TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
--------------------
LÊ THỊ PHƢƠNG
THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT TRONG
BẢO NINH – NHỮNG TRUYỆN NGẮN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Hà Nội – 2015
LỜI CẢM ƠN
Trước tiên, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến cô giáo, ThS. Dương Thị
Thúy Hằng, người đã tận tình chỉ bảo giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu
đề tài: Thế giới nghệ thuật trong Bảo Ninh - những truyện ngắn.
Tôi cũng chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo trong Khoa Ngữ Văn,
đặc biệt là các thầy cô trong Tổ Văn học Việt Nam đã giúp đỡ tôi trong quá
trình học tập và hoàn thành khóa luận này.
Hà Nội, tháng 05 năm 2015
Sinh viên
Lê Thị Phƣơng
LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan những nội dung tôi trình bày trong khóa luận là kết quả
quá trình nghiên cứu của bản thân tôi dưới sự hướng dẫn của ThS. Dương Thị
Thúy Hằng, kết quả nêu trong này là hoàn toàn trung thực và chưa từng được
CHƢƠNG 2. HIỆN THỰC CUỘC SỐNG VÀ HÌNH TƢỢNG CON
NGƢỜI TRONG BẢO NINH - NHỮNG TRUYỆN NGẮN ...................... 12
2.1. Hiện thực chiến tranh bi tráng, dữ dội.................................................... 12
2.1.1. Một thế hệ người Việt Nam anh hùng thời kỳ kháng chiến chống Mỹ
cứu nước ...................................................................................................... 12
2.1.2. Chiến tranh tàn khốc, hủy diệt ............................................................ 15
2.2. Hiện thực hậu chiến đói nghèo, lạc hậu ................................................. 18
2.3. Con người trong Bảo Ninh - những truyện ngắn .................................... 21
2.3.1. Hình tượng người lính ........................................................................ 21
2.3.2. Hình tượng người phụ nữ ................................................................... 30
2.3.3. Hình tượng người trí thức, nghệ sĩ...................................................... 34
CHƢƠNG 3. MỘT SỐ YẾU TỐ HÌNH THỨC NGHỆ THUẬT TRONG
BẢO NINH - NHỮNG TRUYỆN NGẮN.................................................... 36
3.1. Kết cấu dòng ý thức ............................................................................... 36
3.2. Giọng điệu trần thuật ............................................................................. 38
3.2.1. Giọng ngậm ngùi buồn thương ........................................................... 39
3.2.2. Giọng mỉa mai chua xót...................................................................... 40
3.2.3. Giọng tra vấn ..................................................................................... 41
3.3. Ngôn ngữ............................................................................................... 43
3.3.1. Ngôn ngữ mang màu sắc triết lí .......................................................... 44
3.3.2. Ngôn ngữ đậm tính hiện thực.............................................................. 46
3.3.3. Ngôn ngữ giàu chất thơ ...................................................................... 46
3.4. Thời gian và không gian nghệ thuật ....................................................... 47
3.4.1. Thời gian nghệ thuật........................................................................... 48
3.4.2. Không gian nghệ thuật........................................................................ 51
KẾT LUẬN ................................................................................................. 56
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1
truyện ngắn là một trong những thể loại đi đầu. Truyện ngắn có khả năng
trong việc thể hiện quan niệm nghệ thuật của nhà văn. Do dung lượng nhỏ,
nắm bắt được những nét bản chất nhất của cuộc sống… nên truyện ngắn
chuyển tải những vấn đề của thời đại, con người một cách chính xác, nhạy
bén. Cũng chính điều này đã khiến truyện ngắn trở thành thể loại cho phép
nhà văn thử nghiệm và triển khai những khía cạnh mới mẻ, linh hoạt trong
quan niệm nghệ thuật. Tìm hiểu Bảo Ninh - những truyện ngắn sẽ phần nào
cho chúng ta thấy những thành tựu to lớn về những sáng tạo và đổi mới ở bút
pháp Bảo Ninh góp phần khẳng định giá trị truyện ngắn cũng như vai trò của
Bảo Ninh trong những đổi mới của văn xuôi Việt Nam đương đại. Với những
lí do cơ bản như vậy, chúng tôi quyết định lựa chọn đề tài: Thế giới nghệ
thuật trong Bảo Ninh - những truyện ngắn.
