Một số giải pháp Marketing nhằm thu hút khách du lịch đến với khách sạn Celadon Palace Hue - Pdf 30

LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong quá trình phát triển kinh tế, ngành du lịch Việt Nam ngày càng trở nên
quan trọng và đóng góp một phần không nhỏ cho thu nhập của quốc gia. Kết quả này
của ngành du lịch có sự đóng góp quan trọng của các doanh nghiệp kinh doanh khách
sạn.
Tuy nhiên, với chính sách mở cửa của nền kinh tế thị trường, ngành kinh doanh
khách sạn đang đứng trước những cuộc cạnh tranh gay gắt ảnh hưởng rất lớn đến sự
sống còn của các doanh nghiệp kinh doanh khách sạn. Muốn tồn tại và phát triển, bản
thân các doanh nghiệp khách sạn phải tìm ra “lối đi riêng” cho mình, tìm ra những
giải pháp tích cực để có thể tồn tại và phát triển, tăng doanh thu và lợi nhuận, giữ
vững uy tín và khẳng định “thương hiệu” trên thị trường.
Những điều này trước hết phụ thuộc vào công tác xây dựng và triển khai chiến
lược Marketing cuả doanh nghiệp. Chiến lược Marketing đúng đắn sẽ đảm bảo cho
sự tồn tại và phát triển bền vững, lâu dài theo những mục tiêu dài hạn của doanh
nghiệp.
Với ý nghĩa thực tiễn đó, sau thời gian làm việc tại Khách sạn Celadon Palace
Hue, em đã chọn đề tài luận văn tốt nghiệp là:
“ Một số giải pháp Marketing nhằm thu hút khách du lịch đến với
khách sạn Celadon Palace Hue”
2. Mục tiêu nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu về những ưu điểm và những vấn đề còn tồn tại của họat
động marketing thu hút khách du lịch của khách sạn Celadon Palace Hue và nguyên
nhân của những hạn chế đó thông qua Marketing 9Ps trong du lịch (sản phẩm – giá –
phân phối – con người - chương trình - xúc tiến - đối tác - trọn gói - định vị) và xác
định SWOT (điểm mạnh - điểm yếu – cơ hội – đe doạ). Từ đó đưa ra một số giải
pháp Marketing nhằm thu hút khách du lịch đến với Khách sạn ngày một nhiều hơn.
Trang 1
3. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp:
- Phương pháp thu thập dữ liệu: bao gồm dữ liệu sơ cấp và thứ cấp để thu thập

giới:
(1) Marketing có nghĩa là làm việc với thị trường để biến những trao đổi tiềm
ẩn thành hiện thực với mục đích là thỏa mãn những nhu cầu và mong muốn
của con người.
(2) Marketing là quá trình quản lý mang tính xã hội, nhờ đó mà cá nhân và tập
thể có được những gì mà họ cần và mong muốn thông qua việc tạo ra, chào
hàng và trao đổi những sản phẩm có giá trị với người khác.
(3) Marketing là một quá trình qua đó một tổ chức quan hệ một cách sáng tạo,
có hiệu quả và có lợi với thị trường.
(4) Marketing là nghệ thuật sáng tạo và thỏa mãn khách hàng một cách có lời.
(5) Marketing là đưa đúng hàng hóa và dịch vụ đến đúng người, đúng địa chỉ,
đúng giá và thông tin chính xác cùng với khuyến mại.
(6) Marketing là một hình thức hoạt động của con người hướng vào việc đáp
ứng những yêu cầu và nhu cầu của con người thông qua trao đổi.
Định nghĩa của Hiệp hội marketing Hoa Kỳ (1985): Marketing là quá trình lập
kế hoạch và thực hiện kế hoạch đó, định giá xúc tiến và phân phối hàng hóa, dịch
vụ và ý tưởng để tạo ra sự trao đổi với các nhóm khách hàng mục tiêu, nhằm thỏa
mãn mục tiêu của khách hàng và tổ chức.
