TRƯỜNG ĐẠI HỌC sư PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA NGỮ
VĂN
LƯU VĂN HẠNH
SO SÁNH TU TỪ TRONG THƠ VI
THÙY LINH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI
HỌC
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học
Người hướng dẫn khoa học
ThS. GVC LÊ KIM NHUNG
HÀ NỘI - 2015
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi nhận được sự giúp đờ
nhiệt tình và chu đáo của cô giáo Lê Kim Nhung - Giảng viên tố ngôn
Lim Văn Hạnh
Khóa luân tôt nghiệp đại học
ngữ, các thầy cô trong tố ngôn ngữ cùng toàn thế các thầy cô trong khoa Ngữ văn - Trường ĐHSP
Hà Nội 2.
Em xin chân thành cảm ơn cô giáo Lê Kim Nhung cùng toàn thể các thầy cô giáo trong khoa
đã giúp em hoàn thành tốt khóa luận này.
liệu đê nhà văn xây dựng hình tượng, tái hiện sinh động hiện thực cuộc sống
trong tác phẩm. Hơn nữa ngôn ngữ chính là chìa khóa để nhà văn thể hiện
được tư tưởng, tình cảm, thông điệp của mình trước con người và cuộc đời.
Tác giả Đinh Trọng Lạc trong cuốn “99 phương tiện và biện pháp tu từ tiếng
Việt” đã khẳng định: “Cái lcim nên kỳ diệu của ngôn ngữ chỉnh là các phương
tiện và biện pháp tu từ”.
Trong đó, so sánh là biện pháp tu từ được sử dụng nhiều nhất và có giá trị biêu
cảm lớn. Việc tìm hiêu biện pháp tu từ là một hướng tiêp cận cho thây cái hay cái đẹp của
tác phâm cũng như tài năng và phong cách riêng của người nghệ sĩ từ góc độ ngôn ngừ
nghệ thuật.
1.2 Vi Thùy Linh là một trong những nhà thơ trẻ sớm nôi tiếng và trở thành một
“hiện tượng” trong nền thi ca văn học đương đại với nhiều tập thơ hay và có
giá trị. Vi Thùy Linh xuất hiện trên văn đàn thi ca không phải dáng vẻ e ấp
của một người con gái truyền thống rụt rè, bỡ ngỡ...mà là người con gái đầy cá
tính, táo bạo, tự tin với khát khao muốn dâng hiến sức trẻ, niềm hăng say sáng
tạo của mình cho nghệ thuật.
về nội dung, thơ Vi Thùy Linh trải rộng nhiều đề tài nhưng đề tài nổi bật nhất
là viết về tình yêu và khát khao làm mẹ, nhừng nội dung đó luôn được nhà thơ làm mới,
luôn có sự cách tân thê nghiệm sáng tạo. Vê nghệ thuật, nhà thơ đã thê hiện được dấu ấn
bản ngã nghệ thuật của mình bằng việc không lựa chọn nhừng thể loại thơ truyền thống
mà sử dụng hiệu quả hình thức thơ tự do với những câu dài ngắn khác nhau, đó chính là
sự “trương nở” trong ngôn ngữ thơ Vi Thùy Linh. Trong thơ Vi Thùy Linh, độc giả rất dễ
4
Lưu Văn Hạnh
Khóa luân tốt nghiệp đại học
thượng của vãn học nước nhà. Đó là một hiện tượng trong thơ Việt Nam, cũng ỉà một
tiếng thơ lạ”. [19]
5
Lưu Văn Hạnh
Khóa luân tốt nghiệp đại học
+ Nhà văn Ngô Văn Giá gọi “Thơ Vi Thủy Linh là những trận bạo động chữ”.
