TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
BÙI THỊ HẢI YẾN
NGHỆ THUẬT TRẦN THUẬT TRONG
SỐNG ĐỌA THÁC ĐÀY CỦA MẠC NGÔN
TÓM TẮT KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Văn học nƣớc ngoài
HÀ NỘI– 2015
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
BÙI THỊ HẢI YẾN
NGHỆ THUẬT TRẦN THUẬT TRONG
SỐNG ĐỌA THÁC ĐÀY CỦA MẠC NGÔN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Văn học nƣớc ngoài
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. Nguyễn Thị Bích Dung
HÀ NỘI – 2015
1.3. Sự dịch chuyển điểm nhìn trong Sống đọa thác đày ........................ 34
CHƢƠNG 2.................................................................................................... 41
NGÔN NGỮ TRẦN THUẬT VÀ GIỌNG ĐIỆU TRẦN THUẬT TRONG
TIỂU THUYẾT SỐNG ĐỌA THÁC ĐÀY ................................................... 41
2.1. Khái niệm giọng điệu trần thuật ....................................................... 41
2.2. Giọng điệu trần thuật trong Sống đọa thác đày ............................... 42
2.2.1. Giọng điệu bỡn cợt ......................................................................... 42
2.2.2. Giọng điệu tâm tình ........................................................................ 46
KẾT LUẬN .................................................................................................... 50
TÀI LIỆU THAM KHẢO
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Được xem là nhà văn hàng đầu Trung Quốc hiện nay với rất nhiều giải
thưởng và danh hiệu, Mạc Ngôn đang trở thành một “hiện tượng” của văn đàn
Trung Quốc và thế giới.
Trong sự nghiệp sáng tác đồ sộ của Mạc Ngôn với trên 200 tác phẩm
thuộc nhiều thể loại, tiểu thuyết là thể loại gây tiếng vang lớn nhất, gặt hái
được nhiều thành tựu nhất. Một trong những yếu tố khẳng định tài năng của
Mạc Ngôn trong thể loại tiểu thuyết là nghệ thuật tự sự độc đáo.
Lí luận Văn học Trung Quốc có rất nhiều nét dị biệt so với tự sự
phương Tây. Xuất phát từ những đặc trưng đó, khóa luận sẽ trình bày các yếu
tố tự sự của tiểu thuyết Mạc Ngôn bằng chính những gì nhà văn này tiếp nhận
được từ tinh hoa tự sự của dân tộc kết hợp với lí thuyết tự sự học phương Tây
để lí giải những cách tân, chỉ ra được sự đan quyện giữa truyền thống và hiện
đại trong nghệ thuật tự sự của Mạc Ngôn, đồng thời khẳng định vị trí của nhà
văn này trong dòng chảy của tiểu thuyết Trung Quốc.
2. Lịch sử vấn đề
Ngay sau khi tiểu thuyêt Báu vật của đời, Đàn hương hình ra đờivà tiếp
Mạc Ngôn và những lời tự bạch của dịch giả Nguyễn Thị Thại. Cuốn sách là
tập hợp những bài phỏng vấn của nhà văn, qua đó tác giả trình bày những
quan điểm của mình về sáng tác văn học, bật mí những thủ pháp nghệ thuật
và dấu ấn tuổi thơ trong sáng tác. Có thể nói cuốn sách đã cho người đọc nhìn
nhận nhiều chiều về con người và sáng tác của Mạc Ngôn.