1.1.1.2. Định nghĩa Marketing-mix
Marketing-mix là tập hợp các yếu tố trên thị trường mà doanh nghiệp kiểm
soát được, đồng thời sử dụng các yếu tố này như là công cụ tác động vào mong
Trang 3
muốn của người tiêu dùng trên thị trường mục tiêu, nhằm biến các mong muốn đó
thành cầu thị trường về sản phẩm của doanh nghiệp. Nội dung của chiến lược
marketing-mix bao gồm:.
+ Chiến lược sản phẩm bao gồm các nội dung xác định danh mục, chủng loại
sản phẩm, chất lượng, thiết kế, đặc trưng, nhãn hiệu, trọn gói, kích cỡ, dịch
vụ, bảo hành, hoàn trả, chu kỳ sống sản phẩm, phát triển sản phẩm mới.
+ Chiến lược giá bao gồm các nội dung xác định danh mục giá cả, chiết khấu,
phân bổ, thời hạn thanh toán, điều khoản tín dụng.

mong muốn của du khách để từ đó đem sản phẩm ra thị trường sao cho phù hợp với
mong muốn của thị trường mục tiêu, thu nhiều lợi nhuận cho tổ chức du lịch đó.
Định nghĩa của Michael Coltman: Marketing du lịch là một hệ thống những
nghiên cứu và lập kế hoạch nhằm tạo lập cho tổ chức du lịch một triết lý quản trị
hoàn chỉnh với các chiến lược và chiến thuật thích hợp để đạt được mục đích.
Định nghĩa của J C Hollway: Marketing du lịch là chức năng quản trị nhằm tổ
chức và hướng dẫn tất cả các hoạt động kinh doanh tham gia vào việc nhận biết nhu
cầu của người tiêu dùng và biến sức mua của khách hàng thành cầu về một sản
phẩm hoặc dịch vụ cụ thể, chuyển sản phẩm hoặc dịch vụ đến người tiêu dùng cuối
cùng để đạt được lợi nhuận mục tiêu hoặc mục tiêu của doanh nghiệp hoặc của tổ
chức du lịch đặt ra.
Mục đích của Marketing du lịch là:
+ Làm hài lòng khách hàng, xây dựng lòng trung thành của khách hàng, thắng
lợi trong cạnh tranh, lợi nhuận trong dài hạn, hướng tới sự phát triển bền vững
của nơi đến du lịch.
+ Vai trò và chức năng của marketing trong doanh nghiệp du lịch.
Marketing có vai trò liên kết giữa mong muốn của người tiêu dùng trên thị
trường mục tiêu với các nguồn lực bên trong doanh nghiệp. Để thể hiện vai trò này,
marketing có bốn chức năng cơ bản:
Trang 5
+ Thứ nhất, làm cho sản phẩm luôn luôn thích ứng với thị trường
+ Thứ hai, định giá bán và điều chỉnh các mức giá bán cho phù hợp với quan hệ
cung cầu và từng giai đoạn của chu kỳ sống sản phẩm
+ Thứ ba, đưa sản phẩm từ nơi sản xuất đến người tiêu dùng
+ Thứ tư, truyền tin về sản phẩm, thu hút và “quyến rũ” người tiêu dùng về phía
sản phẩm của doanh nghiệp, của nơi đến du lịch
1.1.3.Các đặc điểm dịch vụ của Marketing du lịch
Theo Philip Kotler: “Dịch vụ là mọi biện pháp hay lợi ích mà một bên có thể
cung cấp cho bên kia và chủ yếu là vô hình và không dẫn đến sự chiếm đoạt một
cái gì đó. Việc thực hiện dịch vụ có thể và cũng có thể không liên quan đến hàng

đại lý bán buôn, bán lẻ, văn phòng đại diện du lịch. Sản phẩm du lịch đòi hỏi sự
phối hợp, liên kết, thống nhất và đồng bộ phụ thuộc lẫn nhau giữa các nhà cung
ứng, không thể chia cắt, cục bộ mạnh ai người nấy làm và làm theo cách của mình.
