TRƯỜNG ĐẠI HỌC sư PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA SINH - KTNN
PHẠM THỊ NHUNG
NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN VÀ PHÂN BỐ CỦA
NHỆN (ARANEAE) TRONG LÁ RÁC TẠI VƯỜN
QUỐC GIA cúc PHƯƠNG, TỈNH NINH BÌNH
KHÓA LUẬN TÓT NGHIỆP ĐẠI HỌC
••••
Chuyên ngành: Động vật học
Ngưòi huứng dẫn khoa học TS. PHẠM
ĐÌNH SẮC
HÀ NÔI – 2015
LỜI CẢM ƠN
Trước tiên, tôi muốn bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất đến TS. Phạm Đình Sắc, công tác
tại phòng Sinh thái Môi trường đất, Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật đã tận tình hướng
dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện khoá luận tốt nghiệp.
Tôi xin bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc tới các thầy, cô giáo trong khoa Sinh- KTNN trường
ỈPhảtn
Aííỉuutạ
£uậtI
Jốttại
JVạfiiệp
Đại học Sư phạm Hà Nội
CÁC THUẬT NGỮ VIÉT TẮT
STT
1
3*ÍLàtti 5h\ JVãunạ
Kí hiệu
ALE
ũiháa £uậtI Jốt JVạfiiệp
Viểt tắt
Mắt bên trước
2
AME
3
PLE
4
PME
Mắt giữa phía sau
5
RTN
Bảng 3.1. Thành phần và số lượng cá thể các loài nhện trong lá rác thu được
tại khu vực VQG Cúc Phương, tỉnh Ninh Bình..................................................22
Bảng 3.2. Phân bố của các loài nhện trong lá rác theo sinh cảnh (trảng cỏ cây bụi,
rừng trồng, rừng tự nhiên) ở khu vực VQG Cúc Phương, tỉnh Ninh Bình
.......................................................................................................................... 29
Bảng 3.3. Số lượng loài của các họ nhện trong lá rác thu được tại 3 sinh cảnh
nghiên cún......................................................................................................... 31
Bảng 3.4. Thành phần và số lượng cá thể các loài nhện trong lá rác thu theo mùa
tại VQG Cúc Phương, tỉnh Ninh Bình...............................................................33
DANH MỤC HÌNH
MỘT SỐ THUẬT NGỮ SINH HỌC
1
ỈPẫảtn 5h\ JVãunạ
JCAda jßu'dti Jot JVạfiiệp
Bulbus
Phân (khôi) câu trúc phức tạp của bộ phận sinh dục đực,
thường nằm ngay dưới vùng lõm của cymbium
2
Clypeus
3
Cymbium
Khoảng từ măt tới chân kìm
nhện)
Rãnh (hô) trên tâm lưng ngực của nhện
Đôt đâu gôi (đôt thứ 4 của chân bò và chân xúc giác)
Tâm bụng ngực
Đôt chuyên (đôt thứ 2 ở chân bò ở nhện)
MỤC LỤC
2.5.1.
ỮKUỜnạĐMSŨ* Mà J\[ội 2
Jửỉaa SinhJÙĨJVJ\Í
2.1.
2.2......................................................................................................................
2.3. PHỤ LỤC
2.4.
MỎ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Phàm, 5h\ JVãunạ
ũiháa £uậtI Jốt JVạfiiệp
2.5.
Nhện (Araneae, Arachnida) là loài động vật săn mồi không xương sống,
được mệnh danh là một trong những sát thủ vô cùng nguy hiểm trong giới động vật. Bộ
Nhện (Araneae) là một trong những nhóm động vật chân khớp cổ có tính đa dạng sinh
học cao, phân bố rộng khắp và chiếm ưu thế về số lượng loài cũng như số lượng cá thể
tách chiết các chất từ nọc để làm thuốc gây tê hay chữa một số bệnh liên quan đến hệ
Phàm,sử5h\
JVãunạ
ũiháa
£uậtI Jốt JVạfiiệp
thần kinh. Nhện còn được
dụng
như chất chỉ thị sinh thái học để đánh giá chất
lượng
môi trường, điến hình là nhóm nhện thuộc họ Clubionidae rất mẫn cảm với các kim
loại nặng như chì (Pb) và kẽm (Zn).