Nhà văn cho rằng
Vi Thủy Linh là những trận bạo động chữ. Vâng,
dưới cái nhìn của tôi, thơ Vi Thùy Linh trong tất cả các tập thơ, ngciỵ từ tập thơ đầu tay,
cho đên tập bây giờ, môi bài thơ của Linh đêu là những cuộc bạo động chữ. Bạo động ở
tất cả các bài, trong toàn bài, trong từng câu, tững chữ. Thơ Vi Thùy Linh bời bời những
chữ, môi bài thơ là môi trận mưa lũ ngôn từ xôi xả cuồng hứng” [12]. Nhà văn ngạc
nhiên coi đó là một trận bão chữ khủng khiếp, ngôn từ trào vọt “ngùn ngụt” như đám
cháy, như băo cuốn, một thứ hỏa diệm sơn của chữ nghĩa.
+ Nhà thơ Vũ Măo trong cuốn “Đồng tử” của Vi Thùy Linh đã khăng định thơ Vi
Thùy Linh khiến tôi “Tin yêu và hi vọng”, bởi vì: “Với tập thơ này, tôi thấy có sự bứt phá
vê thi pháp và tư duy thơ. o Vi Thùy Linh, chât hiện đại và truyền thông hòa quyện.
Truỵên thống không chỉ biêu hiện vê hình thức mà truyền thông là ý thức mạnh mẽ vê nữ
tính và thiên chức của người phụ nữ Việt Nam. Trong thơ Linh, có một sức trẻ dôi dào
mạnh mẽ vươn tới cải đẹp băng sự sáng tạo độc đảo. Đây là tác giả đáng được ghi nhận
trong ỉớp nhà thơ trẻ hiện nay”. [9]
-
Linh:
+ Bài viết “Vỉ Thùy Lỉnh, nhục cảm sáng tạo” của Thụy Khuê đã nhận xét “Vi
Thùy Linh là nhà thơ của tình yêu. Tình yêu là khởi điêm trong thơ Vỉ Thuỳ Linh, tình yêu
là nguồn sáng tạo, là địa điềm xuất phát đây chữ đầu thai trong một cuộc đời mới. Môi
chữ của Linh là một đứa con, là một khai từ nở tung thành thơ, những câu thơ như những
lời kinh câu, ứa máu” [14]. Nhà thơ đă tạo ra nhục cảm sáng tạo mà tình và chữ, nhục
dục và ngôn ngữ hoà tan trong động thức tình yêu.
+ Bài viết “Vi Thùy Linh và một kiêu tư duy về lời”. Trần Thiện Khanh đă khăng
định thơ Vi Thùy Linh viết nhiều về đề tài tình yêu bởi theo Linh tình yêu là phát minh vĩ
đại nhất của loài người, tình yêu sinh ra mọi chân lí : “Mọ/ lời của Vi Thuỳ Linh đều tập
trung vào đê tài tình yêu và sự vĩnh
cửu. Ngoài tình yêu, Thuỳ
Linh không còn một cải tôi nào khác, cũng không biết
đến mộtchân lí nào hơn.
Thuỳ Linh luôn nghĩ răng trên đời này chỉ có tình yêu sinh ra chân lí, chỉ có tình yêu mới
làm rạn nứt được những lê lôi đã cũ mòn, và chỉ có tình yêu mới đem lại giá trị đích thực
cho con người cá thế ” [13].
2.2.Nghiên cứu thơ Vi Thùy Linh từ góc độ ngôn ngữ
-
Ớ góc độ lí luận ngôn ngữ, báo cáo khoa học: “Mợr so biếu tượng trong thơ Vi
Thùy Linh ” của tác giả Lê Thị Thùy Vinh (CHK18 - Lí luận ngôn ngữ) đã khẳng
định ‘'‘'Trong Thơ Vi Thủy Lỉnh đong đẩy những hình ảnh và những biêu tượng.
Nhừng biêu tượng đứng cạnh nhau và quan hệ với nhau khiên cho thơ của chị
phản ánh một loi tư duy đa phức, nhiêu chiều, loi tư duy của thơ hiện đại ” [11,
Linh chưa được quan tâm nghiên cứu một cách đầy đủ, chưa có một công trình khóa luận
nào nghiên cứu.
