TRƯỜNG ĐẠI HỌC sư PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA SINH - KTNN
NGUYỄN THỊ HƯỜNG
NGHIÊN CỨU THÀNH PHÀN LOÀI VÀ PHÂN BÓ CỦA NHỆN
(ARANEAE) HOẠT ĐỘNG TRÊN MẶT ĐẤT TẠI VƯỜN QUỐC
GIA CÚC PHƯƠNG, TỈNH NINH BÌNH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC • • • •
Chuyên ngành: Động vật học
Người hướng dẫn khoa học TS. PHẠM ĐÌNH
SẮC
HÀ NỘI - 2015
LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập tại trường cho đến khi hoàn thành khóa luận này em đã nhận
được sự giúp đỡ từ các thầy cô, bạn bè và gia đình rất nhiều. Đe có được kết quả như hôm nay, em
xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến:
TS. Phạm Đình sắc công tác tại phòng Sinh thái môi trường đất - Viện Sinh thái và tài nguyên
sinh vật đã dành nhiều thòi gian để hướng dẫn tận tình, cung cấp nhiều tài liệu, kiến thức quý báu,
kinh nghiệm, phương pháp cũng như tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp em hoàn thành khóa luận tốt
nghiệp này.
Nguyễn Thị Hường
Khóa luận tốt
Em xin bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc tới các thầy, cô giáo trong khoa Sinh- KTNN- trường Đại
học Sư phạm Hà Nội 2 đã chỉ bảo, giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập và rèn luyện tại trường.
STT
Kí hiệu
Viêt tăt
1
ĐVKXS
Động vật không xương sông
2
VQG
Vườn quôc gia
3
cs
Cộng sự
4
AME
Măt giữa phía trước
DANH MỤC HÌNH
Tên hình
trang
MỤC LỤC
Nguyễn Thị Hường
PHỤ LỤC
Khóa luận tốt
Lý do chọn đề tài
PHÀN MỞ ĐÀU 1.
Nhện (Araneae)Nguyễn
là mộtThị
trong
những nhóm động vật chân khớp cố có tínhKhóa
đa luận tốt
Hường
dạng sinh học cao, đã được ghi nhận xuất hiện trên Trái Đất cách đây khoảng 400
triệu năm. Nhện phân bố rộng khắp và chiếm ưu thế vầ số lượng loài cũng như số
lượng cá thể trong 11 bộ của lớp hình nhện. Nhện không chỉ đa dạng về số lượng
thành phần loài mà nơi cư trú cũng rất phong phú, chúng được tìm thấy ở mọi nơi,
như trong nhà, trong rừng, vườn cây, công viên, bụi cây, hang động, sa mạc....
Nhện còn được coi như sinh vật chỉ thị tốt để so sánh đặc điểm sinh thái của
do trên, chúng tôi thực hiện đề tài “Nghiên cửu thành phần loài và phân bố của
nhện (Araneae) hoạt động trên mặt đất tại Vườn quốc gia Cúc Phưoìig, tỉnh
Ninh Bình”nhằm góp phần bổ sung dẫn liệu cho những nghiên cứu về nhện tại địa
điểm nghiên cứu này.
2. Mục tiêu và ý nghĩa của đề tài
2.1.
Mục tiêu nghiên cứu
Xác định thành phần loài và đặc điểm phân bố của nhóm nhện hoạt động trên
mặt đất ở khu vực nghiên cứu.
2.2.
Ý nghĩa của việc nghiên cứu
a. Ỷ nghĩa khoa học
Nghiên cứu đưa ra những dẫn liệu mới về đa dạng thành phần loài và đặc điểm
phân bố của nhóm nhện hoạt động trên mặt đấtở một số sinh cảnh điển hình của khu
vực Vườn quốc gia Cúc Phương.
b. Ý nghĩa thực tiễn
Các kết quả thu được của đề tài làm cơ sở góp phần bảo vệ tính đa dạng sinh
học, sự cân bằng trong các hệ sinh thái ở khu vực nghiên cứu nói riêng và ở Việt Nam
nói chung.
2.3.