2. Lịch sử vấn đề
Bảo Ninh là một trong số những nhà văn viết về đề tài chiến tranh có
đóng góp trong cách nhìn về đề tài chiến tranh trong văn học hậu chiến. Đề tài
chiến tranh được Bảo Ninh thể hiện trong hai thể loại: truyện ngắn và tiểu
thuyết. Tuy nhiên, những bài viết, công trình tìm hiểu về Bảo Ninh ở phương
diện truyện ngắn còn khá ít ỏi và nhỏ lẻ.
Trong Văn học Việt Nam thế kỉ XX, Bùi Việt Thắng đã khẳng định Bảo
Ninh là một trong những nhà văn có duyên với truyện ngắn, và là cây bút gây
ấn tượng mạnh với người đọc [4, 337].
Tác giả Waynekarlin trong lời giới thiệu cho tuyển tập truyện ngắn
Tình yêu sau chiến tranh nhận thấy truyện ngắn Bí ẩn của làn nước của Bảo
Ninh: “in dấu niềm khao khát tình yêu” [26, 12], “đối diện trực tiếp với hậu
quả chiến tranh, những bậc cha mẹ bị mất con” [26, 14].
Giáo sư Mai Quốc Liên khi nhận xét về cuốn sách Bảo Ninh - tác phẩm
chọn lọc cho rằng: “Đã lâu lắm, tôi mới đọc được một tập truyện hay như thế.
trong tập truyện.
3
Khẳng định những đặc sắc về nội dung và nghệ thuật cũng như cá tính
sáng tạo của nhà văn và đóng góp của ông trong nền văn học đương đại.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
Khóa luận đặt ra nhiệm vụ đi tìm hiểu hiện thực cuộc sống, hình tượng
con người và một số yếu tố hình thức nghệ thuật trong Bảo Ninh - những
truyện ngắn. Từ đó khẳng định vai trò và những đóng góp của nhà văn Bảo
Ninh trong dòng chảy văn học đương đại.
5. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung vào nghiên cứu thế giới nghệ thuật trong tập Bảo
Ninh - những truyện ngắn.
Phạm vi nghiên cứu là các truyện ngắn trong tập truyện Bảo
Ninh - những truyện ngắn.
Đối chiếu so sánh với tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh của cùng tác giả
ở những vấn đề liên quan và một số truyện ngắn của các tác giả khác.
6. Phƣơng pháp nghiên cứu
Để hoàn thành đề tài trong quá trình nghiên cứu chúng tôi đã sử dụng
các phương pháp sau:
- Phương pháp thống kê phân loại
- Phương pháp phân tích
- Phương pháp so sánh - đối chiếu
- Phương pháp khái quát tổng hợp
7. Dự kiến đóng góp của đề tài
Khóa luận góp phần làm rõ thế giới nghệ thuật trong Bảo Ninh - những
truyện ngắn từ đó khẳng định những đóng góp của Bảo Ninh trong nền văn
học đương đại.
vấn đề mới nảy sinh, mang vẻ mới lạ, điều mà trước đây do nhiều nguyên cớ
chưa phản ánh được, hay đúng hơn chưa có điều kiện suy ngẫm. Bởi vậy văn
xuôi thời kì này mạnh bạo, nói thật, ý thức cảnh cáo, dự báo rõ ràng.
Trong xu thế đổi mới của văn xuôi đương đại, những tác phẩm viết về
chiến tranh từ cái nhìn hậu chiến đã có những thay đổi căn bản. Từ vai trò là
cổ vũ cho chiến đấu vì lí tưởng cao đẹp, giờ đây khi thắng lợi thuộc về dân ta,
nhà văn trở thành người đào sâu trực tiếp vào hiện thực cuộc sống để trình
bày, phát hiện mọi mặt của nó. Nếu như chất giọng sử thi tràn ngập trong
những tác phẩm văn học trước 1975 thì sau đổi mới chất giọng ấy đã dần ít
hơn. Văn xuôi viết về chiến tranh thời kì hậu chiến có thêm những chất giọng
mới: từ giọng điệu thâm trầm, khắc khoải trong Họ đã trở thành đàn ông
(Phạm Ngọc Tiến), Cỏ lau, Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành (Nguyễn
6
Minh Châu) đến chất giọng xót xa trong Xưa kia chị đẹp nhất làng (Tạ Duy
Anh), Người sót lại của rừng cười (Võ Thị Hảo) hay giọng triết lí, tra vấn…
Văn học không chỉ tập trung nói về những niềm vui, sự lạc quan tin tưởng mà
còn nói cả những mất mát đau thương.