Ba là, dịch vụ mang tính chất không thể lưu giữ (Eiglier và Langeard 1975)
được biểu hiện ở chỗ nếu một dịch vụ không được tiêu thụ đúng thời điểm và nơi
qui định nó sẽ được xem như là mất đi. Trong các sản phẩm là hàng hóa, sản phẩm
được đóng gói bởi bao bì và chuyên chở đến tận tay người tiêu dùng, còn đối với
sản phẩm dịch vụ thì người tiêu dùng phải mua nó trước khi thấy nó. Người tiêu
dùng phải rời nơi ở thường xuyên đến nơi tạo ra dịch vụ để tiêu dùng. So với các
sản phẩm vật chất, sản phẩm du lịch khó có thể nhận thức một cách tường minh.
Người mua không thể cân đong, đo đếm, nếm ngửi, sờ mó trong khi mua. Sản
phẩm dịch vụ được bán cho du khách trước khi họ thấy sản phẩm đó. Dịch vụ du
lịch nếu không bán được không thể tồn kho, và không thể dự trữ. Không gian, thời
gian sản xuất và tiêu dùng là trùng nhau. Một khách sạn trong một đêm không cho
thuê hết phòng thì doanh thu sẽ mất đi nhưng vẫn phải thực hiện các chi phí cố
định. Trong một thời gian ngắn không có cách nào gia tăng lượng cung cấp sản
phẩm du lịch vì dung lượng cố định. Ngược lại nhu cầu của khách hàng lại thường
xuyên biến động bởi đặc điểm của tiêu dùng du lịch. Khách mua một sản phẩm du
Trang 7
lịch nào đó thường ít hoặc không trung thành với một doanh nghiệp hoặc một nơi
đến, vì vậy cũng tạo ra sự bất ổn về nhu cầu. Sản phẩm du lịch rất dễ bị thay thế bởi
sản phẩm cùng ngành, ví dụ dịch vụ lưu trú, dịch vụ vận chuyển, ăn uống, tham
quan, giải trí…Sản phẩm du lịch chỉ thực hiện quyền sử dụng mà không thực hiện
quyền sở hữu, khi đã sử dụng thì mất đi giá trị, chỉ trở thành các trải nghiệm của
bản thân, không thể sang tên, đổi chủ được.
Cuối cùng, người ta không thể tách rời sự tiêu dùng và quá trình sản xuất của
các dịch vụ, vì người tiêu dùng thường phải hiện diện và tham gia các quá trình
thực hiện dịch vụ. Khách mua một sản phẩm du lịch phải tiêu phí nhiều thời gian,
tiền bạc trước khi sử dụng nó. Khi mua, họ phải được cung cấp đầy đủ thông tin về
sản phẩm và việc bán hàng phải được phục vụ nhanh chóng và kịp thời, đáp ứng

1.2.1. Khái niệm Thị trường du lịch
Theo kinh tế chính trị học: Thị trường du lịch là một bộ phận của thị trường
chung, một phạm trù của sản xuất và lưu thông hàng hóa, dịch vụ du lịch phản ánh
toàn bộ quan hệ trao đổi giữa người mua và người bán, giữa cung và cầu và toàn bộ
các thông tin kinh tế kỹ thuật gắn với mối quan hệ đó trong lĩnh vực du lịch.
Theo marketing du lịch, nghĩa rộng: thị trường du lịch là tập hợp người mua,
người bán sản phẩm hiện tại và tiềm năng. Người mua với tư cách là người tạo ra
thị trường du lịch và người bán với tư cách là người tạo ra ngành du lịch.
Theo marketing du lịch, nghĩa hẹp (giác độ của nhà kinh doanh du lịch): thị
trường du lịch là nhóm người mua có nhu cầu và mong muốn về một sản phẩm du
lịch hay một dãy sản phẩm du lịch cụ thể được đáp ứng hoặc chưa được đáp ứng.