Điếm mới của đề tài
Araneomorphae: có 1 đôi phôi sách và 3 cặp núm nhả tơ
Việc đặt tên khoa học cho nhện được bắt đầu từ năm 1757, tác giả Ovid và
Clerek đã đưa ra tên của bộ nhện là Araneae và Aranei.Đen năm 1801, Latreille đưa
ra tên bộ nhện là AraneỉdaNầm 1862, Dallas cũng nêu ra tên của bộ nhện là
Araneida.Năm 1938, Bristowe đưa tên bộ nhện là Araneae và tên này được sử dụng
cho đến ngày nay (Platnick. N.I, 2014)[ 16].
1.1.1.
Đặc điểm hình thái học của nhện
Đặc điểm nổi bật của nhện là có 4 đôi chân (trong khi côn trùng có 3 đôi
chân), cơ thể Nhện được chia ra hai phần: Phần giáp đầu ngực (Céphalothorax) và
phần bụng (Abdomen), hai phần này được nối với nhau bởi cuống bụng, phần giáp
đầu ngực bao gồm tấm lung ngực (carapace) và tấm bụng ngực {sternum). Phía trên
đầu của giáp đầu ngực có miệng (môi trên và môi dưới) và một đôi
chân kìm (ichelỉcera), bên cạnh chân kìm là một đôi chân xúc giác (Palp). Cuối
đôi chân kìm của nhện có đôi răng lớn và khỏe dùng để bắt giữ và giết con mồi.
Các mắt nằm trên tấm lưng ngực, thông thường có 8 mắt đon xếp thành 2 hay 3
hàng. Bộ phận sinh dục của con cái nằm ở phần giữa mặt dưới của bụng. Cuối
bụng có một đến bốn đôi núm tơ (bộ phận nhả tơ).
Nguyễn Thị Hường
Khóa luận tốt
(Theo Jocque. R, 2007)
Nhện có 4 đôi chân bò nằm trên phần giáp đầu ngực, xếp dọc hai bên ức theo
thứ tự từ trước ra sau là I, II, III và IV. Mỗi chân gồm bảy đốt: háng (coax) nối liền
(họ Clubionidae), hoặc được nhện mẹ mang gần cuối bụng (một số loài thuộc họ
nhện sói Lycosidae). Nhện mẹ canh giữ trứng và con mới nở cho đến khi chúng đủ
cứng cáp, có khả năng phân tán. Nhện con mới nở thường tập trung trong 0 trúng.
Khi thời tiết lạnh, các loài nhện trong vườn cây ăn quả thường
tìm nơi trú ẩn để qua đông ở các vị trí ít bị tác động của các yếu tố môi trường như
khe hở tách ra từ vỏ của thân cây hoặc vỏ cành cây (Foelix R.F., 1996). Dựa trên tập
tính săn mồi, nhện được chia làm hai nhóm lớn: nhện chăng lưới bắt mồi và nhện săn
mồi tự do không chăng lưới. (Nguyễn Văn Huỳnh (2002) [32].
Nhện chăng lưới bắt mồi vào ban ngày thường săn mồi hay rình mồi trên lưới
nhện. Khi con mồi vướng vào lưới, nhện nhả tơ để cuốn chặt con mồi rồi tiêm nọc
độc giết chết con mồi. Thường thì nhện sẽ treo con mồi trên lưới để dành ăn khi đói.
Các loài nhện chăng lưới ban đêm thì hoạt động vào lúc chiều tối. Chúng chăng lưới
khi trời bớt gió và cuốn lưới lại và mang con mồi bắt được về nơi trú an (một số loài
thuộc họ Araneidae và Tetragnathidae). Nhũng loài nhện săn mồi tự do, chúng rình và
vồ con mồi sau đó nhanh chóng tiêm nọc độc, dùng hàm nghiền nát con mồi; tiết
nước bọt tiêu hóa và hút hết dịch chất của con mồi rồi bỏ lại xác khô (Foelix, 1996)
[6].
Nguyễn Thị Hường
Khóa luận tốt
Thức ăn chủ yếu của nhện là các động vật chân khớp nhỏ, thậm chí chúng còn
ăn thịt lẫn nhau. Trong các loại côn trùng thì ruồi, muỗi, bọ nhảy là nguồn thức ăn
chủ yếu của nhện. Tuy nhiên, cũng có những nhóm côn trùng mà nhện phải kiêng dè
như ong bắp cày, một số loại kiến, hay một số loại sâu bướm và bọ cánh cứng. Những
côn trùng này thường tiết ra mùi khó chịu hoặc chất độc để bảo vệ bản thân (Foelix,
1996) [6]. Song song đó, nhện được ghi nhận giữ vai trò chủ đạo và là một trong
những nhóm ăn thịt quan trọng nhất trong hầu hết các hệ sinh thái. Chúng là nguồn
Điều này giúp chúng có thể sống được ở những nơi có môi trường sống khắc nghiệt.