Như vậy văn xuôi Việt Nam sau 1986 đã có những bước phát triển vượt
bậc và mạnh mẽ, chứng tỏ sức sống mãnh liệt và sức cách tân không ngừng để
tạo nên sự phù hợp với thời đại mới. Và một trong số những nhà văn có đóng
góp to lớn cho sự nghiệp ấy là nhà văn Bảo Ninh với những cách tân, sáng tạo
trong sáng tác của mình.
1.2. Bảo Ninh - Tiểu sử - Hành trình sáng tác
1.2.1. Tiểu sử
Bảo Ninh tên khai sinh là Hoàng Ấu Phương, sinh ngày 18/10/1952 tại
huyện Diễn Châu, Nghệ An; quê gốc ở xã Bảo Ninh, huyện Quảng Ninh, tỉnh
Quảng Bình. Nhưng ông lớn lên và sống ở Hà Nội từ năm 1954. Sinh ra trong
được viết về nó, với Bảo Ninh như một mối nợ, một niềm hạnh phúc, viết
bằng tất cả sự say mê, bằng cả tấm lòng của một người lính đã trải nghiệm sâu
sắc về giá trị của cuộc chiến hôm qua.
Trong sự nghiệp văn chương của mình, Bảo Ninh sáng tác chủ yếu ở
hai thể loại: tiểu thuyết và truyện ngắn. Về tiểu thuyết, Bảo Ninh sáng tác đến
giờ mới có một cuốn duy nhất Nỗi buồn chiến tranh hay Thân phận của tình
yêu. Cuốn tiểu thuyết được in lần đầu năm 1987 với tên Thân phận của tình
yêu, đến năm 1991 cuốn tiểu thuyết được tặng giải thưởng Hội Nhà văn Việt
Nam, cuốn tiểu thuyết được bạn đọc đón đợi nồng nhiệt. Đó là câu chuyện
một người lính tên Kiên, đan xen giữa hiện tại hậu chiến với hai luồng hồi ức
về chiến tranh và về mối tình đầu với cô bạn tên Phương. Khác với những tác
phẩm trước đó mang tính sử thi, miêu tả chiến tranh từ góc độ cộng đồng
hùng tâm tráng chí c ủa người lính chiến đấu vì vận mệnh dân tộc, Bảo Ninh
đã miêu tả chiến tranh ở góc độ khác, góc độ cá nhân, thân phận con người, đi
8
sâu vào nỗi niềm cá nhân. Cuốn tiểu thuyết được giới nghiên cứu đánh giá rất
cao. Chính vì được đánh giá cao như thế nên cuốn sách được dịch ra nhiều
thứ tiếng khác nhau. Lần đầu được dịch ra tiếng Anh với tựa đề “The sorrow
of war” xuất bản năm 1994. Năm 2005 tiểu thuyết được tái bản với nhan đề
ban đầu Thân phận của tình yêu, năm 2006 tái bản với nhan đề Nỗi buồn
chiến tranh. Đến năm 2008 cuốn tiểu thuyết này, đã được chuyển ngữ và giới
thiệu ở 18 quốc gia trên thế giới.
Bên cạnh đó, Bảo Ninh sáng tác chủ yếu là truyện ngắn, bạn đọc biết
đến Bảo Ninh từ tập truyện đầu tay Trại “bảy chú lùn” xuất bản năm 1987.
Năm 2002, Nhà xuất bản Công an nhân dân ấn hành cuốn Truyện ngắn Bảo
Ninh. Năm 2003 Nhà xuất bản Văn hóa thông tin xuất bản cuốn Hà Nội lúc
không giờ. Năm 2005 Nhà xuất bản Văn học xuất bản cuốn Lan man trong
viết ở nhiều thời điểm, trải dài từ những năm 1980 - 1990 của thế kỷ trước vắt
sang đầu thế kỷ này. Bối cảnh truyện ngắn của Bảo Ninh trải rộng nhưng hai
mảng đậm đặc nhất, dễ nhận thấy nhất là những câu chuyện chiến tranh, hậu
chiến và Hà Nội.