Trên báo Văn nghệ, số 5 tháng 12 năm 2003 có đăng bài viết Tiểu
thuyết Mạc Ngôn với độc giả Việt Nam của Hồ Sỹ Điệp. Bài viết tổng kết
những sáng tạo của Mạc Ngôn từ những tiểu thuyết đầu tiên. Tiếp đó, bài viết
của Lê Huy Tiêu Thế giới nghệ thuật trong tiểu thuyết của Mạc Ngôn in trong
cuốn Cảm nhận mới về văn học Trung Quốc, đã khái quát đặc điểm nghệ
2
thuật trong tiểu thuyết Mạc Ngôn từ hình ảnh, cảm giác, giọng điệu, nghệ
thuật tự sự, ngôn ngữ’ bản sắc dân gian. Nguyễn Thị Tịnh Thy với luận án
tiến sĩ về đề tài Nghệ thuật tự sự trong tiểu thuyết Mạc Ngôn. Trên cơ sở
nghiên cứu tiểu thuyết của Mạc Ngôn nói chung, tác giả đã khảo sát đề tài
trên ba phương diện: Người kể chuyện và điểm nhìn tự sự, nghệ thuật tổ chức
không gian thời gian và kết cấu tự sự, nghệ thuật kiến tạo ngôn ngữ và giọng
điệu, từ đó tác giả chỉ ra những thành tựu và hạn chế của nghệ thuật tiểu
thuyết cũng như vị trí của Mạc Ngôn trong dòng tiểu thuyết Trung Quốc, xác
định phong cách tự sự Mạc Ngôn. Mạc Ngôn đã đưa Cao Mật – quê hương
Cao lương đỏ của mình ra thế giới bằng bút pháp, phong cách riêng. Dù chưa
nhiều, nhưng nhìn chung các sáng tác của Mạc Ngôn, nhất là tiểu thuyết đang
thu hút ngày càng nhiều nhà nghiên cứu ở Việt Nam.
Viết về Sống đọa thác đày,có bài Nhà văn Mạc Ngôn sống đọa thác
đày là “nhánh cây mới trên cái cây già nua” của Trần Trung Sáng trên báo
Văn Nghệ. Theo ông, nếu chưa đọc Báu vật của đời sẽ không thể hiểu được
Mạc Ngôn. Ông nói: Sống đọa thác đày chính là “nhánh mới trên cây già nua
3.2.
Phạm vi khảo sát
Tác phẩm Sống đọa thác đày của Mạc Ngôn
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Phương pháp khảo sát, hệ thống, so sánh, phân tích tổng hợp
5. Đóng góp của khóa luận
Từ việc phân tích và kiến giải những đặc điểm của các yếu tố tự sự
trong mối quan hệ lôgic giữa chúng, khóa luận đã xác định phong cách “tự sự
kiểu Mạc Ngôn”. Đó là một phong cách được hình thành nên bởi sự phối kết
giữa đặc trưng tự sự truyền thống và đặc trưng hậu hiện đại của văn học
Trung Quốc.
6. Cấu trúc khóa luận
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, phần Nội dung khóa luận gồm 2
chương:
Chương 1: Điểm nhìn trần thuật trong Sống đọa thác đày
4
Chương 2: Ngôn ngữ trần thuật và giọng điệu trần thuật trong Sống đọa thác
đày
5
NỘI DUNG
Chƣơng 1: ĐIỂM NHÌN TRẦN THUẬT TRONG SỐNG ĐỌA THÁC
ĐÀY CỦA MẠC NGÔN
Các nhà lý luận, phê bình sử dụng nhiều từ ngữ khác nhau để gọi tên
thuật ngữ này: quan điểm trần thuật, điểm nhìn tâm lý, cái nhìn trần thuật,
phương thức trần thuật. Ở đây thống nhất thuật ngữ điểm nhìn trần thuật.
G.N Pospclov khẳng định: “Trần thuật tự sự bao giờ cũng tiến hành từ
phía một người nào đó”[13,tr.14].Từ đó ông cho rằng: “Mối tương quan giữa
các nhân vật với chủ thể trần thuật gọi là điểm nhìn trần thuật”. Ông khẳng
định vai trò quan trọng của điểm nhìn trần thuật trong tác phẩm tự sự: “Trong
tác phẩm tự sự, điều quan trọng là tương quan giữa các nhân vật với chủ thể
trần thuật, nói cách khác, điểm nhìn của người trần thuật đối với những gì mà
anh ta miêu tả” [13; 90].