2.8.
Theo Barrion and Litsinger (1995) [12], bộ nhện (Araneae, Arachnida)
được xếp vào trong nhóm động vật có sự biến động mật độ cao và độ đa dạng đứng thứ
bảy thế giới. Các nghiên cứu hệ ĐVKXS nói chung và nhện nói riêng ở các khu bảo
tồn, VQG đang ngày trở nên quan trọng dù chỉ mới phát triển bước đầu và tiến hành ở
mức kiểm kê. Những khảo sát khu hệ nhện Việt Nam của nhiều tác giả trong nước và
ngoài nước còn khá hạn chế và chủ yếu tập trung vào liệt kê danh sách thành phần loài,
công bố loài mới (Phạm Đình Sắc, 2005) [8].
2.9.
Khu hệ nhện Việt Nam được đánh giá có mức đa dạng sinh học cao,
nhưng chưa được tập trung nghiên cứu. Trong những năm gần đây đã có một số công
trình nghiên cứu về nhện. Các nghiên cứu này mới chỉ tập trung trên một số cây trồng
nông nghiệp như lúa, đậu tương, nhãn, vải.
2.10.
-
Xác định thành phần loài, đặc điểm phân bố của các loài nhện sống trong lá rác tại một
số sinh cảnh điển hình của khu vực VQG Cúc Phương, phân bố nhện theo mùa, góp
phần khôi phục, bảo vệ tính đa dạng sinh học, sự cân bằng trong các hệ sinh thái ở khu
vực nghiên cứu.
2.2.
-
Nhiệm vụ nghiên cứu
Tiến hành khảo sát, điều tra, nghiên cứu phân loại nhóm nhện hoạt động trong tầng lá
rác tại một số sinh cảnh điển hình của khu vực nghiên cứu.
-
Phân tích mẫu vật thu được đế xác định thành phần loài nhện.
-
Nghiên cứu đặc trưng phân bố của nhện theo các sinh cảnh điển hình ở khu vực nghiên
cứu: rừng tự nhiên, rừng keo tai tượng, trảng cỏ cây bụi.
-
Phân bố nhện theo mùa: mùa mưa, mùa khô, khoảng thời gian giữa 2 mùa mưa và mùa
khô.
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Tên khoa học: Araneae Tên tiếng Anh:
Spider Tên Việt Nam: Nhện Bộ Nhện (Araneae) thuộc lớp Hình nhện Arachnida,
ngành Động vật Chân khớp Arthropoda. Bộ Nhện chiếm ưu thế về số loài và số lượng
cá thể trong 11 bộ của lớp Hình nhện (11 bộ bao gồm: Acarina, Amblypygi, Araneae,
Opiliones,
Palpigradi,
Pseudoscorpiones,
Ricinulei,
Schizomida,
Scorpioides,
Solifugae, Thelyphonida).
2.15.
Nhện được chia làm hai phân bộ dựa vào số đôi phổi sách (book-lungs)
thuộc cơ quan hô hấp và số cặp núm nhả tơ (spinnerets) thuộc bộ phận nhả tơ. Cụ thể
Platnick (2012) [17] đã chia hai phân bộ nhện là:
2.16. Mygalomorphae: có 2 đôi phổi sách và 2 cặp núm nhả tơ
Araneomorphae: có 1 đôi phổi sách và 3 cặp núm nhả tơ
2.17.
Việc đặt tên khoa học cho nhện được bắt đầu từ năm 1757, tác giả Ovid
2.1.
2.21.