Mục đích cuối cùng của Bảo Ninh qua những trang văn trong tuyển tập
này chính là vấn đề thân phận con người với những mối quan hệ tình cảm
phức tạp. Ðiều ấy cũng trùng khít với quan niệm văn chương của Bảo Ninh:
“Nghề văn là nghề chuyên nghiệp về sự ngẫm nghĩ. Nhà văn tự xem mình là
kẻ có khả năng, có trách nhiệm và có ham thú đúc kết nhân tình thế thái đặng
tìm ra cho bản thân mình và bạn đọc của mình những giá trị, những ý nghĩa
vừa cố định vừa đổi thay không ngừng của đời sống con người, một đời sống
tuy ngắn ngủi và khá là ảm đạm, nhiều buồn đau và bất hạnh, song lại cũng
hàm chứa vô cùng tận những lẽ đời đáng sống, những giá trị cao quý, những
vẻ đẹp tuyệt vời, hạnh phúc và niềm vui”.
10
Những câu chuyện được kể bằng giọng điềm đạm, chậm, từng từ từng
chữ tinh tế, ăm ắp hình ảnh và mùi hương của kỉ niệm. Nhiều đoạn văn như
thơ. Đọc to lên sẽ cảm nhận được rõ ràng những xót xa ẩn giấu, hay tình
người cảm động, qua kí ức về chiến tranh và sau đó, về tình yêu, về những
đau khổ, cay đắng hay hạnh phúc tột cùng của con người trong những năm
tháng ấy.
Có thể nói, Bảo Ninh - những truyện ngắn là một tập truyện xuất sắc
của văn học thời kì đổi mới. Tập truyện đã giúp Bảo Ninh tiếp tục khẳng định
tên tuổi, tài năng của mình trên văn đàn văn học đương đại, đồng thời nhấn
mạnh một lần nữa những giá trị nhân văn mà Bảo Ninh theo đuổi.
11
12
tiếp chiến đấu, giết kẻ thù mà là cung cấp lương thực làm hậu cần cho quân
ta. Một nhiệm vụ tưởng như đơn giản nhưng lại vất vả khó khăn vô cùng. Họ
phải sống nơi rừng núi hoang vắng, phải chiến đấu với thú rừng và phải chịu
một nỗi “cô độc đến kinh người”. “Nhưng có sao đâu điều đó. Chúng tôi là
lính B3 mà. Chúng tôi chỉ biết làm lụng cật lực để có lương thực, lương thực
thật nhiều, không phải cho bản thân mình mà cho anh em đồng đội đang
chiến đấu ở những đâu đó xa tít mù tắp bên kia đại ngàn” [17, 124]. Mặc dù
phải làm lụng vất vả, đối mặt với muôn vàn khó khăn, gian khổ nhưng họ vẫn
thản nhiên bởi trong lòng họ không gì lớn hơn độc lập tự do của dân tộc. Gian
khổ ấy chỉ là một phần nhỏ bé so với những gì dân tộc đang phải chịu đựng.
Trại “bảy chú lùn” đã cho thấy cái nhìn toàn diện hơn về những người lính
hậu cần, những hi sinh của họ cho đất nước. Tuy không trực tiếp cầm súng
đánh giặc như những người lính khác trên chiến trường nhưng họ lại đóng
một vai trò quan trọng làm nên thành công cho cuộc chiến. Việc làm của họ
tuy thầm lặng nhưng vô cùng quí giá đối với sự nghiệp chung của cách mạng.
Mộc và những con người nơi đây thực sự là những con người lí tưởng dấn
thân cho sự nghiệp chung. Những con người cá nhân vẫn sống chiến đấu vì lí
tưởng cộng đồng. Họ là những người tượng trưng cho lí tưởng dân tộc, chiến
đấu vì quê hương tổ quốc.
Trong Hỏa điểm cuối cùng đó không còn là hình ảnh những người lính
hậu cần cung cấp quân lương nữa mà là hình ảnh những người lính thực
chiến, một khẩu đội cao xạ trong cuộc chiến với địch tại một cao điểm. Cuộc
tấn công diễn ra ác liệt từ trung đội trưởng Thoan đến trung đội phó Vân với
non nửa tiểu đội đều hi sinh. Cả tiểu đội chỉ còn vài người mặc dù vậy họ vẫn
anh dũng chiến đấu quyết không bỏ cuộc. Có thể nói sự quả cảm của tiểu đội
ấy cũng chính là tinh thần anh dũng của cả dân tộc ta trong những năm tháng
kháng chiến chống Mỹ gian khổ. Tuy khó khăn nhưng luôn cố gắng vững
người lính mang trong mình phẩm chất tốt đẹp của người lính cụ Hồ. Là đại
14
diện cho cả một thế hệ người Việt Nam anh hùng trong kháng chiến chống
Mỹ cứu nước. Mặc dù viết về những người anh hùng nhưng truyện của Bảo
Ninh không vang vọng âm hưởng sử thi hoành tráng. Truyện của ông tập
trung vào những lát cắt nhạy cảm, thâm trầm từ đó làm bật lên phẩm chất
đáng quý, đáng trân trọng.