Đây cũng chính là lí do nhện phân bố rộng khắp trên nhiều hệ sinh thái. Bố sung
thêm dẫn liệu cho những nghiên cứu về vai trò của nhện trong việc phòng trừ tổng
họp sâu hại trên cây trồng nồng nghiệp, Song và Zhu (1999) [19] đã đưa ra nhận xét,
so với côn trùng ký sinh và các loài thiên địch khác nhện có nhiều ưu thế hơn. Thứ
nhất, nhện có kích thước quần thể lớn.Thứ hai, nhện là loài phàm ăn.Thứ ba, nhện
xuất hiện trên cây trồng sớm hơn các loài thiên địch khác. Thứ tư, trong điều kiện
thiếu thức ăn nhện vẫn có thể tồn tại trong thời gian dài. Thứ năm, khả năng sinh sản
của nhện cao.
Nhện còn được sử dụng như chỉ thị sinh thái học để đánh giá chất lượng môi
trường sống, điển hình là nhóm nhện thuộc họ nhện cuốn tổ Clubỉonỉdae rất mẫn cảm
với các kim loại nặng như chì và kẽm. Các kết quả nghiên cứu cho thấy thuốc trừ sâu
hại ảnh hưởng lớn tới nhện. Chen và Gao (1990)[2] đã chỉ rõ: việc sử dụng thuốc trừ
sâu trên vườn cây ăn quả làm giảm đáng kế số lượng nhện sống ở trên đó. Tác giả
cho rằng nhện rất mẫn cảm với thuốc hoá học, thuốc hoá học là nhân tố xua đuổi
nhện ra khỏi nơi hoạt động và cư trú đặc biệt là thời điếm nhện tìm nơi ấn nấp qua
mùa đông.
Ở Việt Nam, các nghiên cứu về sinh học sinh thái nhện còn rất rải rác. Ket quả
nghiên cún của Bùi Hải Son (1995) [29] cho thấy: loài nhện Pardosa pseudoannulata
giai đoạn con non có 8 tuổi; thời gian phát dục của nhện non đực từ 76,2 - 155,7
ngày, của nhện non cái từ 92,6 - 167,7 ngày; vòng đời của nhện từ 122,9 - 219 ngày.
Loài nhện Oxyopes javanus giai đoạn con non có 9 tuối; thời gian phát dục của nhện
non đực từ 152,9 - 204,0 ngày, của nhện non cái từ 159,6 - 223,7 ngày; vòng đời của
nhện từ 185,0 - 238,5 ngày. Nhện Pardosa pseudonnulata có khả năng ăn 9,4 - 22,5
con rầy nâu trong một ngày, nhện Oxyopes javanus có khả năng ăn 0,32 - 0,48 sâu
non cuốn lá nhỏ trong một ngày. Phạm Văn Lầm (2004) [37] đã tiến hành thí nghiệm
tìm hiểu phổ vật mồi của một số loài nhện trên cánh đồng lúa, cho rằng: các loài
Pardosa pseudonnulata
Blackwall, một trong những cha đẻ của ngành nhện học, có nhiều công trình
quan trọng đến họ Araneidae, một họ lớn của bộ nhện có nhiều đại diện ở vùng nhiệt
đới. Đặc biệt vào năm 1841, ông là người đầu tiên đề nghị sử dụng mắt nhện để định
loại đến loài, đặc điểm phân loại mà những nhà khoa học trước đó chưa có ai đề cập
đến.
Nguyễn Thị Hường
Khóa luận tốt
Theo thống kê gần đây nhất của Platnick (2014) [16], trên thế giới hiện nay đã
ghi nhận được 44.906 loài thuộc 3.935 giống của 114 họ nhện.
Ở khu vực Đông và Đông Nam Á, từ năm 1841, Walokenaer đã mô tả chi tiết
22 loài nhện chăng lưới thuộc 2 giống: Epeira (11 loài) và Plectanna (11 loài) của 2
họ Araneidae và Tetragnathidae ở Philippine trong 2 quyển của bộ “ Historỉe
Naturelle des Insects Aptères Tiếp theo đó các công trình nghiên cứu khu hệ nhện ở
các quốc gia khác: Nhật Bản (Karsch 1897, Kishida 1913-1914); Malaysia (Pocock
1892, Thorell 1890s).
