương tiện dạy học
1.2.1.1. Khái niệm về phương tiện dạy học và phương tiện trực quan trong dạy
học
Phương tiện dạy học là toàn bộ sự vật, hiện tượng trong thế giới, tham gia vào
quá trình dạy học, đóng vai trò là công cụ hay điều kiện để GV và HS sử dụng làm
khâu trung gian tác động vào đối tượng dạy học. Phương tiện dạy học có chức năng
khơi dậy, dẫn truyền và làm tăng sức mạnh tác động của người dạy và người học
đến đối tượng dạy học [7].
Trong quá trình dạy học, PTDH có vị trí đặc biệt quan trọng. PTDH không chỉ là
một yếu tố trong chỉnh thể của quá trình mà còn có vai trò tác động trực tiếp đến nội
dung và PPDH.
Phương tiện trực quan (PTTQ) là PTDH đóng vai trò công cụ được GV và HS sử
dụng làm khâu trung gian tác động tới đối tượng dạy học. PTTQ trong dạy học là
những phương tiện được sử dụng trong hoạt động dạy học, có chức năng khơi dậy,
Phương tiện dạy học truyền thống
-
Phương tiện nghe nhìn hiện đại
* Dựa vào cấu tạo, nguyên lý hoạt động và chức năng của phương tiện:
-
Phần cứng:bao gồm các phương tiện được cấu tạo trên cơ sở các nguyên lý
thiết kế về cơ, điện, điện tử… theo yêu cầu biểu diễn nội dung bài giảng. Đó
có thể là: máy chiếu, máy tính, máy quay phim… Phần cứng là kết quả của sự
phát triển của khoa học kỹ thuật trong nhiều thế kỷ.
-
Phần mềm: bao gồm các phương tiện được sử dụng theo nguyên lý sư phạm,
tâm lý, KHKT để xây dựng cho HS khối kiến thức hay cải thiện hành vi ứng
xử cho HS. Đó có thể là: chương trình môn học, báo chí, sách vở, tạp chí, tài
liệu SGK…
1.2.1.3. Vai trò của phương tiện dạy học trong quá trình dạy học
Giáo dục và đào tạo đang là vấn đề thách thức của toàn cầu. Hiện nay các quốc
gia trên thế giới đang nỗ lực đổi mới nội dung và phương pháp giáo dục-đào tạo với
nhiều mô hình, biện pháp khác nhau nhằm mở rộng qui mô, nâng cao tính tích cực
trong dạy học và học một cách toàn diện, dạy làm sao để giúp người học hướng tới
việc học tập chủ động, chống lại thói quen học tập thụ động. Muốn vậy cần phải
nâng cao, cải tiến đồng bộ các thành tố liên quan, trong đó phương tiện dạy và học
là một thành tố quan trọng không thể thiếu trong quá trình đổi mới phương pháp
Phương tiện dạy học còn giúp cho học sinh phát triển năng lực nhận thức,
đặc biệt là khả năng quan sát, tư duy (phân tích, tổng hợp các hiện tượng, rút ra
những kết luận có độ tin cậy...).
1.2.1.4. Nguyên tắc sử dụng phương tiện dạy học
Khi sử dụng PTDH cần đảm bảo các nguyên tắc cơ bản sau [19].
* Nguyên tắc sử dụng phương tiện dạy học đúng lúc
Sử dụng PTDH cần đưa vào đúng lúc cần thiết, lúc HS mong muốn nhất (mà lúc
đó thầy giáo đã dẫn dắt, nêu vấn đề, gợi ý…) và được quan sát, gợi nhớ trong trạng
thái tâm sinh lí thuận lợi nhất. Cần đưa phương tiện vào theo trình tự bài giảng,
tránh việc trưng ra hàng loạt phương tiện trên giá, tủ trong một tiết học hoặc biến
phòng học thành phòng trưng bày, triễn lãm. PTDH phải được đưa ra sử dụng và cất
giấu đúng lúc.