2.22.
Hình 1.1: Hình thái bên ngoài của nhện (mặt lưng) (Theo Jocque. R,
2007) Các mắt nằm trên tấm lưng ngực, thông thường nhện có từ 6 đến 8 mắt đơn
xếp thành 2 hoặc 3 hàng. Bộ phận sinh dục con cái nằm ở phần giữa mặt
2.23. dưới của bụng. Cuối bụng có 1 đến 4 đôi núm tơ (bộ phận nhả tơ). Nhện có 4
đôi chân bò nằm trênPhàm,
phần 5h\
giápJVãunạ
đầu ngực, xếp dọc hai bên ức theo thứ tự từũiháa
trước£uậtI
ra Jốt JVạfiiệp
sau là I, II, III và IV. Mỗi chân gồm bảy đốt: háng (coax) nối liền với ngực, chuyến
(trochanter), đùi (femur), gối {patella), cang hay ống (tibia), bàn trong hay đốt bàn
(metatasus) và bàn ngoài hay đốt cổ chân (tarsus). Thông thường đốt bàn ngoài mang
hai hoặc ba móng vuốt (mấu nhọn) (claws) tùy theo loài, nếu có ba vuốt thì hai trong số
ba vuốt tạo thành một đôi và vuốt còn lại nằm ở giữa. Các vuốt có thế không có răng
lược hoặc có răng lược đế kéo tơ.
2.24.
Nhện đực và nhện cái phân biệt với nhau qua đốt ngoài cùng của đôi
2.28.
ŨIHÁA JSSU'DTI JOT AÍẠMỆP
tên của bộ Nhện là Araneae và tên này được sử dụng cho đến ngày nay
(Platnick, 2012) [17].
1.2.1.
2.29.
về thành phần loài nhện
Trên thế giới đã ghi nhận được 43.224 loài thuộc 3.879 giống của 111 họ
Nhện (Platnick, 2012) [17]. Tác giả đã tổng họp tất cả các công bố về khu hệ nhện của
các nước trên toàn thế giới, bắt đầu từ công trình của Clerek năm 1757. Cho đến nay tố
chức này đã đón nhận thành viên từ hơn 70 quốc gia khác nhau trên thế giới. Với sự
phát triển không ngừng của các công trình nghiên cứu về nhện, môn khoa học mới đã
được ra đời là Arachnology - Nhện học.
2.30.
Được bắt đầu nghiên cứu từ cuối thế kỷ 18 (theo tác giả Barrion &
Litsinger, 1995) [12] nhưng thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20 mới là giai đoạn có hàng loạt
các nghiên cứu chi tiết cũng như các công trình công bố loài mới ngày càng nhiều,
được đánh giá là thời kỳ hoàng kim của phân loại học về nhện.
2.31.
Dofour - tác giả người Pháp, được cho là người đầu tiên sử dụng các
loài,
27 giống), họ Gnaphosidae
(nămJSSU'DTI
2004 vơi 166
loài, 34 giống), họ Philodromidae (năm 1997 với 30 loài, 3 giống).
2.35.
Ớ Ôxtraylia đã ghi nhận công trình nghiên cứu và xây dựng khóa định
loại tới họ của bộ nhện và khóa định loại tới loài của nhóm nhện chăng lưới của tác giả
Davies (1986, 1988) [14].
2.36.
Ớ khu vực Đông và Đông Nam Á, từ năm 1841, Walokenaer đã mô tả
chi tiết 22 loài nhện chăng lưới thuộc 2 giống: Epeira (11 loài) và Plectanna (11 loài)
của 2 họ Araneidae và Tetragnathidae ở Philippine trong 2 quyển của bộ “ Historie
Naturelle des Insects Aptères ” . Tiếp theo đó các công trình nghiên cứu khu hệ nhện ở
các quốc gia khác: Nhật Bản (Karsch 1897, Kishida 1913-1914); Malaysia (Pocock
1892, Thorell 1890s).