Trên cơ sở những gợi ý của các nhà nghiên cứu về thơ Vi Thùy Linh, chúng tôi
quyết định đi sâu vào nghiên cứu đề tài: “So sánh tu từ trong thơ Vi Thùy Linh”.
3. Mục đích nghiên cứu
-
Củng cố những vấn đề lí thuyết ngôn ngừ học
-
Làm quen với công tác nghiên cứu khoa học
-
Khẳng định những đóng góp nghệ thuật của thơ Vi Thùy Linh đối với sự phát triển
của lịch sử ngôn ngữ dân tộc.
-
Cung cấp những tư liệu cần thiết cho việc nghiên cứu học tập hiện nay, cũng như
việc giảng dạy văn học sau này.
8
Lưu Văn Hạnh
Khóa luân tốt nghiệp đại học
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
Định nghĩa biện pháp so sánh tu từ
9
Lưu Văn Hạnh
Khóa luân tốt nghiệp đại học
Khi nói đến các biện pháp tu từ trong tác phẩm văn chương chính là chúng ta nói
tới hiệu quả của biện pháp ấy đối với nội dung tư tưởng của tác phâm. So sánh là biện
pháp tu từ tiêu biêu có giá trị tạo hình và biêu cảm. Vậy so sánh là gì?
Từ điên thuật ngữ văn học (2006) định nghĩa: “So sánh ịcomparison) là phương
thức biêu đạt ngôn từ một cách hình tượng dựa trên cơ sở đôi chiếu hai hiện tượng có
những dâu hiệu tương đông nhăm làm nôi bật đặc điêm, thuộc tính của đoi tượng kia ”
[10, tr.32]
PGS. TS. Đinh Trọng Lạc trong “Phong cách học tiếng Việt” định nghĩa như
sau:
“So sảnh là phương thức diên đạt tu từ khỉ đem sự vật này đôi chiêu với sự vật
khác miên là hai sự vật có một nét tương đông nào đó đê gợi ra hình ảnh cụ thê, những
cảm xúc thâm mĩ trong nhận thức của người đọc, người nghe.” (Đinh Trọng Lạc, 1997)
[1, tr. 190].
GS. Cù Đình Tú trong cuốn “Phong cách học và đặc điếm tu từ tiếng Việt” có viết:
“So sánh tu từ là cách công khai nhiều đổi tirợng cùng một dấu hiệu chung nào
đấy (nét giông nhau) nhăm diên tả một cách hình ảnh đặc điềm của đôi tượng ” [3, tr.44].
Ngoài ra, so sánh tu từ còn được định nghĩa: “So sánh là sự đoi chiếu hai đoi
tượng cùng có một dâu hiệu chung nào đây nhăm biêu hiện một cách hình tượng của một
trong hai đôi tượng đó” [3].
1.1.2.
Cơ chế tạo thành biện pháp so sánh tu từ
Một phép so sánh đúng đắn nhất bao giờ cũng phải thỏa mãn những điều kiện sau:
- Phải có 2 vế: vế A (sự vật so sánh), vế B (sự vật dùng đe so sánh)
- Đối tượng đưa ra so sánh là khác loại.
- Giữa hai đối tượng phải có nét tương đồng đế so sánh.
Theo PGS. TS. Đinh Trọng Lạc trong “99 phương tiện và biện pháp tu từ tiếng
Việt” [2] và Nguyễn Thế Lịch trong cuốn: “Yeu tố cơ sở so sánh trong cấu trúc so sánh
nghệ thuật” đều đồng nhất quan điểm cho rằng mô hình cấu tạo so sánh hoàn chỉnh bao
gồm 4 yếu tố: “AxtssB”:
-Yeu tố 1: Yeu tố được hoặc bị so sánh tùy theo so sánh tích cực hoặc tiêu cực (A)
- Yeu tố 2: Yeu tố biêu thị thuộc tính sự vật, nêu rõ phương diện so sánh (x)
- Yeu tố 3: Yeu tố thế hiện quan hệ so sánh (tss)
- Yêu tô 4: Yêu tô được đưa ra làm chuân đê so sánh (B)
Nhưng trên thực tế, nhiều mô hình chung “AxtssB” không có đầy đủ cả bốn yêu tô
trên, chính vì vậy mà biện pháp so sánh chia ra làm hai loại: So sánh tu từ nôi và so sánh
tu từ chìm.