* Nguyên tắc sử dụng phương tiện dạy học đúng chỗ
Sử dụng PTDH đứng chỗ tức là phải tìm vị trí để giới thiệu, trình bày phương
tiện trên lớp hợp lý nhất, giúp HS có thể đồng thời sử dụng nhiều giác quan để tiếp
thu bài giảng một cách đồng đều ở mọi vị trí trên lớp. Phải bố trí chỗ cất giấu PTDH
ngay tại lớp sau khi sử dụng để không làm mất tập trung tư tưởng của HS khi nghe
giảng.
* Nguyên tắc sử dụng phương tiện dạy học đúng cường độ
Mỗi PTDH có mức độ sử dụng tại lớp khác nhau. Nếu kéo dài việc trình diễn
PTDH hoặc dùng lặp đi lặp lại một PTDH quá nhiều lần trong một buổi giảng, hiệu
quả của nó sẽ giảm sút. Việc áp dụng thường xuyên các phương tiện nghe nhìn trên
lớp sẽ dẫn đến sự quá tải về thông tin do HS không kịp tiêu thụ hết khối lượng kiến
thức được cung cấp. Để đảm bảo yêu cầu về chế độ làm việc của mắt chỉ nên sử
dụng phương tiện nghe nhìn không quá 2-3 lần trong tuần và mỗi lần không quá 2030 phút.
1.2.2. Bộ tư liệu hỗ trợ dạy học và vai trò của nó
Phần Sinh học cơ thể thực vật trong chương trình Sinh học 11 NC bao gồm 19
bài lí thuyết, 4 bài thực hành. Trong phần này HS sẽ được nghiên cứu về những quá
trình sinh học cơ bản chủ yếu của cơ thể thực vật: chuyển hóa vật chất và năng
lượng, cảm ứng, sinh trưởng phát triển và sinh sản,cụ thể qua 4 chương trong
chương trình sinh học 11. Nội dung kiến thức được tóm tắt thông qua bảng 1.1
Bảng 1.1. Bảng tóm tắt nội dung kiến thức cơ bản phần Sinh học cơ thể thực vậtSinh học 11 nâng cao
Chương
Nội dung kiến thức
Đề cập đến 3 vấn đề: Trao đổi nước và muối khoáng,
quang hợp và hô hấp ở thực vật
- Trao đổi nước diễn ra trong suốt quá trình sống của thực TV
bao gồm 3 quá trình: hấp thu nước ở rễ, vận chuyển nước ở
thân và thoát hơi nước ở lá. Cùng với quá trình hấp thu nước
CHƯƠNG 1.
CHUYỂN
thì TV còn hấp thụ các nguyên tố khoáng đại lượng và vi
HÓA lượng tham gia cấu trúc nên tế bào, mô, cơ quan, hoạt hóa
VẬT CHẤT VÀ enzim tỏng quá trình trao đổi chất.
NĂNG LƯỢNG
- Quang hợp có vai trò đặc biệt quan trọng không chỉ đối với
TV mà còn có ý nghĩa hết sức lớn lao đối với tất cả sinh vật
sống. Ở các nhóm thực vật khác nhau thì quá trình quang hợp
diễn ra khác nhau. Và dựa vào những hiểu biết về quá trình
SINH
- Quá trình sinh trưởng và phát triển của TV chịu ảnh hưởng
TRƯỞNG của nhiều yếu tố bên trong(hoocmôn TV) và bên ngoài(ánh
VÀ PHÁT TRIỂN
sáng, nhiệt độ, phân bón,…).
- Sự ra hoa của cây cũng phụ thuộc vào nhiều nhân tố: tuổi
cây, vai trò ngoại cảnh, hoocmôn ra hoa, quang chu kì. Biết
được các nhân tố chi phối sự ra hoa để có những biện pháp
nhằm nâng cao năng suất cây trồng.