2.1.2. Chiến tranh tàn khốc, hủy diệt
Được trở về, được sống trong hòa bình để nhìn lại cuộc chiến đấu mà
cá nhân Bảo Ninh và thời đại ông đã vừa đi qua, nhà văn mang một cái nhìn
mới, từng trải và hiện thực hơn. Nếu như chiến tranh trước đây được viết
trong khói lửa, bom đạn chiến tranh, viết theo yêu cầu của hoàn cảnh, theo
quan điểm ta phải thắng mà chưa phơi bày được những mặt trái còn khuất lấp
của chiến tranh thì bây giờ chiến tranh được viết trong thời hậu chiến đã được
nhận thức lại. Chiến tranh không chỉ có anh hùng mà đó còn khủng khiếp hơn
tàn khốc và hủy diệt. Nó đã để lại nỗi đau cả về thể xác lẫn tinh thần cho con
người không chỉ một thế hệ mà nhiều thế hệ về sau nữa.
Đây không phải là lần đầu tiên Bảo Ninh nói đến sự tàn bạo, khốc liệt,
hủy diệt của chiến tranh. Điều đó đã được nhà văn nói đến ngay trong tiểu
thuyết đầu tay của mình Nỗi buồn chiến tranh tác phẩm đã mang lại tên tuổi
và thành công cho nhà văn. Hiện thực chiến tranh trong tiểu thuyết mà Bảo
Ninh mô tả là những năm tháng buồn bã của đám trinh sát qua sự hồi tưởng
của Kiên. Đó là những ngày mưa liên miên, những ngày im tiếng súng - trinh
sát dựng lán ở ngay bên bờ suối, họ đốt nỗi buồn chiến tranh bằng những
cuộc vui đi săn, đặt bẫy, tổ chức duốc cá và tối tối chơi bài, còn kì quái hơn
“đám trinh sát bọn Kiên ngồi rỗi bày trò phơi sấy, thái nhỏ hoa, lá và rễ hồng
ma trộn với sợi thuốc rê” [18, 19] nhờ khói hồng ma tạo ra ảo giác, tạo ra
thôi là thành tro than” [17, 57] (Gió dại). Chiến tranh quả thực đáng sợ nó
khiến con người không còn chốn dung thân tan tác, trở nên thảm hại hơn bao
giờ hết “Đàn ông còn lại chẳng bao nhiêu mà đa phần là những phế binh đã
16
hết thời được ngó ngàng chăm sóc, què cụt, đui mù, bẹp dí. Hầu như chỉ thấy
đàn bà và trẻ con ló mặt khỏi nhà. Những mụ vợ lính lạc chồng, những ả góa
rách rưới, rạc rài, không lai lịch và bầy trẻ ranh ốm đói trần truồng, bụng
ỏng, gầy giơ xương” [17, 59] (Gió dại), chiến tranh tàn phá con người một
cách khủng khiếp người không còn là người nữa. Chiến tranh đã trở thành nỗi
ám ảnh sâu trong tâm hồn mỗi con người ngay cả trong giấc ngủ họ cũng nghe
thấy tiếng bom đạn dội về rồi mỗi sớm mai thức dậy cũng phải chứng kiến cái
hiện thực tàn khốc ấy. Chiến tranh cũng lấy đi tuổi trẻ của bao nhiêu người, cái
tuổi đáng sống nhất của cuộc đời. Mộc trong Trại “bảy chú lùn” đã mất gọn tuổi
trẻ của mình ở nơi rừng sâu, Khương, Tú, Quang trong Rửa tay gác kiếm lại
dành trọn tuổi trẻ của mình cho những trận chiến nơi chiến trường.