Trang 9
1.2.2. Phân khúc thị trường du lịch
1.2.2.1. Khái niệm
Theo quan điểm của marketing hiện đại, doanh nghiệp cần thỏa mãn tối đa
mong muốn của người tiêu dùng để tối đa hóa lợi nhuận. Tuy nhiên trên thị
trường lại có rất nhiều người mua khác nhau. Mỗi người lại có nhu cầu, mong
muốn, mục đích và nguồn lực của riêng mình. Lý tưởng nhất là người bán phải
đưa ra chương trình marketing riêng cho từng người. Tuy nhiên, đây chỉ là lý
tưởng. Vì vậy phải tìm những khách hàng có cùng chung một số đặc điểm tương
đối giống nhau thành từng nhóm. Điểm khởi đầu cho hoạt động marketing của bất
kỳ doanh nghiệp kinh doanh nào cũng thường bắt đầu từ việc trả lời câu hỏi thị
trường mục tiêu của doanh nghiệp là ai, tức là các doanh nghiệp phải phân biệt và
hiểu rõ về thị trường mục tiêu của họ. Trên thực tế không có bất kỳ một sản phẩm
nào có thể đáp ứng được ở mức ngang bằng nhau nhu cầu của mọi đối tượng
khách hàng bởi vì nhu cầu của các nhóm khách hàng khác nhau có mức độ đòi
hỏi không giống nhau. Mỗi doanh nghiệp chỉ có thể cung cấp ra thị trường những
sản phẩm có khả năng đáp ứng được nhu cầu của một khúc thị trường nhất định
nào đó có xu hướng tiêu dùng và nhu cầu đòi hỏi tương đối giống nhau. Nhiệm
vụ của các doanh nghiệp du lịch là phải thiết kế những chương trình marketing

như người không mua, người mua ít, mua vừa, mua nhiều.
Theo mức trung thành với nhãn hiệu: không trung thành, ít trung thành,
mức độ trung thành trung bình, rất trung thành, tuyệt đối trung thành.
Theo lợi ích khi mua hàng: giá rẻ, may mắn, chất lượng, dịch vụ…
Theo cường độ sử dụng: ít, trung bình, nhiều…
1.2.3.Lựa chọn thị trường mục tiêu
Sau khi đã phân khúc thị trường và đánh giá các khúc thị trường khác nhau, các
doanh nghiệp du lịch phải quyết định xem có bao nhiêu khúc thị trường được lựa
chọn làm thị trường mục tiêu được doanh nghiệp hướng tới phục vụ. Trong đó khúc
Trang 11
thị trường nào được coi là hấp dẫn nhất đối với doanh nghiệp… Đó chính là quá
trình đánh giá và lựa chọn thị trường mục tiêu của doanh nghiệp du lịch
Thị trường mục tiêu được hiểu là tập hợp người mua có cùng nhu cầu đòi hỏi
hay những đặc tính giống nhau mà doanh nghiệp du lịch có khả năng đáp ứng ,
đồng thời tạo ra những lợi thế so sánh cao hơn so với các đối thủ cạnh tranh và cho
phép tối đa hóa các mục tiêu marketing đã đặt ra của doanh nghiệp.
1.3. Marketing 9Ps trong du lịch
Từ phạm trù marketing-mix 4Ps trong lý thuyết marketing, các chuyên gia
marketing du lịch đã đưa ra các biến thể khác của marketing-mix như là marketing
9Ps trong du lịch.
Do đặc thù của sản xuất và tiêu dùng du lịch cần phải chi tiết hơn các yếu tố trong
marketing-mix truyền thống và phối kết hợp đồng bộ các yếu tố này hướng vào thị
trường mục tiêu, theo Burke và Resnick (1991), marketing 9Ps tập trung vào tất cả
các hoạt động của marketing chuyên nghiệp. Marketing 9Ps như là các thành phần
trong một công thức đầy đủ để đạt được kết quả cuối cùng theo mong muốn của nhà
kinh doanh du lịch. Marketing du lịch 9Ps bao gồm: sản phẩm (product), giá (price),
phân phối (place), con người (people), chương trình (programing), xúc tiến
(promotion), đối tác (partnership), trọn gói (package) và định vị (position). Như vậy,
ngoài các yếu tố của marketing-mix truyền thống, có thêm năm yếu tố: con người,
chương trình, đối tác, trọn gói và định vị.