2.37.
Murphy & Murphy (2000) [16] đã đưa ra danh sách các loài nhện đã ghi
nhận được tại các nước Đông Nam Á, sắp xếp theo thứ tự số lượng loài đã ghi nhận
được từ cao đến thấp lần lượt là: Indonexia (660 loài), Malaixia (463 loài), Myanma
(455 loài), Philippin (426 loài), Singapo (308 loài), Việt Nam (230 loài), Thái Lan (156
loài). Theo các tác giả, khu hệ nhện của 2 nước thuộc khu vực này bao gồm
nhảy là nguồn
thức ăn chủ yếu của nhện. Tuy nhiên, cũng có những nhóm côn trùng mà nhện phải
kiêng dè như ong bắp cày, một số loại kiến, hay một số loại sâu bướm và bọ cánh cứng.
Những côn trùng này thường tiết ra mùi khó chịu hoặc chất độc đế bảo vệ bản thân
(Foelix, 1996) [15]. Song song đó, nhện được ghi nhận giữ vai trò chủ đạo và là một
trong những nhóm ăn thịt quan trọng nhất trong hầu hết các hệ sinh thái. Chúng là
nguồn thức ăn cho một số nhóm động vật như: chim, rắn, ong và nhiều loài động vật
khác. Đặc biệt những nhóm nhện sống trong và trên mặt đất giữ vai trò quan trọng
trong việc chuyển hóa năng lượng trực tiếp từ mảnh vụn thức ăn bên dưới bề mặt đất
đến mạng lưới thức ăn trên bề mặt đất cho nhiều họ chim, bò sát, lưỡng cư và thú.
2.41.
Nhện có vai trò đặc biệt quan trọng trong phòng trừ tống hợp sâu hại
trên các cây trồng nông nghiệp. Theo Song D.x. và Zhu M.s. (1999) [18], so với côn
trùng ký sinh và các loài thiên địch khác nhện có nhiều ưu thế hơn. Thứ nhất, nhện có
kích thước quần thế lớn. Thứ hai, nhện là loài phàm ăn. Thứ ba, nhện xuất hiện trên
cây trồng sớm hơn các loài thiên địch khác. Thứ tư, trong điều kiện thiếu thức ăn nhện
vẫn có thể tồn tại trong thời gian dài. Thứ năm, khả năng sinh sản của nhện cao.
2.42.
Theo Foelix R.F. (1996) [15] nhện phát triển qua 3 giai đoạn là trứng,
nhện non và nhện trưởng thành. Giai đoạn nhện non có thể kéo dài từ 5 -7 tuổi tùy theo
loài. Nhện non phải qua nhiều lần lột xác mới tạo nhện trưởng thành. Nhện qua lần lột
xác cuối cùng, cơ quan sinh dục hình thành mới phân biệt được nhện đực, nhện cái rõ
ràng, về kích thước cơ thế thì nhện cái thường lớn hơn nhện đực. Vòng đời của nhện có
thời gian phát dục khác nhau tuỳ từng loài. Hầu hết con đực bị chết sau khi giao phối
do bị nhện cái ăn thịt. Tinh dịch của nhện được cất giữ tại chân xúc giác nhện đực. Sau
Nhện còn được sử dụng như chỉ thị sinh thái học để đánh giá chất lượng
môi trường sống, điến hình là nhóm nhện thuộc họ Nhện cuốn tố Clubionidae rất mẫn
cảm với các kim loại nặng như chì và kẽm (Clausen
I.
H.S., 1986) [13].
1.3.
Tình hình nghiên cún nhện (Araneae) ở Việt Nam
1.3.1.
về thành phần loài nhện
2.45.
Những loài nhện xuất hiện đầu tiên ở Việt Nam được biết đến qua các
công trình của Simon và Hogg . Tất cả các loài nhện (bao gồm 20 loài) được phát hiện
ở Việt Nam bởi 2 tác giả trên đều là loài mới cho khoa học (Zabka, 1985) [19].