Không chỉ nhìn thấy sự tàn phá về con người mà Bảo Ninh còn nhìn
thấy sự tàn khốc hủy diệt về cảnh vật, thiên nhiên. Chiến tranh đã biến đất
nước ta từ một đất nước tươi đẹp, trù phù với bạt ngàn màu xanh của đồi núi
rừng cây với cảnh sắc chim chóc bay lượn hót ca thành một khối đổ nát. “Bao
nhiêu sự giàu có thời Mỹ-ngụy đều rữa nát và mục thối ra dưới những đống
hoang tàn” [17, 58] (Gió dại). Những cánh rừng vốn xanh tươi một màu thì
nay “Rừng đang đổ lá. Mái rừng tróc từng mảng rộng, lở ra, rụng xuống như
bị lột da. Không một phẩy gió, cây cối bất động vậy mà tơi tả chẳng khác nào
đang trong một trận động rừng. Một trận động rừng câm lặng, lay chuyển
ngàn cây nhưng mà lại im phăng phắc. Lá, hoa, quả và cả các cành con nữa
trút như mưa song không một tiếng xào xạc. Chẳng phải lá vàng chẳng phải
lá xanh, lá to lá nhỏ tất cả đều là những xác chết thâm xịt và nhầu nhĩ như bị
nghiệp, sống cuộc sống yên ổn bình lặng nay trở nên đói nghèo, lạc hậu. Hiện
thực hậu chiến ấy đã được Bảo Ninh lột tả một cách cụ thể rõ nét qua những
trang viết của mình.
Chiến tranh kết thúc trở về với đời thường đất nước nặng một vẻ hoang
tàn “cảnh tượng vẫn nặng một vẻ hoang tàn, buồn thương thê thiết. Cả thị xã
18
chỉ là một con phố dài hiu hắt, thẳng đuột không lối rẽ, nhà cửa tồi tàn xập xệ
mọc lên rời rạc. Buổi tối, dọc phố, đầu thị cuối thị vài ngọn đèn đường mờ
đục, một hai cái quán nước tù mù, lỏng chỏng lạc luộc, khoai luộc, cái điếu
cày, bịch thuốc lá”. [17, 444]. Hiện thực đất nước sau chiến tranh phải đối
mặt với muôn vàn khó khăn nghèo đói lạc hậu, con người phải chật vật xoay
xở kiếm sống một cách nhọc nhằn và buồn bã trong Kỳ ngộ.
Ở Bội phản đó là cuộc sống nghèo khó của những người sống ở sân
sau. “Chỗ chui ra chui vào của cả sáu gia đình đều chật chội khổ sở, già trẻ
lớn bé đóng hộp. Tất cả nấu nướng cùng một khoang bếp, tắm táp cùng một
hốc tường, phơi phóng hít thở, đấu hót, cãi cọ, chuyện gẫu, nuôi lợn, nuôi gà
tất cả trong cùng một mảnh sân tù hãm. Tất cả đều nghèo túng. Tất cả đều
đầu tắt mặt tối” [17, 332]. Cuộc sống vốn đã khó khăn vất vả ngay cả chốn đi
về cũng trở thành nỗi sợ, con người dường như không còn một khoảng trống
riêng tư cho bản thân. Cái khổ đau cứ đeo bám họ mãi từ chiến tranh cho đến
hậu chiến, con người không được sống một ngày bình yên hạnh phúc. Chiến
tranh đã kết thúc nhưng dư âm của nó vẫn mãi vang vọng đeo đuổi ngay cả
khi con người ta đã cố gắng thoát khỏi. Trong cuộc sống đầy khốn khó ấy con
người phải làm đủ thứ nghề, xoay xở mọi bề để kiếm sống ngay cả những
nghề mà thiên hạ cho là “những nghề rất mạt với rặt là những lối kiếm tiền
không biết nhục” [17, 333]. Nhưng trong cuộc mưu sinh đầy chật vật này có
ai còn được lựa chọn cho mình một cái nghề tử tế mà người đời cho là đẹp, là
Lối mòn dọc phố là cái nghèo túng đủ bề, ngay cả người cán bộ được
tiếng thế chứ cũng chẳng hơn người thường. Đó còn là hình ảnh về một thời
hậu chiến, Hà Nội với những chuyến tàu điện, cái phương tiện giao thông
công cộng cho bao người nhưng nó lại tù đọng khó chịu với nồng nồng những
mùi khiến cho người ta cảm thấy như thể chui vào màn xô nhà trọ. “Hai bóng
đèn thõng trên trần, sợi tóc đỏ lừ, phả xuống một thứ ánh sáng võ vàng, phù
thũng. Hầu hết các cửa sổ đều không nhấc được tấm che lên, để ngỏ cho bụi
20