Do vậy người làm Marketing phải sản xuất sản phẩm dịch vụ gì để cho khách
hàng nhận ra được đó là dịch vụ tăng thêm, để khuyến khích khách hàng quay trở
lại. Cấp độ sản phẩm có thể gồm 2 cấp độ: sản phẩm dịch vụ cốt lõi và sản phẩm
dịch vụ bổ sung…Thông qua nhãn hiệu của công ty và hãng mà người ta cho rằng
sản phẩm ngoại vi đó hấp dẫn đối với họ. Khi sản phẩm dịch vụ có thương hiệu tốt,
có vị thế thì sẽ đạt được lợi thế cạnh tranh trên thương trường. Mức độ cạnh tranh
giữa các dịch vụ khách hàng nếu ai cũng giống ai thì dần dần thị trường coi là hàng
Trang 13
hoá không có gì khác biệt. Do vậy người làm Marketing cần ngăn chặn sự rơi
xuống của các sản phẩm dịch vụ này để cố gắng giữ sản phẩm của mình ở trên. do
đó cần phải có dịch vụ khách hàng để tạo ra sự riêng biệt, hấp dẫn.
Khi thực hiện chiến lược sản phẩm du lịch của mình các doanh nghiệp cần phải
quyết định hàng loạt các vấn đề có liên quan:
- Quyết định dịch vụ cơ bản: là những dịch vụ cung cấp những lợi ích cơ bản
cho khách hàng. Đó chính là động cơ để người mua tìm đến tiêu dùng một loại
dịch vụ này chứ không phải là dịch vụ khác. Và căn cứ vào thị trường mục tiêu
mà người làm Marketing quyết định dịch vụ cơ bản và lợi ích cơ bản mà khách
hàng tìm kiếm. Từ đó doanh nghiệp có thể cung cấp các chương trình du lịch:
du lịch văn hoá, du lịch lễ hội,…
- Quyết định về dịch vụ ngoại vi: có 2 loại dịch vụ ngoại vi:
+ Một là dịch vụ nhằm tăng thêm giá trị cung cấp cho khách hàng có thể cùng
nằm trong hệ thống dịch vụ cơ bản và tăng thêm lợi ích cơ bản.
+ Hai là các dịch vụ độc lập mang lại lợi ích phụ thêm cho khách hàng. Thông
qua hai loại dịch vụ này thì dịch vụ cơ bản ít thay đổi và dịch vụ ngoại vi thì
thường xuyên thay đổi. Và khách hàng thường nhận biết khách sạn này với
khách sạn kia hoặc hãng này với hãng kia thông qua dịch vụ ngoại vi.
Điểm đầu tiên để đánh giá sản phẩm là xem khách hàng đánh giá về sản phẩm
như thế nào, ai là người ảnh hưởng đến họ và định vị của sản phẩm trên thị trường
như thế nào. Phân tích SWOT được áp dụng trong bất kỳ tổ chức nào và áp dụng
cho cả doanh nghiệp và sản phẩm. Mô hình SWOT giúp doanh nghiệp nhìn nhận rõ

Chính sách giá đúng đắn là việc xác định giá thích hợp cho từng sản phẩm, từng
giai đoạn, từng thị trường và được xác định dựa trên mối quan hệ giữa cung và cầu
có tính đến các đối thủ cạnh tranh.
Trang 15
1.3.3.Yếu tố phân phối (Place)
Cũng như mọi loại hàng hóa, dịch vụ khác, sản phẩm du lịch được sản xuất ra
để bán cho những khách hàng có nhu cầu. Quá trình để đưa các sản phẩm du lịch
được tạo ra đến với khách hàng được gọi là quá trình phân phối sản phẩm. Những
quyết định gắn với quá trình đó chính là chiến lược phân phối sản phẩm.
