TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
LÊ PHÁT ĐẠT
KHẢO SÁT ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC VÀ NĂNG
SUẤT SINH SẢN CỦA NHÓM GÀ NÒI Ở BẾN TRE
Luận văn tốt nghiệp
Ngành CHĂN NUÔI - THÚ Y
2013
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
Luận văn tốt nghiệp
Ngành CHĂN NUÔI - THÚ Y
Tên đề tài:
KHẢO SÁT ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC VÀ NĂNG
SUẤT SINH SẢN CỦA NHÓM GÀ NÒI BẾN TRE
Giáo viên hướng dẫn:
Ts Nguyễn Thị Hồng Nhân
PGs.Ts Nguyễn Trọng Ngữ
Sinh viên thực hiện:
LÊ PHÁT ĐẠT
DUYỆT CỦA KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
2013
i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân. Các số liệu, kết
quả trình bày trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong
bất cứ công trình luận văn nào trước đây.
Sinh viên thực hiện
LÊ PHÁT ĐẠT
ii
LỜI CẢM TẠ
Trong suốt quá trình học tập tại trường Đại học Cần Thơ, tôi đã nhận
được sự quan tâm, giúp đỡ chân thành từ quý thầy cô, gia đình và bạn bè, giúp
cho tôi có được kiến thức trong công việc cũng như trong cuộc sống, cùng với
sự nỗ lực của bản thân, hôm nay tôi đã hoàn thành luận văn tốt nhiệp, tôi xin
chân thành gửi lời cảm tạ đến:
Cha mẹ, người đã sinh ra và là nguồn động lực lớn nhất giúp tôi vượt qua
khó khăn trong học tập cũng như trong cuộc sống.
Cô Nguyễn Thị Hồng Nhân và thầy Nguyễn Trọng Ngữ đã tận tình
hướng dẫn, giải đáp thắc mắc, động viên và giúp đỡ tôi trong quá trình thực
hiện đề tài luận văn tốt nghiệp.
Thầy Trương Chí Sơn-cố vấn học tập lớp Chăn nuôi-Thú y K36A2 đã
với năng suất sinh sản cho thấy gà mái có khoảng cách xương ghim càng rộng
thì cho năng suất trứng càng cao (r=0,521) nhưng trọng lượng trứng lại nhỏ
hơn (r=-0,376). Bên cạnh đó còn có một số sự tương quan có ý nghĩa thống kê
như chiều rộng trứng với cao đầu, số lượng trứng với khoảng cách bụng. Vì
vậy để gà máí cho năng suất sinh sản cao cần chọn gà có khoảng cách xương
ghim và khoảng cách bụng lớn.
Bước đầu đã khuếch đại được cặp mồi ADL0278 trên nhóm gà Nòi ở
Bến Tre và tìm được 3 sự khác biệt về đặc điểm di truyền alen microsatellite ở
dòng gà này.