Theo Từ điển thuật ngữ văn học: “Khoảng cách, góc độ của lời kể đối
với cốt truyện tạo thành cái nhìn”[8,tr.247].
Còn trong Nghệ thuật văn xuôi (1884), Henry James lại cho rằng:
“Điểm nhìn trần thuật là sự lựa chọn cự ly trần thuật nào đó loại trừ được sự
can thiệp của tác giả vào các sự kiện được miêu tả và cho phép văn xuôi trở
nên tự nhiên hơn, phù hợp với cuộc sống hơn”[34,tr121].
Nhận thấy vai trò đặc biệt của điểm nhìn trần thuật, nhà lý luận Phương
Lựu đã nhấn mạnh: “Nghệ sĩ không thể miêu tả, trần thuật các sự kiện của
đời sống nếu không xác định cho mình một điểm nhìn đối với sự vật, hiện
tượng, nhìn từ góc độ nào, xa hay gần, cao hay thấp, từ bên trong hay bên
ngoài”[10,tr12], bởi sự trần thuật trong văn xuôi nghệ thuật bao giờ cũng tiến
hành từ một điểm nhìn nào đó. Nhà văn không thể miêu tả nghệ thuật và tổ
chức tác phẩm mà không xác lập cho mình một điểm nhìn, một chỗ đứng nhất
định. Việc chọn một chỗ đứng thích hợp để người kể chuyện kể câu chuyện là
7
một trong những sự trăn trở đối với nhà văn khi sáng tạo tác phẩm. Bởi vậy
điểm nhìn trần thuật góp phần đáng kể vào sự thành công của tác phẩm, qua
nhân vật xây dựng nên.
Tác giả Lại Nguyên Ân lại đưa ra một định nghĩa khác: “Trần thuật tự
sự được dẫn dắt bởi một ngôi được gọi là người trần thuật – một loại trung
giới giữa cái được miêu tả và thính giả (độc giả), loại người chứng kiến và
giải thích những gì đã xảy ra” [3,tr.360].
Thực chất kể chuyện là hoạt động hội thoại giữa người kể chuyện và
người nghe. Người kể có thể kể về mình (kể về ngôi thứ nhất), hoặc kể về
người khác (ngôi thứ ba), cũng có thể kể về ngôi thứ hai (kể về người nghe).
Mỗi định nghĩa khai thác người kể chuyện ở một phương diện khác nhau,
nhưng tựu trung, chúng ta có thể khái quát được những đặc điểm cơ bản sau
về người kể chuyện trong tác phẩm tự sự: Người kể chuyện là một dạng hình
tượng do tác giả hư cấu, sáng tạo nên, là người đại diện phát ngôn cho tác giả
trong tác phẩm tự sự.Trong phạm vi tác phẩm, người kể chuyện là chủ thể của
lời kể, là người đứng ra kể chuyện và là nhân tố trung tâm chi phối việc tổ
chức, kết cấu cấu trúc của văn bản tự sự.Tác phẩm tự sự nào cũng có hình
tượng người kể chuyện của nó. Người đọc luôn cảm thấy được linh hồn của
người kể chuyện một cách gần gũi, rõ rệt. Người kể chuyện giữ vai trò là cầu
nối giữa tác giả, tác phẩm với người đọc. Người đọc nhận ra hình tượng người
kể chuyện qua cái nhìn, cách cảm thụ, phương thức tư duy, năng lực trí tuệ và
tình cảm của anh ta.
Người kể chuyện trong tác phẩm tự sự là yếu tố thể hiện rõ nhất, trực
tiếp nhất quan điểm, tư tưởng, phong cách của nhà văn. Người kể chuyện gắn
với khái niệm ngôi kể và điểm nhìn.