Một doanh nghiệp du lịch có thể lựa chọn việc trực tiếp đưa sản phẩm của mình
tạo ra đến với khách hàng mục tiêu được xác định hoặc gián tiếp thông qua các nhà
phân phối trung gian (xem sơ đồ 1.3). Ngay bản thân việc sử dụng cách phân phối
qua các nhà phân phối trung gian cũng có nhiều cấp độ khác nhau. Và tất nhiên,
gắn với mỗi hình thức phân phối hay cấp độ phân phối khác nhau là những chính
sách quản trị cụ thể. Vấn đề là: như thế nào là một chiến lược phân phối tốt? Những
quyết định gắn với quá trình phân phối đó được đưa ra dựa trên cơ sở nào? Điều
này xuất phát từ mục tiêu của chiến lược phân phối.
Kênh phân phối Kênh phân phối
trực tiếp gián tiếp
Sơ đồ 1.1: Các kênh phân phối và cấu trúc kênh phân phối
Nguồn: Bộ phận kinh doanh của khách sạn (2011)
Trang 16
Khách du lịch
Doanh nghiệp
Chi nhánh
Doanh nghiệp
Khách du lịch
Đại lý
Doanh nghiệp
Chi nhánh

hình dịch vụ. Do vậy thời điểm tiêu thụ là sản phẩm sản xuất ra ở đâu thì tiêu thụ
ngay tại đó nên yếu tố con người là không thể tách rời và có ý nghĩa vô cùng quan
trọng, nó quyết định sự thành công của sản phẩm, uy tín của sản phẩm, mức độ
thoả mãn của sản phẩm đối với khách hàng hay nói cách khác nó quyết định lợi
nhuận của doanh nghiệp. Với tầm quan trọng như vậy chính sách con người hôm
Trang 17
nay là một trong những yếu tố luôn được các doanh nghiệp đầu tư và phát triển.
Nhân viên tiếp xúc được xã hội công nhận và coi là yếu tố hàng đầu trong sự thành
công của sản phẩm du lịch. Vì vậy Marketing – mix cần giải quyết được hài hoà hai
vấn đề cơ bản là đào tạo huấn luyện nhân sự và quản lý, điều hành nhân viên.
Nhiệm vụ kế theo của chính sách con người là phải giải quyết được vấn đề:
+ Với chi phí thấp và hợp lý nhất để công tác đào tạo đạt được hiệu quả cao và
năng suất khách sạn của nhân viên được phát huy tối đa.
+ Quản lý kiểm soát được chất lượng phục vụ, chất lượng công việc của nhân
viên sao cho nó đảm bảo tính ổn định và có chất lượng cao trong lao động.
Bởi đây là các yếu tố quyết định lợi nhuận và vị thế của doanh nghiệp trên thị
trường kinh doanh khách sạn. Tuy nhiên việc đào tạo phải được diễn ra thường
xuyên liên tục phù hợp với sự phát triển của thị trường và xã hội.
1.3.5.Yếu tố chương trình (Programing)
Chương trình tương tự như là dịch vụ trọn gói. Chương trình chỉ rõ cho khách
các loại dịch vụ, thời gian, không gian và các điều kiện tiêu dùng. Đây là các kết
hợp thường có của các tour du lịch trọn gói. Sự kết hợp các chương trình vào
chuyến đi và được bán tạo ra sự phong phú dịch vụ của điểm đến. Người bán không
bán thành giá trọn gói (bán hai hoặc nhiều hơn sản phẩm du lịch trong cùng một
giá) nhưng có thể đưa ra phần dịch vụ, sản phẩm đó giống như một phần nổi trội
hơn trong chuỗi các dịch vụ. Ví dụ như trong gói dịch vụ khách sạn có phần chơi
golf miễn phí. Cũng có thể tưởng tượng theo cách làm như một khách sạn, họ cho
miễn phí sử dụng hồ bơi ngoài trời đối với những khách dùng tour trọn gói giống
các khách sạn khác và họ còn miễn phí một lần lặn biển. Dịch vụ bổ sung này cũng
có thể được gọi là chương trình kết hợp thêm với chương trình du lịch.

Trang 19
có hiệu quả nếu như tất cả những thông tin về sản phẩm đó chưa được cung cấp
một cách thấu đáo cho khách hàng. Điều quan trọng là doanh nghiệp phải có các
quan hệ giao tiếp với khách hàng để cung cấp thông tin cho khách hàng nhận biết
về sản phẩm và doanh nghiệp để tác động vào thị hiếu, nhận thức và hành vi của
khách hàng.