iv
MỤC LỤC
CHẤP THUẬN CỦA HỘI ĐỒNG…………………………………………..i
LỜI CAM ĐOAN ............................................................................................ ii
LỜI CẢM TẠ .................................................................................................. iii
TÓM LƯỢC .................................................................................................... iv
MỤC LỤC ....................................................................................................... v
DANH MỤC BẢNG ....................................................................................... vii
DANH MỤC HÌNH........................................................................................viii
CHƯƠNG 1: ĐẶT VẤN ĐỀ..........................................................................1
Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN........................................................................2
2.1 Đặc điểm ngoại hình gia cầm ................................................................. 2
2.1.1 Mào (mồng, tích) ................................................................................. 2
2.1.2 Chân .................................................................................................... 2
2.1.3 Da ........................................................................................................ 2
2.1.4 Bộ lông ................................................................................................ 2
2.2 Cấu tạo cơ thể gia cầm ........................................................................... 2
2.2.1 Da và sản phẩm của da .................................................................... 3
4.1.1 Màu lông .......................................................................................... 24
4.1.2 Màu mắt ........................................................................................... 25
4.1.3 Màu sắc mỏ ..................................................................................... 27
4.1.4 Màu sắc chân ................................................................................... 28
4.1.5 Kiểu mào gà ..................................................................................... 29
4.2 Khả năng sinh trưởng ............................................................................. 30
4.3 Năng suất sinh sản của gà Nòi ở Bến Tre .............................................. 32
4.3.1 Sức đẻ trứng .................................................................................... 32
4.3.2 Sức sinh sản ..................................................................................... 33
4.4 Mối tương quan giữa đặc điểm ngoại hình đến khả năng sinh sản của gà
Nòi Bến Tre .................................................................................................. 34
4.5 Kết quả khuếch đại alien microsaterllite trên nhóm gà Nòi ở Bến Tre . 36
Chương 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ......................................................38
5.1. Kết luận ................................................................................................. 38
5.2. Kiến nghị ............................................................................................... 38
TÀI LIỆU THAM KHẢO.............................................................................39
PHỤ LỤC........................................................................................................41
vi
DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Tuổi (tuần) đạt tỷ lệ đẻ đỉnh cao 5% và đỉnh cao của một số loại gia
cầm ...................................................................................................................... 7
Bảng 2.2 Những đặc điểm bên ngoài của gà mái đẻ tốt và xấu trước khi thành
thục.................................................................................................................... 17
Bảng 3.1 Quy trình phòng bệnh cho gà trong nghiên cứu ............................... 20
Bảng 3.2 Quy trình khuếch đại alen Mycrosatellite ......................................... 23
Bảng 4.1 Kích thước cơ thể của nhóm gà Bến Tre ở giai đoạn 180 ngày tuổi . 31
Bảng 4.2 Năng suất trứng qua các tuần ............................................................ 32
viii
Chương 1: ĐẶT VẤN ĐỀ
Gà bản địa được phân bố rộng rãi trong các khu vực nông thôn của các
nước nhiệt đới và đóng góp hơn 50% tổng số trứng và thịt (Mukherjee, 1992).
Mặc dù năng suất thấp hơn so với các dòng thương mại nhưng gà bản địa vẫn
chiếm một tỷ lệ lớn so với gia cầm nói chung ở nhiều nước đang phát triển,
thường xuyên vượt quá 80% trong các vùng nông thôn trong hầu hết các nước.
Ở Việt Nam chăn nuôi gà thả vườn (gà Nòi, gà Tam Hoàng, gà Lương
Phượng…) đang là một trong những chương trình xóa đói giảm nghèo của
nhiều địa phương. Trong đó giống gà Nòi được nuôi phổ biến nhất, chiếm tỷ lệ
khoảng 70% các giống gà thả vườn ở Đồng Bằng Sông Cửu Long (Nguyễn
Minh Dũng và Huỳnh Hồng Hải, 2006). Đây là giống gà địa phương của Việt
Nam rất được yêu chuộng vì dễ nuôi, ít bệnh, khả năng chịu kham khổ cao, chi
phí đầu tư thấp, phẩm chất thịt thơm ngon, ít mỡ và cholesterone, phù hợp với
nhu cầu thị hiếu của thị trường và có tiềm năng xuất khẩu.
Tuy nhiên, theo nghiên cứu của Nguyễn Văn Quyên (2008) về đặc điểm
sinh sản của giống gà Nòi nuôi thả vườn ở các nông hộ ĐBSCL cho thấy năng
suất sinh sản của giống gà Nòi nuôi thả vườn ở đây hiện còn thấp, gà mái đẻ tỷ
lệ 5% ở khoảng 219,1 ngày muộn hơn so với gà tàu 39 ngày (Nguyễn Hữu Vũ
và Nguyễn Đức Lưu, 2003) và gà Ri 105,01 ngày (Nguyễn Văn Thiện và
Nguyễn Văn Thạch, 12/2005). Bên cạnh đó ở gà Nòi, việc chọn lọc gà bố mẹ
làm giống chủ yếu dựa vào đặc điểm ngoại hình, tuy nhiên hầu như chưa có
nghiên cứu nào khảo sát mối tương quan giữa các đặc điểm ngoại hình và
năng suất sinh sản ở giống gà này. Chính vì vậy đề tài “Khảo sát đặc điểm
sinh học và năng suất sinh sản của giống gà Nòi ở Bến Tre” được tiến hành
nhằm làm cơ sở cho việc chọn lọc giống gà Nòi cho năng suất sinh sản cao.