Trong những năm gần đây, số lượng các loài nhện được ghi nhận ở khu vực
này gia tăng. Murphy & Murphy (2000) [8] đã đưa ra danh sách các loài nhện đã ghi
nhận được tại các nước khu vực Đông Nam châu Á, sắp xếp theo thứ tự số lượng loài
đã ghi nhận được từ cao đến thấp là: Indonesia (660 loài), Malaysia (463 loài),
Myanma (455 loài), Philipine (426 loài), Singapo (308 loài), Việt Nam (230 loài),
Thái Lan (156 loài).
Năm 2009, hai tác giả Y. Norma-Rashid và Daiqin Li đã tổng hợp 3 danh sách
thành phần loài nhện (gồm danh sách của Murphy & Murphy 2000, Platnick 2006
and Song et. al.2002) và đưa ra danh sách chỉ còn 425 loài thuộc 42 họ và 238 giống
được ghi nhận ở bán đảo Malaysia.
Ở Trung Quốc, nghiên cứu về nhện bắt đầu từ năm 1798. Năm 1999, Song và
Một số công trình nghiên cứu thành phần loài nhện trên cây vải thiều đã được
công bố. Phạm Đình sắc và Vũ Quang Côn (2002) [35] đã ghi nhận được 34 loài nhện
trên cây vải thiều ở Sóc Sơn - Hà Nội, 29 loài nhện trên cây vải thiều ở Mê Linh - Hà
nội. Thái trần bái và cs (2005) [38] đã phát hiện được 33 loài nhện trên cây vải thiều
ở Thanh Hà, Hải Dương.
Ket quả nghiên cứu nhện trên cánh đồng lúa ở Việt Nam đã có nhiều công trình
công bố. Trên đồng lúa ở Nghệ An đã phát hiện được 26 loài thuộc 18 giống của 8 họ
nhện (Phạm Bình Quyền và cộng sự, 1999). Theo Phạm Văn Lầm và cộng sự (1997,
2002), cho đến nay đã thu thập và xác định được 52 loài nhện trên đồng lúa ở Việt
Nam.
Trong vòng hai năm 2004 - 2005, Phạm Đình sắc và cs đã cho công bố danh
sách và phân bố của 113 loài nhện nhảy họ Salticidae cho khu hệ nhện Việt Nam.
Gần đây khi nghiên cứu nhện tại VQG Phong Nha Kẻ Bàng tỉnh Quảng Bình,
tác giả Phạm Đình sắcNguyễn
đã chỉ ra
khu hệ nhện hang động tiềm ẩn nhiều điều mới
Thịrằng
Hường
Khóa luận tốt
lạ, cần khám phá (Phạm Đình sắc và cs, 2011).
Khu hệ nhện rừng ngập mặn mới chỉ được nghiên cứu trong một vài năm gần
đây, giới hạn trong một vài địa điểm rừng ngập mặn phía Nam Việt Nam (Cồn Trong
- Cà Mau, Cù Lao Dung - Sóc Trăng, VQG Tràm Chim) (Nguyễn Trần Thụy Thanh
Mai và cs, 2013) [31].
Năm 2009, sáu loài nhện mới được phát hiện tại hai VQG Cúc Phương tỉnh
Ninh Bình và Cát Bà tỉnh Hải Phòng (Lin &Pham& Li, 2009). Năm 2010, thêm 1 loài
nhện mới được phát hiện tại VQG Cát Bà Hải Phòng (Liu, Li &Pham, 2010) [25].
Trước đó, tại vườn quốc gia Ba Bể, Phạm Đình sắc (2003) bước đầu đã công bố
nghiên cứu [30].
- Vị trí địa lý: Nằm ở tọa độ 20 14' - 20 24’ vĩ độ Bắc; 105 29' - 105 44' kinh
độ Đông, thuộc địa phận 3 tỉnh Thanh Hóa, Hòa Bình và Ninh Bình, VQG Cúc
Phương được thành lập từ năm 1962 theo quyết định 72/TTg của Thủ tướng Chính
phủ đã đánh dấu cho sự ra đời của khu bảo vệ đầu tiên của Việt Nam.