Ở thực vật, sinh sản là quá trình hình thành cơ thể mới đảm
bảo sự phát triển liên tục của loài. Có 2 hình thức sinh sản:
sinh sản vô tính và sinh sản hữu tính.
CHƯƠNG 4.
- Sinh sản vô tính là hình thức sinh sản không có sự kết hợp
SINH SẢN
giữa giáo tử đực và giao tử cái; con sinh ra giống nhau và
giống với cây mẹ. Có 2 hình thức sinh sản vô tính ở thực vật:
Sinh sản bằng bào tử và sinh sản sinh dưỡng.
- Sinh sản hữu tính là hình thức sinh sản có sự kết hợp giữa
giao tử đực(tinh trùng) và giao tử cái(trứng) thông qua sự thụ
tinh tạo nên hợp tử. Hợp tử phát triển thành cơ thể mới.
Dựa trên những tính năng đó, chúng tôi lựa chọn MS. FrontPage để xây dựng và
quản lí bộ tư liệu hỗ trợ dạy học kiến thức phần Sinh học cơ thể thực vật- Sinh học
11 NC.
CHƯƠNG 2.
ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng, khách thể nghiên cứu
2.1.1. Đối tượng nghiên cứu
-
Hệ thống hình ảnh, video, trò chơi ô chữ hỗ trợ cho việc giảng dạy các kiến
thức phần Sinh học cơ thể thực vật – Sinh học 11NC.
-
Các giáo án được thiết kế có sử dụng các hình ảnh, video trong bộ tư liệu.
-
Các phương án sử dụng bộ tư liệu hỗ trợ giảng dạy các kiến thức phần Sinh
học cơ thể thực vật – Sinh học 11NC.
-
Câu hỏi trắc nghiệm phục vụ cho quá trình kiểm tra đánh giá.
2.1.2. Khách thể nghiên cứu
Học sinh lớp 11 THPT
2.2. Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu các tài liệu liên quan đến kiến thức phần Sinh học cơ thể thực vật.
2.3.2. Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia
Gặp gỡ, trao đổi với giáo viên hướng dẫn và các giảng viên chuyên ngành
phương pháp, lắng nghe sự tư vấn của các thầy cô để lấy ý kiến về việc xây dựng bộ
tư liệu hỗ trợ dạy – học kiến thức phần Sinh học cơ thể thực vật - Sinh học 11 NC.
2.3.3. Phương pháp điều tra cơ bản
Tiến hành điều tra các nội dung sau:
-
Điều tra về tình hình ứng dụng CNTT (máy tính, máy chiếu, Internet…) trong
giảng dạy môn Sinh học ở các trường THPT.
-
Điều tra về tình hình sử dụng phương tiện trực quan trong giảng dạy môn
Sinh học ở trường THPT nói chung, các kiến thức phần Sinh học cơ thể thực
vật – Sinh học 11 NC nói riêng.
-
Điều tra ý kiến của các giáo viên về bộ tư liệu hỗ trợ dạy học kiến thức phần
Sinh học cơ thể thực vật – Sinh học 11 NC.
-
Điều tra ý kiến của HS về dạy- học bằng bài giảng điện tử ở các trường
THPT.
Để nghiên cứu, thiết kế, chế tạo một PTDH có hiệu quả, cần phải căn cứ vào đối
tượng cần phục vụ: Cấp học, lớp học, người học (đặc điểm tâm sinh lí, khả năng tư
duy…). Do đó PTDH phải phù hợp với đối tượng dạy học, phù hợp với sự phát
triển trí tuệ, tâm lí và khả năng tiếp thu kiến thức của HS
* Nguyên tắc đảm bảo tính trực quan, thẩm mĩ
Thông qua việc quan sát, phân tích của HS đối với các PTDH để hình thành tri
thức, thì một tư liệu có tính thẩm mỹ sẽ góp phần kích thích tính hứng thú tìm tòi
của HS. Để nâng cao chất lượng dạy – học, tư liệu trong “Bộ tư liệu hỗ trợ giảng
dạy kiến thức phần Sinh học cơ thể thực vật- Sinh học 11 NC – THPT” phải đảm
bảo các yêu cầu:
-
Các hình ảnh phải sáng sủa, rõ nét, màu sắc hài hoà.