2.46. Zabka (1985) [19] đã công bố kết quả chuyến khảo
sát của mình về phân loại và phân bố của họ Nhện nhảy
Salticidae ở Việt Nam. Tác giả đã ghi
2.47.
khoa học.
2.48.
2.52.
Một số công trình nghiên cứu thành phần loài nhện trên cây vải thiều đã
được công bố. Phạm Đình sắc và Vũ Quang Côn [8] đã ghi nhận được 34 loài nhện
trên cây vải thiều ở Sóc Sơn - Hà Nội, 29 loài nhện trên cây vải thiều ở Mê Linh - Vĩnh
Phúc. Thái Trần Bái và nnk (2005) [1] đã phát hiện được 33 loài nhện trên cây vải
thiều ở Thanh Hà - Hải Dương.
2.53.
Khu hệ nhện ở các vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên của Việt
Nam rất ít người được nghiên cứu. Tại vườn quốc gia Ba Be, Phạm Đình sắc (2003)
bước đầu đã công bố danh sách 82 loài thuộc 23 họ Nhện. Lần đầu tiên ở Việt Nam,
một loài nhện độc họ Theraphosidae đã được tìm thấy ở Vườn Quốc gia Tam Đảo Vĩnh Phúc và khu bảo tồn thiên nhiên Hữu Liên - Lạng Son (Phạm Đình sắc và Vũ
Quang Côn, 2005) [8].
2.54. Kết quả thống kê từ tất cả các công trình đã công bố cho thấy hiện nay
ũiháaSắc,
£uậtI Jốt JVạfiiệp
Việt Nam đã ghi nhậnPhàm,
được 5h\
320JVãunạ
loài thuộc 159 giống của 32 họ Nhện (Phạm Đình
2007).
2.55. Khi nghiên cứu nhện tại VQG Phong Nha Kẻ Bàng tỉnh Quảng Bình, tác
giả Phạm Đình sắc đã chỉ ra rằng khu hệ nhện hang động tiềm ẩn nhiều điều mới lạ,
cần khám phá (Phạm Đình sắc và cs, 2011).
2.60. Dyschỉrỉognatha tenera và Therỉdỉum octomaculatum chỉ sử dụng 4 loài rầy nâu
5h\ JVãunạ
ũiháa £uậtI
hại lúa trong phòng Phàm,
thí nghiệm
để làm thức ăn. Còn loài Myrmaracha elongata
và Jốt JVạfiiệp
Clubiona japonỉcola không ăn các loài bọ xít hại lúa.
2.61.
Tóm lại, có thế thấy rằng, các công trình nghiên cứu về thành phần loài,
đặc điểm sinh học sinh thái của nhện trên thế giới khá phong phú. Tuy nhiên, thành
phần loài nhện ở Việt Nam vẫn ít so với con số thực tế. Các nghiên cứu về sinh học,
sinh thái học và khả năng lợi dụng chúng còn rất ít.
1.4.
2.62.
Tình hình nghiên cửu nhện ở VQG Cúc Phương, tỉnh Ninh Bình.
Cho đến nay mới chỉ có một số ít công trình nghiên cứu nhện ở VQG
Cúc Phương.
2.63.
Mới đây, Phạm Đình sắc, 2015 [9] đã công bố 3 loài nhện mới cho khoa
học phát hiện ở VQG Cúc Phương, bao gồm 1 loài phát hiện trong hang Sơn Động, 1
loài ở rừng thứ sinh và 1 loài ở rừng tự nhiên.
2.64. Tuy nhiên, các nghiên cứu về thành phần loài nhện
2.68.
Thời gian còn lại chúng tôi tiến hành thu thập tài liệu, phân tích
mẫu,
2.69. xử lý số liệu và viết báo cáo.