Mục tiêu của đề tài:
+ Khảo sát đặc điểm sinh học và năng suất sinh sản của nhóm gà Nòi
(xantophyl) có trong thức ăn, sau đó được tiêu hóa và tích lũy trong lớp mỡ
dưới da (Bùi Xuân Mến, 2007).
2.1.4 Bộ lông
Lông giống như lớp bảo vệ vùng ngoài cùng của cơ thể gia cầm. Lúc mới
nở gia cầm con thường được bao phủ bởi lớp lông tơ mịn, mềm, mượt. Những
lông này nhanh chóng được thay thế bằng loại lông thô hơn. Lông gia cầm
được phân bố trên da theo những vùng xác định một cách hợp lý. Qua sự sắp
xếp có trật tự này làm thuận lợi cho quá trình bay và thân nhiệt được bảo toàn
(Bùi Xuân Mến, 2007).
2.2 Cấu tạo cơ thể gia cầm
Cấu tạo cơ thể gia cầm bao gồm ba phần chính: (1) da và sản phẩm của
da, (2) hệ cơ và (3) hệ xương. Trong đó hệ cơ cùng với hệ xương chịu trách
2
nhiệm về hoạt động của cơ thể. Ngoài ra cấu tạo và kích thước của hệ xương
cơ còn quyết định năng suất cũng như khả năng cho thịt của gia cầm.
2.2.1 Da và sản phẩm của da
Da của gia cầm bao phủ toàn thân và có vai trò đặc biệt trong việc trao
đổi nhiệt giữa cơ thể với môi trường, nhất là gia cầm non. Da gồm hai phần
chính, lớp biểu bì với lớp tế bào hình trụ cùng với lớp mô liên kết mỏng và sợi
collagen tạo thành lớp da ngoài bền chắc, nghèo mạch máu và hầu như không
có tuyến ngoại tiết. Lớp dưới biểu bì là lớp mô liên kết mỏng gần giống như
mô mỡ, có chứa nhiều mạch máu và dây thần kinh.
Các sản phẩm của da bao gồm mào (mòng, tích), mỏ, móng, cựa, vảy và
bộ lông. Lông phân bố không đều trên bề mặt cơ thể gia cầm non cũng như
trưởng thành, chiếm tỷ lệ 4-9% khối lượng cơ thể và chiếm 82% protein.
Những gia cầm vừa nở được phủ lông tơ, gốc của lông tơ được gắn vào
thân của lớp lông đầu tiên, phía ngoài xòe ra, phủ đều trên bề mặt của da. Sau
4
8
9
Hình 2.2 Sơ đồ hệ xương gia cầm
1. Xương đầu; 2. Xương cổ; 3. Cột sống; 4. Xương lưỡi hái; 5. Xương cánh; 6. Xương đùi; 7. Xương
cẳng chân; 8. Xương bàn chân; 9. Xương ngón chân
(Nguồn: Nguyễn Thị Mai và ctv., 2009)
Xương ngực (xương lưỡi hái) ở gia cầm phát triển mạnh. Phần xương
này là nơi bám vào của những cơ có giá trị quý (cơ trắng). Ở ngỗng, vịt, mõm
xương ngực phát triển kém hơn, vì vậy chỗ bám của cơ là ở hai phía của
xương ngực; đà điểu không có xương này vì chúng không phải là chim bay mà
là chim chạy. Các phần còn lại của hệ xương như cánh, đùi, chân… được tạo
thành từ các xương riêng biệt và có sự kết hợp hài hòa với nhau.