- So sánh tu từ nôi
Đây là loại mô hình so sánh hoàn chỉnh. Nét tương đồng, cơ sở của sự so sánh
được thế hiện ra bằng những từ ngữ cụ thê mà người đọc và người nghe dễ nhận thấy.
Ví dụ:
“Tiếng suối trong như tiếng hát xa”
1
1
Lưu Văn Hạnh
Yếu tố 3 là từ hô ứng “bao nhiêu...bấy nhiêu”
-
Yếu tố 3 là từ “là”
Nêu thay từ là băng từ như thì nội dung cơ bản không thay đôi chỉ thay đôi về sắc
thái ý nghĩa sắc thái khắng định chuyên sang giả định.
Theo giáo trình “Phong cách học tiếng Việt” do Đinh Trọng Lạc chủ biên [1 ], so
sánh tu từ được phân chia theo các hình thức sau:
-
Hình thức đầy đủ gồm bốn yếu tố của phép so sánh tu từ
-
Đảo trật tự so sánh
1
2
Lưu Văn Hạnh
Khóa luân tốt nghiệp đại học
-
Bớt cơ sở , thuộc tính so sánh
Biện pháp tu từ so sánh là một hình thức biêu hiện đơn giản nhất của lời nói hình
ảnh. Gô-lúp khăng định: “Hầu như bất kì sự biêu đạt nào cũng có thê chuyến thành hình
thức so sánh(Đinh Trọng Lạc, 2003). [2, tr.16]
Pao-lơ đã tông kết: “Sức mạnh của so sánh là nhận thức”. [1, tr.37]
Dựa vào so sánh, chúng ta có thê hiếu một cách sâu sắc và toàn diện về sự vật, sự
việc. So sánh tu từ làm tăng thêm tính gợi hình ảnh và tính biểu cảm cho câu văn, câu
thơ. Đồng thời, so sánh cũng là một biện pháp đế giúp chúng ta bày tỏ lòng yêu ghét,
khen chê thái độ khăng định hoặc phủ định đối với sự vật.
1.2.Tho' và đặc trưng của ngôn ngữ tho'
1.2.1.
Khái niệm
Từ điên thuật ngữ văn học định nghĩa: ‘T/zơ’ là hình thức sảng tác văn học phản
ánh cuộc sông, thê hiện những tâm trạng, những cảm xúc mạnh mẽ băng ngôn ngữ hàm
súc, giàu hình ảnh và nhât là có nhịp điệu”. [10, tr.12]
1.2.2.
Đặc trung
1
3
Lưu Văn Hạnh
-
Khóa luân tốt nghiệp đại học
Ngôn ngữ thơ là ngôn ngữ bão hòa cảm xúc
đế thể hiện sự gắn bó và nỗi thương nhớ của nhân dân Việt Bắc với những người cán bộ
cách mạng.
Cùng với sự phát triển của thời đại thì ngôn ngữ cùng có sự cách tân, sáng tạo bằng
cách sử dụng ngôn ngữ, bằng cách lấy thi liệu, chất liệu ngôn từ của đời sống hằng ngày.
1
4
Lưu Văn Hạnh
Khóa luân tốt nghiệp đại học
- Ngôn ngữ thơ hàm súc, đa nghĩa và cỏ tính hình tượng.
Khi xây dựng các biêu tượng thơ, nhà thơ thường sử dụng các biện pháp tu từ như
ân dụ, hoán dụ.... Nhờ đó ngôn ngữ thơ có tính hàm súc, có tính hình tượng. Thơ thường
thế hiện cuộc sống bằng các hình tượng và các hình ảnh có tính tượng trưng.
Ví dụ:
“Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ
Mặt trời chân lý chói qua tim ”
(Từ ấy)
Hình ảnh “mặt trời” trong thơ Tố Hữu tượng trưng cho Đảng, cách mạng.