- Địa hình: VQG Cúc Phương nằm ở phần tận cùng về phía đông nam của một
dãy núi đá vôi chạy về từ Tỉnh Sơn La ở hướng tây bắc.Dải núi đá vôi này ưu thế bởi
kiểu cát-tơ tự nhiên vốn có gốc hình thành trong biển cách đây khoảng 200 triệu
năm.Dãy núi này nhô lên đến độ cao 636 m tạo thành một nét địa hình nổi bật giữa
một vùng đồng bằng. Phần dãy núi đá vôi bao quanh VQG có chiều dài khoảng 25
km và rộng đến 10 km, ở giữa có một thung lũng chạy dọc gần hết chiều dài của dãy
núi.
- Thủy văn: Phần lớn nước ở trong VQG bị hút nhanh chóng bởi một hệ thống
các mạch nước ngầm chằng chịt vốn rất phố biến ở các kiểu cảnh quan cát-tơ, nước
sau đó thường chảy ra ở những khe nhỏ ở bên hai sườn của VQG. Vì lý do này, không
có các ao hồ tự nhiên hay các thủy vực tĩnh ở trong VQG, mà chỉ có một dòng chảy
thường xuyên là sông Bưởi. Con sông tách cắt ở phía Tây của vườn chảy theo hướng
bắc nam và chảy vào sông Mã là con sông chính của Tỉnh Thanh Hoá (Cục Kiếm lâm.
Thông tin về các VQG trực thuộc) [30].
- Thảm thực vật: VQG Cúc Phương ưu thế bởi rừng trên núi đá vôi. Ở một số vị
trí, rừng hình thành nên nhiều tầng tán có thể đến 5 tầng rõ rệt, trong đó tầng vượt tán
đạt đến độ cao trên 40 m. Do địa hình dốc, tầng tán thường không liên tục và đôi khi
sự phân tầng không rõ ràng. Nhiều cây rất phát triển hệ rễ bạnh vè để đáp ứng với
tầng đất mặt thường mỏng. VQG Cúc Phương hiện là nơi có nhiều loài cây gỗ lớn
như Chò xanh Termỉnalia myrỉocarpa, Chò chỉ Shorea sinensis, và Đăng Tetrameies
nudiflora (Nguyễn Nghĩa Thìn, 1997) hiện đang được bảo vệ để thu hút du khách
thăm quan. Đây cũng là
nơi rấtThị
CHƯƠNG 2. ĐỐI TƯỢNG, THỜI GIAN ĐỊA ĐIẺM VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN cứu
2.1. Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu nhóm
nhệnThị
hoạtHường
động trên mặt đất thuộc bộ Nhện (Araneae), Khóa
lớp luận tốt
Nguyễn
Hình nhện (Arachnida), ngành Chân khớp (Arthropoda) tại một số sinh cảnh của
Vườn quốc gia Cúc Phương.
2.2. Thời gian nghiên cứu
Đề tài được thực hiện từ tháng 04/2014 đến tháng 04/2015.
Chúng tôi tiến hành nghiên cứu thực địa thu mẫu nhện trong 3 đợt:
- Đợt 1: giai đoạn mùa mưa (tháng 5 - 6/2014)
- Đợt 2: giai đoạn mùa khô (tháng 10-11/2014)
- Đợt 3: giai đoạn cuối mùa khô, đầu mùa mưa (tháng 2 - 3/2015)
Thời gian còn lại chúng tôi tiến hành thu thập tài liệu, phân tích mẫu,
xử lý số liệu và viết báo cáo.
2.3. Địa điểm nghiên cứu
Đe tài được thực hiện tại các sinh cảnh điển hình của Vườn quốc gia Cúc
Phương tỉnh Ninh Bình. Nhện được thu ở 3 sinh cảnh: rừng tự nhiên, rừng trồng(rừng
keo tai tượng), trảng cây bụi.
2.4. Nội dung nghiên cún
- Thành phần loài nhóm nhện hoạt động trên mặt đất tại VQG Cúc Phương tỉnh
Ninh Bình.
- Phân bố của các loài nhện theo sinh cảnh: rừng tự nhiên, rừng keo tai tượng,
trảng cỏ cây bụi.
để thu bắt nhện.