Bộ xương của gia cầm mái là nơi dự trữ khoáng để tạo vỏ trứng. Trong
những xương dài có nhiều gai xốp trong tủy xương. Khi hoạt động sinh dục
4
mạnh, các gai này phát triển và chứa đầy Ca, dự trữ cho quá trình tạo vỏ trứng.
Khi thức ăn nghèo Ca, gia cầm mái sẽ huy động đến 40% Ca từ xương khi đẻ
ra 6 quả trứng đầu tiên.
2.2.3 Hệ Cơ
Ở gia cầm, hệ cơ mịn, sợi nhỏ và chắc. Sự phát triển của hệ cơ phụ thuộc
vào loài, giống, tuổi gia cầm. Ở các phần khác nhau của cơ thể gia cầm, hệ cơ
phát triển ở mức độ khác nhau. Cơ ngực phát triển tốt theo sự vận động của
cánh và bảo vệ các cơ quan bên trong của ngực và bụng. Cơ ngực có ý nghĩa
Theo Nguyễn Thị Mai (2009), trong chăn nuôi gia cầm, người ta chỉ
quan tâm đến các chỉ tiêu đẻ trứng mà không quan tâm đến các chỉ tiêu ấp nở.
Vì vậy thường chia ra sức sản xuất trứng và sức sinh sản.
2.3.1 Sức đẻ trứng của gia cầm
Sức đẻ trứng của gia cầm là số lượng trứng đẻ ra trong một thời gian
nhất định, có thể là một tháng, một vụ, một năm hay một đời của gà mái đẻ.
Có nhiều ý kiến và cách tính khác nhau. Hiện nay thường tính sức đẻ trứng
trong 365 ngày kể từ khi con gia cầm đẻ quả trứng đầu tiên hoặc 500 ngày từ
khi con gia cầm nở ra.
Xác định khả năng đẻ trứng của gia cầm bao gồm việc đánh giá chất
lượng trứng, khả năng đẻ trứng và các chỉ tiêu về ấp nở (Bùi Hữu Đoàn,
2011).
2.3.1.1 Một số chỉ tiêu đánh giá chất lượng trứng của gia cầm
a) Màu sắc vỏ trứng
Màu sắc vỏ trứng là một tính trạng có hệ số di truyền cao (0,55-0,75),
đặc trưng cho mỗi giống và khác nhau tùy theo giống, dòng gia cầm. Thực tế
nó không ảnh hưởng đến chất lượng trứng song nó ảnh hưởng đến kỹ thuật soi
trứng khi ấp và thị hiếu của người tiêu dùng.
b) Khối lượng trứng
Khối lượng trứng là một trong những chỉ tiêu quan trọng để đánh giá
chất lượng trứng, nó phụ thuộc vào nhiều yếu tố như loài, giống, hướng sản
xuất, chế độ dinh dưỡng… Những quả trứng có khối lượng xung quanh khối
lượng trung bình của giống luôn cho kết quả ấp nở tốt nhất, càng xa trị số
trung bình thì tỷ lệ nở càng thấp.
Trong một đời gà đẻ, khối lượng trứng tăng dần từ khi đẻ bói, cho đến
khi đẻ đỉnh cao thì ổn định. Vì vậy nên xác định khối lượng trứng của một
dòng, giống ở thời điểm 30-34 tuần tuổi đối với gà hướng thịt.
c) Chỉ số hình dạng của trứng
Hình dạng trứng của loài giống gia cầm khác nhau thì khác nhau và phụ
thuộc vào đặc điểm di truyền, cấu tạo và đặc điểm co bóp của ống dẫn trứng
Tuổi đạt tỷ lệ đẻ 5%
Tuổi đạt tỷ lệ đẻ đỉnh cao
Gà hướng trứng
20-22
29-32
Gà hướng thịt
22-24
32-34
Vịt hướng trứng
20-22
27-29
Vịt hướng thịt
22-25
32-33
b) Cường độ đẻ trứng
a) Di truyền cá thể
Có 5 yếu tố di truyền ảnh hưởng đến sức đẻ trứng của gia cầm trong một
năm là tuổi thành thục sinh dục, cường độ đẻ trứng, tính nghỉ đẻ, thời gian kéo
dài chu kỳ đẻ trứng sinh học và tính ấp bóng.