1.2. Điểm nhìn gắn với ngôi kể trong Sống đọa thác đày
Ngôi kể và điểm nhìn trần thuật chính là hai yếu tố cấu thành phương
thức trần thuật của một tác phẩm văn học. Sự phối hợp giữa hai yếu tố này
9
người kể chuyện. Sẽ là chân thực và đặc sắc hơn nếu tác phẩm có sự đa dạng
về ngôi kể.
Trong tiểu thuyết của Mạc Ngôn, tất cả những truyện kể ở ngôi thứ ba
đều được dẫn dắt bởi người kể chuyện có tầm hiểu biết hạn tri, đối lập với
người kể chuyện tòan tri truyền thống. Mỗi người kể chuyện chỉ nắm giữ một
phần hiện thực, quyền năng của họ đã bị tước bớt, và nếu không có sự phối
hợp của những người kể chuyện khác thì bức tranh hiện thực mà họ tái hiện sẽ
không thể vẹn toàn. Vì vậy, sự hạn tri của người kể chuyện đã gián tiếp tạo
nên tính đa thanh, đa giọng điệu cho tác phẩm. Sống đọa thác đày là tác phẩm
đã chiếm lĩnh được độc giả bởi sự đa dạng đó. Không chỉ bắt gặp hình thức
người kể chuyện ở ngôi thứ nhất mà còn xuất hiện một phương thức hiếm gặp
là người kể chuyện ở ngôi thứ hai. Hơn thế nữa, việc sử dụng Mạc ngôn – tác
giả thực tế, như một cách kể chuyện đặc biệt là nét độc đáo trong Sống đọa
thác đày. Sự đa dạng ngôi kể cho thấy câu chuyện được nhìn từ bên trong ra,
từ bên ngoài vào. Do đó, ít nhiều mang tới cho câu chuyện sự đan xen, lồng
ghép và sự chân thực.
1.2.1. Điểm nhìn bên trong ở ngôi thứ nhất (điểm nhìn súc vật) với người
kể chuyện tự bạch
Người kể chuyện tự bạch lộ diện trực tiếp với đại từ nhân xưng “tôi”
dưới hai dạng: có thể là kể câu chuyện với tư cách là người quan sát, làm
chứng, hoặc giữ vai trò là một yếu tố của tổ chức tự sự, đồng thời trực tiếp
tham gia vào hành động truyện. Đặc biệt người kể chuyện này trong tiểu
thuyết Mạc Ngôn vô cùng đa dạng, đa biến và đa phần là “không đáng tin
cậy”. Có khi “tôi” là con người, có khi là con vật, có khi mỗi vai kể một sự
kiện, có khi tất cả các vai cùng hướng vào một sự kiện. Bằng điểm nhìn bên
trong, người kể chuyện tự bạch dù trong vai trò chứng nhân hay trải nghiệm
11
xã hội. Hậu quả của việc này là những người của công xã đã đến cướp hết
lương thực của Lam Mặt Xanh. Tây Môn Lừa đã nhìn thấy hết thảy những bất
công mà xã hội đã tạo ra với mình và ông chủ của mình.
Cuộc sống là những ngày lao động vất vả, cực nhọc và vô vàn khó
khăn. Đó cũng là những năm mất mùa lớn:“Cái đói làm cho con người biến
thành một loài dã thú hung tàn”. Hoàn cảnh đói khổ lúc đó khiến con người
phải làm những việc không đành để nuôi sống mình, dân làng đã giết lừa lấy
thịt chia nhau. Kiếp lừa hóa kiếp và kết thúc từ đây: “Linh hồn tôi bay lên, lơ
lửng trên không gian, nhìn xuống thấy những người đói khát kia kẻ dao người
thớt đang cắn vụn thi thể tôi thành hàng trăm mảnh”, đó là thời điểm của
năm 1959. Như vậy, kiếp lừa tồn tại trong vòng chín năm trời và đã kể một sự
loạt những sự kiện lớn liên quan lẫn nhau làm nền cho câu chuyện ban đầu.