Xúc tiến với vai trò là một trong những chiến lược chủ yếu của marketing-mix
có tác dụng rất lớn trong việc góp phần thực hiện thành công marketing-mix.
Hoạt động xúc tiến có những tác dụng cơ bản sau:
+ Tạo điều kiện cho khách hàng tự do lựa chọn sản phẩm tiêu dùng
+ Tạo điều kiện để sản phẩm du lịch được tiêu thụ nhiều lần
+ Góp phần cải tiến sản phẩm
1.3.7.Yếu tố đối tác (Partnership)
Do đặc điểm của dịch vụ du lịch mang tính tổng hợp, vì vậy không có nhà cung
ứng đơn lẻ mà phải có các bạn hàng như là đối tác hỗ trợ và bổ sung cho nhau, tạo
ra chuỗi dịch vụ du lịch để cung cấp cho du khách. Đây không phải là một yếu tố
đơn lẻ mà là một đơn vị độc lập trong số các yếu tố du lịch khác. Tất cả các nhà
cung cấp du lịch đều là một phần và đều góp vào sự hợp tác giữa các nhà cung cấp
du lịch. Nhà tổ chức tour là một thành phần rất quan trọng trong số các thành viên,
cũng như những nhà cung cấp dịch vụ khách sạn, nhà hàng, khu giải trí, thắng cảnh
và các chủ cửa hàng bán đồ lưu niệm. Sự hợp tác giữa các nhà cung cấp tạo nên
một chu trình hoàn chỉnh, khép kín, làm tăng giá trị của tour du lịch cũng như giá
trị của mỗi sản phẩm họ cung cấp.
1.3.8.Yếu tố trọn gói (Package)
Có thể hiểu sản phẩm trọn gói là phương thức chào bán hoặc marketing hai hay
nhiều sản phẩm/ dịch vụ trong một gói sản phẩm (package), với mức giá được
người mua cảm nhận rằng thấp hơn so với khi mua từng sản phẩm riêng lẻ.
Giá trị mà sản phẩm trọn gói đem lại, theo khách hàng, là sự thuận tiện khi thực
hiện ít giao dịch hơn, tiết kiệm được thời gian và cảm nhận được giá trị gia tăng.
Trang 20

lược marketing nhạy cảm nhằm khắc phục tình trạng "rối loạn" thị trường; có nghĩa
là trong bối cảnh cạnh tranh phức tạp, hàng hóa ngày càng đa dạng, người tiêu dùng
luôn bị "nhiễu thông tin" rất khó nhận thấy sự khác biệt của các sản phẩm. Tình
hình đó làm nảy sinh nhu cầu tự nhiên đối với doanh nghiệp là cần phải tạo nên một
ấn tượng riêng, một "cá tính" cho sản phẩm của mình. Vì vậy chiến lược định vị ra
đời, được định nghĩa là "tập hợp các hoạt động nhằm tạo cho sản phẩm và thương
hiệu sản phẩm một vị trí xác định (so với đối thủ cạnh tranh) trong tâm lý của
khách hàng" (Philip Kotler), "là nỗ lực đem lại cho sản phẩm một hình ảnh riêng,
dễ đi vào nhận thức của khách hàng" hay cụ thể hơn, "là điều mà doanh nghiệp
muốn khách hàng liên tưởng tới mỗi khi đối diện với thương hiệu của mình" (Marc
Filser).
Do quá trình nhận thức của con người là không có gì đặc biệt thì họ không nhớ,
do sự cạnh tranh ngày càng gia tăng trong kinh doanh khách sạn – du lịch thì phải
làm thế nào để khách hàng nhớ đến mình. Đồng thời do các dung lượng thông điệp
thương mại: định vị tức là chúng ta sẽ tạo dựng các yếu tố Marketing – mix nhằm
chiếm được một vị trí nào đó trong tâm trí của khách hàng ở thị trường mục tiêu.