2.3.
Địa điếm nghiên cún
2.70.
Đe tìm hiểu đặc trưng sinh thái học của nhóm nhện hoạt động trong
tầng lá rác chúng tôi tiến hành các nghiên cứu tại Vườn quốc gia Cúc Phương
- Ninh Bình. Nhện được thu ở 3 sinh cảnh: rừng tự nhiên, rừng tròng (keo tai
tượng), trảng cỏ cây bụi.
2.71.
Việc xử lý mẫu thu được từ thực địa được thực hiện trong
phòng thí
2.72.
nghiệm của phòng sinh thái động vật đất, Viện Sinh thái tài
nguyên
2.4.
sinh vật.
-
Phương pháp thu mẫu:
2.73. +) Sử dụng phương pháp thu mẫu bằng rây rác (sieving)
2.74. Đe thu các mẫu nhện trong các lớp rác bề mặt, sỏi đất vụn trên bề
mặt đất. Rây rác gồm một túi được chia làm 2 phần ngăn cách nhau bởi 1 rây lưới
làm bằng kim loại có kích thước mắt lưới khoảng 1 -2cm 2. Miệng rây rác rộng,
gắn với một vòng kim loại hoặc gỗ có cán để cố định kích thước và hình dạng của
miệng rây rác. Đáy của rây rác có dạng một cái túi mở, có dây buộc đấy thành túi.
Cho rác, đất, sỏi trên nền đất vào rây rác, lắc mạnh sao cho các nhóm động vật lẫn
trong lớp đất đá và rác rơi xuống túi bên dưới của rây rác. Các loại lá cây, đất đá
có kích thước lớn sẽ được giữ lại ở tầng trên của rây rác. Loại bỏ lớp rác tầng trên,
cho toàn bộ đất đá, rác lá vụn có lẫn động vật rơi xuống tầng dưới của rây rác vào
một tấm vải hoặc nilon trắng. Dùng panh, ống hút hoặc chổi lông để bắt nhện lẫn
trong rác vụn và giữa trong cồn 80°. Mỗi sinh cảnh chọn 5 điểm thu mẫu, các
điểm thu mẫu cách nhau trên 1 km.
2.75. +) Sử dụng phương pháp bắt trực tiếp bằng tay (Searching):
2.76. Quan sát bằng mắt thường và sử dụng các dụng cụ hỗ trợ như kẹp,
chổi lông, ống hút để thu bắt nhện
2.2.
Phàm, 5h\ JVãunạ
ũiháa £uậtI Jốt JVạfiiệp
2.77.
2.78.
2.83. một type, chứa cùng một lọ, được ghi chú thông tin giống như khi
JVãunạ
chứa trong lọ lớn thup&ạm
ngoài 5h\
thực
địa. Sau khi phân type, mỗi type được phânũiháa
tích jßu'dti Jot JVạfiiệp
đến họ và loài dựa vào các đặc điểm để nhận diện như: hình dạng, kích thước, số
lượng và cách sắp xếp mắt, chiều dài và vị trí sắp xếp các gai đặc biệt trên các
đốt chân, xúc biện nhện đực và cơ quan sinh dục nhện cái, các u hay đốm
sigillum trên mặt lưng... Các mẫu sau khi được nhận dạng tới loài được đánh số
thứ tự và ghi chú thông tin đầy đủ bao gồm thời gian, sinh cảnh, điếm thu, số
lượng, tên họ, tên giống và tên loài. Cuối cùng là tiến hành chụp ảnh để lưu trử
làm tư liệu ảnh.
-
Số liệu và các biểu đồ được xử lí và vẽ bằng phần mềm Excel 2007.
-
Các số liệu tính toán dựa trên các cơ sở sau:
* Tổng số loài (S): Tổng số loài nhện có thu được tại một điểm nghiên cứu hay một
sinh cảnh nào đó ở tất cả các đợt thu mẫu.