-
Phát huy được tính tích cực học tập của HS, làm nảy sinh nhu cầu nhận thức,
phát triển năng lực tư duy và năng lực hành động.
-
Cụ thể và đơn giản hóa các kiến thức trong SGK giúp HS tiếp thu bài một
cách sâu sắc và toàn diện hơn.
-
Giáo dục lòng đam mê nghiên cứu môn học, có thói quen liên hệ giữa lí
thuyết và thực tiễn.
Tìm kiếm tư liệu trên các nguồn tài liệu khác nhau (sách, báo, Internet,…).
Dịch các thuật ngữ chuyên ngành từ tiếng Việt sang tiếng Anh để việc tìm
kiếm tư liệu trên mạng Internet được dễ dàng và có nhiều kết quả hơn.
-
Tập hợp xử lí sư phạm nguồn tư liệu hình ảnh, phim thu được cho phù hợp
với nội dung từng bài trong SGK.
+ Đối với các tư liệu hình ảnh bằng tiếng Anh cần đựợc Việt hoá, chỉnh sửa, chú
thích lại bằng tiếng Việt để GV và HS có thể sử dụng một cách thuận tiện. Cụ thể,
chúng tôi đã sử dụng MS. Paint, MS. PowerPoint để sửa chữa và viết chú thích
bằng tiếng Việt cho các tranh, ảnh.
+ Cắt nối các đoạn phim đảm bảo nội dung phù hợp bằng phần mềm MS. Movie
Maker.
Sau khi đã biên tập, xử lí sư phạm các nguồn tư liệu tìm được, chúng tôi tiến
hành sắp xếp chúng theo từng nội dung kiến thức dưới dạng cây thư mục.
-
Sưu tầm và xây dựng bộ câu hỏi trắc nghiệm với nhiều dạng cho từng bài.
-
Xây dựng trò chơi ô chữ để củng cố kiến thức trong mỗi bài.
-
Tiến hành soạn giáo án, có sử dụng nguồn tư liệu đã được xây dựng.
Chạy thử và chỉnh sửa web.
-
Hoàn thiện, in ra đĩa CD thành sản phẩm.
* Tiến trình xây dựng bộ tư liệu được khái quát bằng sơ đồ sau
Bước1: Nghiên cứu mục tiêu bài học, phân tích nội dung
các bài thuộc phần Sinh học cơ thể thực vật trong SGK.
Giai đoạn
chuẩn bị.
Bước 2: Đánh giá ưu, nhược điểm của hình ảnh trong
SGKđể làm cơ sở cho việc tìm nguồn tài liệu về phim,
tranh ảnh
Bước 3: Thực hiện tìm kiếm tài liệu trên Internet và các
tài liệu liên quan, thiết kế trò chơi ô chữ.
Giai đoạn
sưu tầm,
biên tập tư
liệu.
Bước 4: Tập hợp xử lí sư phạm nguồn tài liệu tìm được.
Bước 5: Sắp xếp tư liệu từng bài dưới dạng cây thư mục
-
Làm cơ sở để thiết kế và xây dựng bộ tư liệu hỗ trợ giảng dạy kiến thức phần
Sinh học cơ thể thực vật – Sinh học 11 NC.
3.1.2. Nội dung khảo sát
- Phát phiếu điều tra và trao đổi trực tiếp với GV giảng dạy bộ môn Sinh học tại các
trường THPT, nội dung khảo sát đề cập đến một số vấn đề:
+ Thực trạng PTDH cho bộ môn Sinh học nói chung và PTDH phần Sinh học
cơ thể thực vật- Sinh học 11 NC nói riêng ở các trường.