Ngôn ngừ thơ không có tính liên tục, tính hình tuyến như văn xuôi mà có những
bước nhảy vọt, gián đoạn, tạo thành khoảng lặng giàu ỷ nghĩa. Những khoảng lặng đó
dành cho sự tưởng tượng của người đọc, nó làm cho thơ có tính hàm súc và tính đa nghĩa
hơn.
- Ngôn ngữ thơ giàu nhạc tính
Nhạc của thơ bao gồm nhạc bên ngoài và nhạc bên trong. Nhạc bên trong là nhạc
của tâm trạng, tình cảm, cảm xúc của nhà thơ. Nhạc bên ngoài là nhạc của câu chữ, tô
chức các nhịp điệu, tiết tấu ngữ âm...
điệu” đã quá già, mà nhừng người đến với thi ca bằng một tấm lòng trẻ chưa thật nhiều.
Vì thế Vi Thùy Linh đã từ chối không vin dựa vào truyền thống, không sống không viết
kiêu bầy đàn. Nhưng nữ thi sĩ cũng không the làm thay đổi cái bản thê đích thực của
mình, đê trở thành một
người rụtrè trước những cái đã
thành “phong tục”. Thùy Linh “dám mới”, thậm chí sốt sắng cải
tạo tinh thầncủa
thi ca.
Trong khoảng hơn chục năm miệt mài lao động sáng tạo,Vi Thùy Linh đã nhanh
chóng tạo dựng của mình với một khối lượng tác phấm nhiều và có giá trị.
Năm 1995, Vi Thùy Linh đăng in bài thơ đầu tay của mình trên báo Tiền phong.
Năm 1999, nhà xuất bản Hội Nhà văn cho in tập “Khát”. Nguyễn Trọng Tạo khi viết lời
tựa cho tập thơ đó, đã quả quyết mạnh mẽ: Vi Thùy Linh đi vào thơ hiện đại bằng “Con
ngựa chữ dậy thì”. Năm 2000 nhà xuất bản Thanh niên ấn hành tập “Linh”. Khoảng 5
năm sau, Vi Thùy Linh công bố tập thơ “Đồng Tử”, tập này được nhà thơ Vũ Mão viết lời
giới thiệu. Năm 2008, tập thơ song ngữ đầu tiên của Linh ra đời. Đợi đến khi “ViLi in
love” hiện diện. Vi Thùy Linh bất ngờ sẽ tuyên bố tạm dừng thơ, chuyển sang viết tùy bút
và văn xuôi. Rồi bất ngờ, năm 2010, Vi Thùy Linh cho ra tập thơ “Phim đôi- tình tự
chậm”. Đây là một cuốn sách “đẹp nhất Việt Nam hiện nay”. Tháng 8 năm 2011, tập thơ
“Chu du cùng ông nội”, tập thơ cuối cùng của Vi Thùy Linh được xuất bản. Khi tạm dừng
thơ, Vi Thùy Linh đã trải nghiệm với thế loại tùy bút và cuối cùng đã viết thành công tùy
bút “//ợ chiểu tâm hồn”. Đây là tác phấm văn xuôi đầu tiên của Vi Thùy Linh, xuất bản
tại nhà xuất bản Kim Đồng.
Tóm lại, cho đến thời điếm này, Linh đã sáng tác trên 2000 bài thơ. Có thế nói, Vi
Thùy Linh là một trong những gương mặt thơ thê hệ trẻ, với niêm sáng tạo nghệ thuật
mới.
Trải qua bao biến thiên của lịch sử, ngôn ngữ cũng có những biến đổi và phát
triển. Các nhà thơ hôm nay đang cố gắng tạo ra giá trị mới cho ngôn ngữ. Ám ảnh thường
trực về giới hạn của ngôn ngữ, về nguy cơ cạn kiệt, bị xói mòn của các biếu tượng, các
yếu tố ngữ nghĩa, ngừ pháp. Là một người có ý thức lao động nghệ thuật chuyên nghiệp,
với tri thức và trí tuệ, Vi Thùy Linh luôn tích cực chủ động chống lại sự xáo mòn, khuôn
sáo của từ ngừ, dụng công tìm cách sắp xếp cho từ, bố trí chữ nhằm tạo ra nghĩa mới cho
từ:
“Em là người dệt tầm gai...