* Tổng số cá thể (N): Tồng số cá thể nhện thu được tại một điểm nghiên cứu hay
một sinh cảnh nào đó ở tất cả các đợt thu mẫu.
* Độ ưu thế (A) của loài được tính bằng tỷ lệ phần trăm số lượng cá thể của một
loài so với tổng số cá thể thu được tại một điểm hay một sinh cảnh nghiên cứu.
2.84. ĨLỈ
2.85. A = -—100 N
Phương (hay rừng Cúc Phương) là một khu bảo tồn thiên nhiên, khu rừng đặc
dụng nằm trên địa phận ranh giới 3 khu vực Tây Bắc, châu thổ sông Hồng và Bắc
Trung Bộ thuộc ba tỉnh: Ninh Bình, Hòa Bình, Thanh Hóa. VQG Cúc Phương
được thành lập từ năm 1962 theo quyết định 72/TTg của Thủ tướng Chính phủ đã
đánh dấu cho sự ra đời của khu bảo vệ đầu tiên của Việt Nam. Vườn quốc gia này
có hệ động thực vật phong phú đa dạng mang đặc trưng rừng mưa nhiệt đới.
Nhiều loài động thực vật có nguy cơ tuyệt chủng cao được phát hiện và bảo tồn
tại đây. Đây cũng là Vườn quốc gia đầu tiên tại Việt Nam, thành lập vào tháng
7/1962 [21].
2.90. Ranh giới của vườn được xác định lại với tổng diện tích là 22.200 ha,
trong đó 3/4 là núi đá vôi cao từ 300 đến 600m so với mặt biển, bao gồm
11. 350 ha thuộc địa giới tỉnh Ninh Bình, 5.850 ha thuộc địa giới tỉnh Thanh Hóa và
5.000 ha thuộc địa giới tỉnh Hòa Bình [21].
2.91. Vị trí địa lí: Từ 20° 14' tới 20°24' vĩ độ Bắc, 105°29' tới 105°44' kinh độ
Đông [19].
2.6.1.2.
-
Điều kiện tự nhiên
Địa hình: Cúc Phương nằm ở phía Đông nam của dãy núi Tam Điệp, một dãy núi
đá vôi chạy từ tỉnh Sơn La ở hướng Tây bắc. Dải núi đá vôi này với ưu thế là kiếu
karst tự nhiên, hình thành trong lòng đại dương cách đây khoảng 200 triệu năm.
Dãy núi này nhô lên đến độ cao 636 m tạo thành một nét địa hình nổi bật giữa
một vùng đồng bằng. Phần dãy núi đá vôi bao quanh vườn quốc gia có chiều dài
khoảng 25 km và rộng đến 10 km, ở giữa có một thung lũng chạy dọc gần hết
chiều dài của dãy núi. Địa hình karst ảnh hưởng rõ nét đến hệ thống thủy văn của
Cúc Phương [21 ].
Ninh Bình
2.93. Với đặc trưng là rừng mưa nhiệt đới, xanh quanh năm, Cúc Phương có
quần hệ động - thực vật vô cùng phong phú và đa dạng.
2.6.2.1.
về thực vật
2.94.
Với diện tích chỉ bằng 1/700 diện tích miền Bắc và gần 1/1500
diện tích của cả nước nhưng hệ thực vật Vườn quốc gia Cúc Phương chiếm tỷ lệ
76% số họ, 48,6% số chi và 30% số loài của miền Bắc và chiếm 68,9% số họ,
43,6% số chi và 24,6% số loài hiện có ở Việt Nam. Thảm thực vật Cúc Phương
với ưu thế là rừng trên núi đá vôi [21].
2.95. Rừng có thể hình thành nên nhiều tầng tán đến 5
tầng rõ rệt:
p&ạm 5h\ JVãunạ
ũiháa jßu'dti Jot JVạfiiệp