Quyển hai: Kiếp trâu quật cường: Nhân vật “tôi” đóng vai trò là người
kể chuyện chính là Lam Giải Phóng. Tây Môn Lừa giờ đây đã đầu thai thành
Tây Môn Trâu. Hai bố con Mặt Xanh ra chợ mua trâu và câu chuyện lôi kéo
mọi người vào công xã cũng nảy sinh từ đây. Cho dù, mọi người khuyên can
nhưng Mặt Xanh quyết giữ con trâu của mình và quyết không gia nhập công
xã. Mặt Xanh và Tây Môn Trâu tự do tự tại đi theo con đường của mình dù có
bị gia đình li tán, bị chèn ép ra sao họ vẫn ngày đêm cần cù trên mảnh đất nhỏ
giữa những thửa ruộng lớn. Cuối cùng Tây Môn Trâu bị tra tấn dã man dưới
bàn tay của Kim Long. Và qua lời kể của Lam Giải Phóng thì câu chuyện lại
càng cảm động hơn bởi tình người và con vật thân yêu: “Tây Môn Trâu chết
trên mảnh đất cá thể của bố tôi. Cái chết của cậu đã làm mọi người tỉnh ra
rất nhiều trong cái cao trào cách mạng văn hóa ấy”. Kiếp trâu quật cường đã
đầu thai thành kiếp lợn hoan lạc. Dưới đôi mắt của súc vật, Tây Môn Trâu vẫn
nhìn thấy, nhận ra những sai lầm của kiểu làm ăn tập thể. Trong khi đó, toàn
xã hội loài người không thể hoặc không dám nhận ra điều đó:“Trâu cá thể là
13
14
Quyển bốn: Kiếp chó trung thành, Lam Giải Phóng và Tây Môn Chó là
hai nhân vật thay nhau kể chuyện. Hai người kể chuyện đan xen nhau, đều ở
ngôi thứ nhất. Câu chuyện được nhìn nhận ở dưới nhiều góc độ khác nhau,
tạo nên nét đặc sắc rất riêng chỉ có ở Sống đọa thác đày. Tây Môn Chó không
chỉ hiểu cuộc sống nhân tính của con người mà nó còn biết cảm thông cho
những bi kịch mà con người phải gánh chịu. Nếu theo dõi toàn bộ câu chuyện,
người ta dễ dàng nhận thấy rằng nếu ở các quyển trước con người và cả loài
súc vật phải đấu tranh với cái đói, cái khát, lúc nào cũng đứng trước nguy cơ
bị diệt vong vì cuộc sống gian khổ, thì đến quyển bốn, người và chó đều được
sống no đủ, thậm chí dư thừa tới mức Chó Bốn được ăn cả những sơn hào hải
vị. Nhưng khi đã đầy đủ về vật chất thì những dục vọng của con người lại đẩy
họ vào bi kịch. Chó Bốn không những biết được tâm tư của người trong gia
đình ông chủ mà dường như nó còn thấu hiểu và cảm thông với từng người.
Ở quyển này, Chó Bốn cũng rời xa vùng Cao Mật để đến với thành
phố, một không gian khác một cuộc sống khác, một người chủ khác. Nhưng
Chó Bốn vẫn thể hiện cái nhìn rất sâu sắc và tri kỉ với con người. Trong mục
41 của quyển bốn, Chó Bốn có kể câu chuyện tình cảm, những rạn nứt trên
của Lam Giải Phóng và Hợp Tác: “Tôi biết khi làm tình với vợ, trong lòng
ông nổi lên cảm giác đạo đức khiến ông có thể chế ngự cảm giác ghét bỏ đối
với vợ”.
Với vai trò của người kể chuyện, chó Bốn cũng đã nói hộ tâm tư, bộc lộ
những suy nghĩ của Hợp Tác – khi mà chồng cô là Lam Giải Phóng đang bỏ
mặc cô để đến với Xuân Miêu:
“Chó Bốn! Mày nghĩ tao phải làm gì bây giờ?