Hinh 2.1. Phương pháp bẫy hố
2.5.2.
Phương pháp xử lý và lưu trữ mẫu
Mau thu thập tại địa điếm nghiên cứu sẽ được bảo quản trong cồn 70% trong
các lọ lOOml có nắp đậy kín gắn thông tin như thời gian, sinh cảnh, người thu và địa
điểm thu mẫu....
Mau nhện được định loại và lun tại phòng Sinh thái môi trường đất, Viện Sinh
thái và Tài nguyên Sinh vật.
Chúng tôi chỉ sử dụng các mẫu nhện trưởng thành để định loại tới loài, bởi vì
việc định loại nhện ở giai đoạn con non đến cấp độ giống và loài là rất khó.
Định loại nhện theo các tài liệu Zabka (1985); Davies (1986); Davies (1988);
Chen và Gao (1990); Feng (1990); Barrion và Litsinger (1995); Song và cộng sự
(1997, 1999, 2004); Yin và cộng sự (1997); Zhu và cộng sự (1998, 2003), Jocque và
Schoeman (2007). ChỉNguyễn
các mẫuThị
nhện
trưởng thành được sử dụng để định loại.
Hường
Khóa luận tốt
Các mẫu thu cùng một điểm được chứa cùng một lọ, được tiến hành phân loại
như sau : Trước tiên mẫu được đỗ ra đĩa petri đưa lên kính lúp quan sát, các mẫu có
Loài ưu thế tại sinh cảnh nghiên cứu + 2% < A < 5%: Loài ưu thế tiềm
tàng tại sinh cảnh nghiên cứu + A < 2%: Loài không ưu thế tại sinh
cảnh nghiên
CÚ01
Nguyễn
Thị Hường
Khóa luận tốt
CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ VÀ THĂO LUẬN
3.1.
Thành phần loài của nhóm nhện hoạt động trên mặt đất ở khu vực
VQG Cúc Phương Nguyễn Thị Hường
3.1.1.
Khóa luận tốt
Danh sách thành phần loài
Chúng tôi đã thu thập được 305 cá thể trưởng thành ở khu vực VQG Cúc
Phương, thuộc 36 loài, 28 giống, 9 họ nhện tại 3 sinh cảnh thu mẫu là trảng cây
bụi, rừng keo tai tượng và rừng tự nhiên.
Bảng 3.1. Thành phần và số lượng cá thể các loài nhện hoạt động trên mặt
đất thu được tại khu vực VQG Cúc Phương, tỉnh Ninh Bình
6
21
7
Bianor
hotingchiehi
Schenkel
Castỉaneỉra
ỉnquỉnata
(Thorell) (*)
Harmochirusshaxianensis
brachiatus (Thorell)
Castianeỉra
Gong (*)
22
Hasarius
adansoni
(Savigny(Simon)(*)
& Audouin)
8
Castỉaneỉra
quadrỉtaenỉata
23
Phintella versicolor (C.L. Koch)
III. Họ Linyphiidae
2
8
6
10
10
4
26
11
27
12
Rhene
flavigera(C.L.
Ummeliata
insectỉcepsKoch)
(Bổsenberg et Strand)
Siler
lii
Peng
Nasoona cruciỷera (Thorell)
12
22
12
1
28
IV. Họ Telamonia
Lycosidae festiva Thorell
29
Thiania
Thorell
22
32
31
Theridiosoma sp (**)
45
IX. Họ Thomicidae
33
Oxytate virens (Thorell)
1
34
Runcinia acuninata (Thorell)
6
35
Misumenoides matinikus Barrion & Litsinger
2
36
3.1.2.
Mô tả loài định dạng sp.
Bộ: Araneae
Họ: Theridiosomatidae
Loài: Theridiosoma sp.
Mô tả: Con đực
Giáp mai có màu nâu vàng, quanh vùng fovea màu tối hơn, vùng mắt màu đen,
chelicerae màu vàng.Chân màu vang, các đốt femur màu trắng xám.Mắt màu trắng
đục.Phần trước bụng có màu nâu nhạt, phần sau bụng màu tối hơn, giữa hai phần này
có một vệt màu trắng ngang.Chân có nhiều lông.
b a
c
Hình 3.1: Một sô hình ảnh loài Theridỉosomatỉdae sp. (a:
Mặt lưng; b: mặt nghiêng; c,d' rnale palp)
d