1
7
Lưu Văn Hạnh
Khóa luân tốt nghiệp đại học
Em nhẫn nại chắt chiu từng niềm vui
Nhưng lại gặp rât nhiêu nôi khô.”
(Người dệt tầm gai)
“Người dệt tầm gai” là hình ảnh biêu tượng mang dấu ấn sáng tạo trong thơ Vi
Thùy Linh
- Ngôn ngữ mang tính dục
Nhà phê bình Vương Trí Nhàn trong bài viết diễn đàn Vietnam. Net có khẳng định,
đối với những nhà văn tài năng thì: “ Những trang liên quan tới sex ỉà một phân lcim nên
giá trị vãn chương của họ, và quả thật chỉ băng cách đó mới biêu hiện tư tưởng cao đẹp...
và bởi tính dục là một nhu câu tự nhiên của con người thì việc quan tâm tới nó cũng là tự
nhiên. Ngôn ngữ mang tính dục, tức là ngôn ngữ truyên tải được nhu câu về thê xác lân
tinh thần của con người”. Ngôn ngữ mang tính dục thường là các tính từ, động từ. Trong
Lưu Văn Hạnh
So sánh
Khóa luân tốt nghiệp đại học
1
A như B
136
51,32
2
A như B l5 B 2 ...B n
7
2,65
3
A là B
47
17,73
4
1
A không là B
2
0,75
2
A hơn B
9
3,40
265
100 %
ngang băng
So sánh
không ngang
bằng
Tổng
2.2.Miêu tả kết quả thống kê, phân loại
2.2.1.
{Say nắng)
Ví dụ 2:
“Nơi em ở là phía ngày năng tắt Nồi buồn
nhiều như gió Em ước thả được lên trời như
bóng bay Gió vẫn thổi buồn phiền không mất
nổi...”
{Từ phía ngày năng tăt)
-
Mô hình “A như B” khuyết thiếu (So sánh tu từ chìm).
Ví dụ 1:
“Sót một tiếng kèn
Mắt như lá úa
Anh đừng xa nữa Đường
mờ lòng tay”
{Nhật thực)
Ví dụ 2:
“Em như mùa thu đi Lá vàng theo
lối tóc Anh mong đến xuân gần
nhất Mưa mọc theo đường cây”
(Cẩu giấu)
2.2.7.2.
Mô hình “A như BI B?...B n ”
Với mô hình so sánh này, chúng tôi thống kê được 7/265 phiếu, chiếm 2,65%. Đây
là mô hình, so sánh một đối tượng nêu ở vế A với nhiều đối tượng được nêu ở vế B, làm
2
“Cúi nhìn tình yêu cựa mình thanh thản
Chỉ thây khỏi mưa là hơi thở anh”
(Soi mưa)
Ví dụ 2:
“Em là người dệt tâm gai Em nhẫn lại
chắt chiu từng niềm vui Nhưng lại gặp
rất nhiều nỗi khô Truân chuyên đè lên
thanh thản Ôi trái ngược những sợi tầm
gai”
2
1
Lưu Văn Hạnh
Khóa luân tốt nghiệp đại học
{Người dệt tầm gai)
2.2.1.4.
Mô hình “A là Bị B 2 ...B n ”
Cũng giống như mô hình “A như B”, ở mô hình “A là B”, chúng tôi nhận thấy
trong đó có một vế A so sánh với nhiều vế B. vế B được triển khai bằng nhiều cách, do
vậy càng làm cho vế B trở nên sinh động, bất ngờ, gợi mở trí tưởng tượng của người đọc
và mang dấu ấn phong cách của người sáng tác. Ớ mô hình này, chúng tôi thống kê được
4/265 phiếu, chiếm 1,50%.