Chó Bốn! Mày nghĩ là cô ta sẽ bỏ ông ấy chứ?
Chó Bốn! Mày nói đi. Là tao sai hay ông ấy sai?”
16
sự sai lầm đó. Ở đây chúng chỉ là những vật bình thường, chúng đóng vai trò
là nhân vật xưng tôi tự kể chuyện. Đặc biệt, chúng sống bên cạnh loài người,
quan sát mọi hoạt động của con người, vừa cố lý giải đến tận cùng những
trạng thái cảm xúc của con người vừa phán xét những hành vi của người
Trung Quốc.
Dùng góc nhìn của súc vật để phán xét, để quan sát sự thay đổi của thế
giới loài người là nét đặc sắc trong nghệ thuật lạ hóa của Mạc Ngôn. Bằng bút
pháp nhân hóa đến độ sâu sắc, Mạc Ngôn đã thể hiện thành công giọng điệu
châm biếm sâu cay. Nó giống như việc dùng các nhân vật điên để phác họa
một con người ở trạng thái khác. Dùng loài vật cũng là cách nhìn về con
người, để dễ dàng nhận ra sự tha hóa đạo đức của xã hội. Con Lừa là nhân vật
trung tâm, nhân vật chính của câu chuyện. Cách nhìn của nó ở trong xã hội đó
để phán xét, đánh giá con người. Do đó, có thể thấy cách kể chuyện này là
sáng tạo độc đáo của riêng nhà văn trên cơ sở tiếp thu truyền thống.
Có thể nhận thấy ngôi thứ nhất là ngôi kể chính của toàn bộ câu chuyện
và có nhiều nhân vật tham gia kể chuyện từ ngôi này: Tây Môn Náo, Tây
Môn Lừa, Tây Môn Trâu, Tây Môn Lợn, Tây Môn Chó, Lam Giải Phóng,
Lam Ngàn Năm Đầu To, Mạc Ngôn. Nhân vật trung tâm đứng ra xưng tôi kể
chuyện khiến cho câu chuyện vừa khách quan vừa chủ quan. Nó góp phần bộc
lộ tâm trạng, cái nhìn của nhân vật một cách dễ dàng hơn. Đồng thời, tuy
cùng dùng ngôi thứ nhất kể nhưng mỗi nhân vật lại có lối kể chuyện khác
nhau, và có sự thay đổi linh hoạt làm cho cách kể không trở nên nhàm chán
trong suốt 800 trang truyện.
Kể chuyện từ ngôi thứ nhất là một hình thức quen thuộc trong tiểu
thuyết Mạc Ngôn. Thường các nhân vật đóng vai trò người kể chuyện này
cũng là nhân vật tham gia trực tiếp vào cốt truyện, kể lại câu chuyện của mình
thai, sản phẩm của mối tình loạn luân giữa Bàng Phượng Hoàng và Lam
Khai Phóng - hai anh em con cô bác ruột, có chung bà nội. Khi biết sự thật,
Lam Khai Phóng từ đỉnh cao hạnh phúc rơi xuống vực sâu bi kịch. Quá đau
18
đớn, anh tự sát, để lại Bàng Phượng Hoàng với một sinh linh đang hoài
thai. Đúng ngay thời khắc chuyển giao thế kỷ, Bàng Phượng Hoàng hạ sinh
Lam Ngàn Năm Đầu To rồi ra đi. Là nạn nhân của những tội lỗi mà thế hệ
trước gây ra, đứa con phải mang trên mình một hình hài, một thể chất dị
thường: “một cái đầu to quá mức, không tương xứng với vóc dáng và tuổi
tác, bị mắc bệnh máu không đông”. Cái đầu to khác thường của Lam Ngàn
Năm Đầu To có lẽ là vì nó phải chất chứa một ký ức kéo dài năm mươi
năm và kinh qua nhiều kiếp tồn sinh đầy sóng gió. Khuyết tật về thể xác
được giải thích bằng lý thuyết di truyền học, siêu việt về trí nhớ được giải
thích bằng tư tưởng luân hồi trong Phật giáo. Chính ở phương diện này,
Lam Ngàn Năm Đầu To trở nên siêu thực vì nó là nhân vật có sự dung hợp
giữa thực và ảo vô cùng đậm nét. Nhân vật này đứng ở ranh giới giữa đôi
bờ siêu nhiên, kỳ ảo và phàm trần, dị biệt.