+ Mức độ ứng dụng CNTT trong giảng dạy môn Sinh học, các tư liệu hỗ trợ
cho quá trình giảng dạy của GV hiện nay tại các trường THPT.
+ Những khó khăn mà các GV gặp phải trong xây dựng và thiết kế các bài
giảng điện tử.
+ Nhu cầu của GV về bộ tư liệu hỗ trợ giảng dạy kiến thức phần Sinh học cơ
thể thực vật- Sinh học 11 NC.
- Phát phiếu điều tra để thăm dò ý kiến của HS về dạy- học bằng bài giảng điện tử
với nhiều hình ảnh, phim minh họa kiến thức.
3.1.3. Địa điểm khảo sát
Tiến hành khảo sát ở một số trường THPT tại Thành phố Đà Nẵng và tỉnh Quảng
Nam. Cụ thể:
-
Các trường THPT tại TP. Đà Nẵng:
+ Trường THPT Nguyễn Thượng Hiền
+ Trường THPT Phan Thành Tài
học nên vấn đề ứng dụng CNTT cũng gặp nhiều khó khăn, do đó phương tiện dạy
học của các thầy cô chủ yếu là các tranh do công ty thiết bị trường học cung cấp và
các tranh tự thiết kế. Với việc trang bị đầy đủ hệ thống TV trong các phòng học thì
việc đưa PTDH có ứng dụng CNTT đã giúp các thầy cô giáo, các em HS của trường
có thể tiếp cận kiến thức một cách dễ dàng hơn.
Sinh học là một môn khoa học thực nghiệm, những gì mà HS nhìn thấy sẽ mang
lại hiệu quả học tập cao hơn là nghe thấy, chính vì vậy các thầy cô luôn chú trọng
sử dụng tranh ảnh, các bài giảng điện tử để HS dễ tiếp thu bài. Tuy nhiên ở một số
trường do điều kiện còn khó khăn nên số tiết dạy có ứng dụng CNTT vẫn còn hạn
chế, chủ yếu là đầu tư vào các tiết thao giảng. Mặc dù mức độ ứng dụng CNTT
trong giảng dạy còn nhiều hạn chế nhưng nó cũng mang lại hiệu quả đáng ghi nhận,
theo ý kiến của nhiều GV khi sử dụng bài giảng powerpoint với các hình ảnh, video
minh họa làm cho HS dễ tiếp thu bài, tích cực giơ tay phát biểu xây dựng bài hơn.
Hầu hết các thầy cô cho biết: Khi dạy bằng BGĐT GV vừa có thể tiết kiệm được
rất nhiều thời gian cho việc treo tranh ảnh cũng như thao tác các hoạt động thí
nghiệm, vừa có thể cung cấp cho HS một lượng lớn những hình ảnh,phim sinh động
góp phần nâng cao hiệu quả dạy học. Tuy nhiên việc soạn một bài giảng cũng gặp
không ít khó khăn do phải mất khá nhiều thời gian cho việc tìm kiếm, chỉnh sửa
hình ảnh, phim sao cho phù hợp với nội dung kiến thức mình muốn truyền tải.
Khi được hỏi đến vấn đề thiết kế trò chơi ô chữ cho phần củng cố sau mỗi bài
học thì hầu hết các GV đưa ra ý kiến như sau: Việc thiết kế trò chơi ô chữ thay cho
các câu hỏi trắc nghiệm để củng cố bài học sẽ kích thích được HS tham gia, tạo
không khí sôi nổi sau mỗi giờ học. Nhưng việc xây dựng một trò chơi ô chữ thì
không hề đơn giản, tuy hiện nay có rất nhiều phần mềm tạo trò chơi ô chữ đơn giản,