Quá trình định vị trở nên hết sức cần thiết và phải làm sao cho việc định vị có hiệu
quả nhất. Nhà định vị phải biết các thông tin về nhu cầu của khách hàng tại thị
trường mục tiêu và những lợi ích mà họ mong đợi. Đồng thời phải hiểu biết về
những thế mạnh và điểm yếu trong cạnh tranh của doanh nghiệp. Doanh nghiệp
cũng phải thông thạo về thế mạnh và điểm yếu của đối thủ cạnh tranh để tránh việc
đối đầu, tốn công sức thông tin về sự nhận thức của khách hàng đối với doanh
nghiệp so với đối thủ cạnh tranh.
Yêu cầu cuả định vị là tạo ra được hình ảnh, truyền tải được các lợi ích đến
khách hàng và phải khác biệt hoá tên nhãn hiệu dịch vụ của mình so với đối thủ
cạnh tranh. Sau khi xác định chiến lược định vị, doanh nghiệp bắt tay vào soạn thảo
hệ thống Marketing – mix. Hệ thống Marketing – mix phải có sự nhất quán trong
việc khắc họa hình ảnh về doanh nghiệp và nhãn hiệu đúng tầm với vị trí mà doanh
nghiệp đã chọn.
Trang 22

2
đến 202 m
2
), có ban công riêng, mặt sàn
được trải thảm với TV màn hình phẳng 42-inch và đẩy đủ các trang thiết bị cao cấp
tiện nghi khác theo tiêu chuẩn quốc tế năm sao. Các loại mỹ phẩm và đồ dùng trong
phòng tắm đều mang hương đặc trưng của Celadon Palace. Những hình diêm quẹt
được thiết kế riêng cho đến thực đơn phục vụ ẩm thực tại phòng đều phản ánh sự
chú tâm đến từng chi tiết của chủ nhân của khách sạn.
Ngoài những phòng ngủ rộng rãi, được trang bị đầy đủ tiện nghi cao cấp, khách
sạn có 15 phòng họp lớn nhỏ, có 02 nhà hàng phục vụ các món ăn Âu –Á – Việt
Nam, có 03 quán bar thưởng thức nhạc sống do ban nhạc quốc tế biểu diễn và phục
vụ nước uống, các món ăn nhẹ. Khách sạn còn có bể bơi ngoài trời, phòng tập thể
hình, trung tâm thẩm mỹ, phòng massage thư giãn, sân tennis, trung tâm dịch vụ
văn phòng đáp ứng nhu cầu thông tin liên lạc và làm việc cho các doanh nhân.
 Tình hình nhân sự
Tình hình nguồn nhân lực hiện tại của công ty là hơn 152 người, trong đó có 03
lao động nước ngoài và hiện công ty đang tuyển thêm nhân viên.
Bảng 2.1: Số lao động trong các bộ phận
Trang 24
Các bộ phận/ phòng ban Số lượng (người)
Ban lãnh đạo 3
Kinh doanh 2
Lễ tân 15
Đặt phòng + tổng đài 6
Buồng 35
Nhà hàng 33
Tổ chức sự kiện 4
Bếp 18
An ninh 11

Nhược điểm: - Số người có trình độ chuyên môn về ngành du lịch khách sạn ít
- Số người có trình độ dưới cao đẳng khá nhiều, chi phí đào tạo tốn
kém
2.1.2. Các sản phẩm – dịch vụ tại khách sạn
Các sản phẩm – dịch vụ tại khách sạn Celadon Palace Hue bao gồm:
+ Dịch vụ lưu trú
+ Dịch vụ ăn uống
+ Dịch vụ M.I.C.E (du lịch kết hợp hội nghị, hội thảo, triển lãm, tổ chức sự kiện
)
+ Dịch vụ vui chơi giải trí: bể bơi, sân tennis, phòng tập thẩm mỹ, spa…
Trang 25
Bộ
phận
lễ
tân

Trích đoạn Tình hình hoạt động kinh doanh Thực trạng marketing của khách sạn các điểm mạnh: Mục tiêu Marketing của khách sạn giai đoạn 2011-
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status