Ví dụ 1:
“Anh mang sức mạnh của thần rudra, thần Kala, thần sambu Anh
Khóa luân tốt nghiệp đại học
(Sài gòn nghiêng)
Ví dụ 2:
“Con
Động lực sông nguồn sáng tạo của mẹ cha Là
thế giới mới”
(Cảm ơn con)
.2.1.6. Mô hình “Như BA ”
Đây là dạng biến thê của mô hình “AxtssB”. Thông thường, ở phép so sánh
“AxtssB”, vế A được đặt lên đầu, tiếp đến là từ so sánh rồi đến vế B. Nhưng ở phép so
sánh này, từ “như” có chức năng làm công cụ so sánh đă được đưa lên đầu, sau đó là vế B
rồi mới đến vế A. Mô hình so sánh này tạo nên sự liên tưởng bất ngờ, thú vị. Chúng tôi
khảo sát thống kê được 8 phiếu, chiếm 3,02%.
Ví dụ 1:
“Như người đàn bà đợi Vươn
tay
Chới với gọi Lá
hừng hực đỏ Cây mọc trước nhà
em- tu viện Cây- nữ- tu”
(Nữ tu)
Ví dụ 2:
“Em loãng vào anh trong chiêm bao chưa rõ Một
thanh âm dồn lại trong nghẹn ngào không thốt
Như vừa hôm, em còn bên anh”
(Cất cánh)
2.2.1.7. Mô hình “A bằng B ”
Mô hình so sánh “A bằng B” là cách so sánh hai sự vật có tính chất hai bằng
nhau. Kiêu mô hình này, chúng tôi thống kê được 25 phiếu, chiếm 9,45%.
Ví dụ:
Neu ở mô hình “A không là B”, thì vế A không là, không đồng nhất với vế
B, khác vế B thì ở mô hình so sánh “A hơn B” thì vế A lại được so sánh nôi trội hơn
vế B.
Ớ loại này, chúng tôi đã thống kê được 9 phiếu, tương ứng với 3,4%.
Ví dụ:
“Anh yêu của em Em yêu
anh cuồng điên Yêu đến
tan cả em ra Ào tung kí ức
Ngày dài hơn mùa ”
ịNgitời dệt tầm gai)
2.3.Nhận xét SO' bộ kết quả khảo sát, thống kê, phân loại
Qua thống kê chúng tôi nhận thấy tỉ lệ so sánh tu từ xuất hiện trong cả 3 tập thơ là
khá cao. Điều này cho thấy rằng, nhà thơ sử dụng khá nhiều biện pháp so sánh tu từ trong
việc diễn đạt lời thơ, ý thơ đê bày tỏ quan điêm của mình.
Các mô hình so sánh được Vi Thùy Linh sử dụng đa dạng, phong phú, có mặt ở
hầu hết các mô hình so sánh. Trong đó mô hình so sánh ngang bằng được sử dụng nhiều
nhất, chiếm 95,84%. Đây là kiêu so sánh dễ sử dụng và mang lại hiệu quả cao. Kiểu so
2
4
Lưu Văn Hạnh
Khóa luân tốt nghiệp đại học
sánh này được chia thành các mô hình nhỏ. Trong đó mô hình “A như B” chiếm đa số
phiếu với 136 phiếu, tiếp theo là mô hình so sánh “A là B” chiếm 47 phiếu, chiếm
17,73%. Các mô hình còn lại chiếm tỉ ]ệ phần trăm không quá chênh lệch nhau, tuy nhiên
Nhân vật em được nhà thơ ví như một vùng đất mới cho ta thấy vẻ đẹp của người con gái
hiện lên hết sức giản dị, đời thường nhưng tràn trề sức sống. Đó là vẻ đẹp hết sức tự
nhiên, thơ mộng, cần được đối phương khám phá, chiếm lĩnh và chinh phục. Qua việc so
sánh này, người đọc có thê hình dung được đây là một cô gái xinh đẹp, cái đẹp của sự
tươi non, mới lạ căng tràn sức sống.
2
5