+ Tuổi thành thục sinh dục
Gia cầm thành thục sớm là một tính trạng mong muốn, tuy nhiên
cần phải chú ý đến khối lượng cơ thể. Tuổi bắt đầu đẻ và kích thước cơ thể của
nó tương quan nghịch. Chọn lọc theo hướng tăng khối lượng quả trứng sẽ làm
8
tăng khối lượng cơ thể gà và tăng tuổi thành thục sinh dục. Tuổi thành thục
sinh dục của một đàn gia cầm được xác định theo tuổi đạt tỷ lệ đẻ trứng là 5%.
+ Cường độ đẻ trứng
Cường độ đẻ trứng là sức sản xuất của gia cầm trong một thời gian
ngắn, nó tương quan chặt chẽ với sức đẻ trứng một năm. Để đánh giá sức đẻ
trứng của gia cầm người ta thường kiểm tra cường độ đẻ trứng của 3-4 tháng
đầu để phán đoán sớm, kịp thời trong công tác chọn giống.
+ Thời gian kéo dài chu kỳ đẻ trứng sinh học
Chu kỳ đẻ trứng sinh học liên quan đến thời vụ nở của gia cầm con.
Chu kỳ đẻ trứng sinh học có mối tương quan thuận với tính thành thục sinh
sản, nhịp độ đẻ trứng, sức bền đẻ trứng và chu kỳ đẻ trứng.
Sau mỗi chu kỳ đẻ trứng sinh học gia cầm thường nghỉ đẻ và thay
lông. Những con thay lông sớm thường là những con đẻ kém và thời gian thay
lông kéo dài tới 4 tháng, ngược lại nhiều con thay lông muộn và nhanh, thời
gian nghỉ đẻ dưới 2 tháng.
+ Tính ấp bóng
Tính ấp bóng là bản năng ấp trứng có liên quan đến sức đẻ trứng
của gia cầm. Những giống nhẹ cân bản năng đòi ấp ít hơn các giống nặng cân.
trên 20oC, gia cầm có hiện tượng thải nhiệt, gia cầm phải tăng cường độ hô
hấp. Sự mất nhiều khí CO2 làm tăng khả năng nhiễm kiềm trong máu, điều này
làm quá trình trao đổi chất của gia cầm không bình thường, ảnh hưởng đến
năng suất và chất lượng trứng. Vỏ trứng mỏng hơn bình thường thậm chí trứng
đẻ ra không có vỏ.
Độ ẩm trong chuồng tốt nhất khoảng 65-70%, về mùa đông không nên
vượt quá 80%.
Chế độ chiếu sáng trong thời kỳ hậu bị không những ảnh hưởng đến tuổi
thành thục sinh dục của đàn gia cầm mà còn ảnh hưởng đến khả năng đẻ trứng
sau này. Đối với gia cầm đẻ trứng, thời gian chiếu sáng mỗi ngày từ 14-17 giờ.
Cường độ chiếu sáng thích hợp nếu nuôi chuồng kín là 5-10 lux/1m2 nền
chuồng, nuôi chuồng thông thoáng tự nhiên là 20-40 lux/1m2 nền chuồng.
2.3.2 Sức sinh sản của gia cầm
Đối với gia cầm giống, năng suất trứng chỉ là chỉ tiêu ban đầu để đánh
giá khả năng sinh sản. Để đạt được chỉ tiêu cuối cùng là số gia cầm con loại
một trên một gia cầm mái cần phải đạt được các chỉ tiêu khác như tỷ lệ trứng
có phôi, tỷ lệ ấp nở và tỷ lệ nuôi sống. Đây là nhũng chỉ tiêu quan trọng để
đánh giá khả năng sinh sản của gia cầm nói chung và đánh giá giá trị giống
của mỗi cá thể, dòng, giống gia cầm nói riêng.
2.3.2.1 Tỷ lệ thụ tinh (tỷ lệ trứng có phôi)
a) Khái niệm
Tỷ lệ thụ tinh là tỷ lệ phần trăm giữa số trứng có phôi và số trứng đẻ ra
hay số trứng đem ấp.
10
b) Những yếu tố ảnh hướng đến tỷ lệ thụ tinh
+ Yếu tố di truyền
Loài giống và các cá thể khác nhau thì tỷ lệ thụ tinh cũng khác nhau. Kỹ
b) Những yêu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ nở
11
+ Ảnh hưởng của môi trường bên trong
Môi trường bên trong là tất cả yếu tố liên quan tới chất lượng trứng ấp.
Nó bao gồm tất cả các chỉ tiêu đánh giá chất lượng trứng như khối lượng
trứng, chỉ số hình thái trứng, chất lượng vỏ trứng, tỷ lệ lòng trắng và lòng đỏ,
chỉ số lòng đỏ, chỉ số lòng trắng và đơn vị Haugh.
+ Ảnh hưởng của các yếu tố bên ngoài
Môi trường bên ngoài bao gồm toàn bộ các khâu kỹ thuật thuộc quy
trình ấp trứng (thu vào bảo quản trứng ấp; khử trùng máy ấp; kỹ thuật xếp
trứng vào máy ấp; nhiệt độ, độ ẩm, sự trao đổi khí, đảo trứng và làm mát trong
quá trình ấp) và chất lượng đàn bố mẹ.
2.3.2.3 Tỷ lệ nuôi sống
a) Khái niệm
Tỷ lệ nuôi sống là tỷ lệ phần trăm giữa số con sống đến cuối kỳ và số con
đầu kỳ.
b) Các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ nuôi sống
+ Yếu tố di truyền
Yếu tố di truyền bao gồm kiểu di truyền và phương pháp nhân giống.
Mỗi giống, dòng, hay cá thể gia cầm đều được thừa hưởng các kiểu gen
di truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác về sức sống và khả năng chống bệnh
khác nhau dẫn đến tỷ lệ nuôi sống khác nhau.
Trong quá trình nhân giống nếu cho giao phối đồng huyết sẽ làm giảm
sinh lực và sức sống của đời con, thể hiện ở tỷ lệ nuôi sống thấp.
+ Yếu tố ngoại cảnh
Nhiệt độ, độ ẩm và sự thông thoáng ảnh hưởng đến tỷ lệ nuôi sống của
gia cầm. Trong điều kiện nhiệt độ thấp, gia cầm phải huy động năng lượng để
tỷ lệ nuôi sống qua các giai đoạn cao; đạt khối lượng chuẩn (từ 2000-2250 g)
ở 20 tuần tuổi tùy theo giống và có độ đồng đều trên 80%. Trong giai đoạn đẻ
trứng gà không được quá béo, có năng suất trứng và sức bền đẻ trứng cao; kết
quả ấp nở tốt. Số gà con loại I sinh ra từ một gà mái cao (150 gà con loại
I/mái/năm).
2.4.1 Giai đoạn gà con (0-8 tuần tuổi)
Thức ăn gà con cần loại chất lượng cao, giàu dinh dưỡng nhưng phải dễ
tiêu hóa. Đảm bảo được yêu cầu này sẽ góp phần giúp gà con nhanh chóng
thích nghi với môi trường sống sau khi nở. Gà con sẽ khỏe mạnh và sinh
trưởng tốt hơn.
2.4.2 Giai đoạn gà hậu bị (7-18 hoặc 20 tuần tuổi)
Trong thời kỳ từ 7 tuần tuổi đến khi thành thục sinh dục, cần nuôi dưỡng
sao cho gà phát triển đúng theo yêu cầu. Lưu ý đến các loại thức ăn có hoạt
tính sinh học như các loại vitamin và các nguyên tố vi lượng. Sai lầm về nuôi
dưỡng trong giai đoạn này chỉ thể hiện khi gà đẻ trứng và lúc đó không thể sửa
chữa được.
13
Thành phần cơ bản trong thức ăn gà hậu bị cũng tương tự như gà con
nhưng nhu cầu dinh dưỡng khác nhau tùy độ tuổi.
2.4.3 Giai đoạn đẻ trứng
- Nhu cầu dinh dưỡng:
Trong giai đoạn này lượng thức ăn thu nhận được có tầm quan trọng đặc
biệt, nó phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau, trong đó cần lưu ý đến khối
lượng cơ thể và sức sản xuất của gà mái. Cần cung cấp đủ nhu cầu để đạt sức
sản xuất trứng tối đa nhưng không làm cho gà bị béo quá, gà mái đẻ béo quá
sẽ làm giảm khả năng đẻ trứng.
- Kỹ thuật cho ăn:
gà mái.
- Nhu cầu về nước uống của gà mái đẻ cũng giống như các loại gà khác.
Riêng đối với gà mái đẻ, ngoài những ảnh hưởng chung, nhu cầu về nước còn
phụ thuộc vào tỷ lệ đẻ trứng của đàn gà.
+ Gà đẻ 0% nhu cầu nước uống 140 g/con/ngày.
+ Gà đẻ 50% nhu cầu nước uống 204 g/con/ngày.
+ Gà đẻ 70% nhu cầu nước uống 231 g/con/ngày.
2.5 Những nguyên tắc cơ bản để chọn giống
Chọn giống tốt cần phải đánh giá con vật theo toàn bộ ngoại hình của nó.
Nếu chỉ tính riêng từng chi tiết thì chưa đủ tin cậy. Điều đó sẽ dẫn đến đánh
giá quá cao con vật và bỏ qua sự tìm ra các khuyết tật của nó, bất cứ trong
trường hợp nào cũng đều không làm cho sự chọn lọc đạt được các kết quả tốt
(Lê Hồng Mận và Nguyễn Thanh Sơn, 2001).
2.5.1 Đánh giá về ngoại hình
2.5.1.1 Đầu
Da mặt và các phần phụ của đầu cho phép rút ra các kết luận về sự phát
triển của mô đỡ và mô liên kết. Với sự thể hiện của mặt có thể suy đoán về
tính nết của gia cầm. Theo hình dáng, màu sắc của mào, mào dưới tích và mào
tai có thể suy đoán trạng thái sức khoẻ và điều kiện sống của chúng.
Đầu thô đều xấu đối với cả gà mái và gà trống nhưng ở gà trống đầu cần
phải chắc, rộng hài hoà với cấu trúc vững chắc của thân thể. Đối với gà Ri
trống đầu không được quá to nhưng cũng không được quà mảnh. Song đối với
gà mái, đầu phải mảnh thanh tú. Hình dáng, màu sắc mắt cũng là yếu tố cần
được quan tâm. Màu sắc của mống mắt cần phải đỏ hoặc da cam, hai mắt có
màu giống nhau. Trong thời gian đẻ trứng, cơ thể gà phải điều động sắc tố nên
màng cầu vồng trở nên màu da cam sáng, đôi khi là màu vàng, màu vàng sáng
hoặc xanh trong. Lúc thay lông màu sắc trước đây lại được hồi phục. Hình
dáng con ngươi tròn, kích thước thay đổi tuỳ theo cường độ ánh sáng.
Mào và mào dưới tích thuộc về đặc tính sinh dục thứ cấp. Khi buồng
trứng hoạt động bình thường thì những mào này lớn và chứa nhiều máu. Trong