Lam Ngàn Năm Đầu To kể câu chuyện của mình khi vừa tròn sinh nhật
năm tuổi, do vậy, từ góc độ nào đó, cậu thuộc dạng nhân vật kỳ tài với trí nhớ
phi phàm và khả năng nói thao thao bất tuyệt. Cái chất người lớn của nhân vật
còn được thể hiện thông qua câu chuyện mà nhân vật kể. Những kiếp trầm
luân đọa đày đã được kể lại bằng một giọng điệu bi phẫn, của một người đích
thân trải nghiệm tất cả những đau khổ ấy. Một đứa trẻ năm tuổi bình thường
tất nhiên không thể nào có được điều đó. Sự kết hợp giữa một thể xác trẻ thơ
với một ký ức trải nghiệm một đời đã tạo nên một kỳ nhân Lam Ngàn Năm
Đầu To đầy ám ảnh. Đây là nhân vật được tạo nên bởi sự kết hợp giữa thể
xác, vóc dáng trẻ thơ nhưng dung chứa tâm hồn và bản chất của những người
của mình, khiến cho câu chuyện được kể dưới một cái nhìn rất đặc biệt. Chính
góc nhìn này khiến Mạc Ngôn có cơ hội để giải thích với độc giả những vấn
đề lớn lao của xã hội thời bấy giờ.
La Tiểu Thông và Lam Ngàn Năm Đầu To là cách nhìn của những đứa
trẻ tinh ranh, đặc biệt là cái nhìn của Lam Ngàn Năm Đầu To.
20
Dưới con mắt của Lam Ngàn Năm Đầu To, những góc khuất trong tâm
địa mọi âm mưu đen tối, hành vi ám muội của con người có thể lí giải được.
Để tồn tại trong xã hội đó và để tự bảo vệ mình, chúng phải thực sự láu cá, lõi
đời. Đó cũng là cách duy nhất để những đữa trẻ này có thể tồn tại trong xã hội
“ăn thịt người” đó.
Lam Ngàn Năm Đầu To mới năm tuổi đã thông hiểu tất cả sáu kiếp
luân hồi của mình cũng với bao phen chìm nổi của làng Đông Bắc Cao Mật
trong suốt 50 năm cuối thế kỉ XX. Sở dĩ tại sao tác giả lại lựa chọn và cần
phải dùng góc nhìn trẻ thơ trong trường hợp này là để giải thích những khúc
mắc, phức tạp và khuất tất của nhân tình thế thái và lịch sử. Đây cũng là điều
mà Mạc Ngôn muốn cảnh báo về sự tha hóa của con người trong xã hội Trung
Quốc hiện đại. Lam Ngàn Năm Đầu To giống như tên của một cuốn tiểu
thuyết ở Việt Nam Những đứa trẻ chết già của Nguyễn Bình Phương. Trong
cái đầu của anh ta là lịch sử cả một vùng quê, là kiếp trầm luân của bản thân
mình. Tuy là ánh mắt trẻ thơ nhưng lại là ánh mắt già dặn và trải nghiệm, đã
đi qua hết những nỗi đau để hiểu thấu triết lí của cuộc đời.
Lựa chọn điểm nhìn trẻ thơ để viết về cuộc sống phức tạp của người
lớn. Mạc Ngôn không viết các câu chuyện thiếu nhi. Ông muốn đưa đến cho
độc giả một câu chuyện phức điệu và chân thực nhất về cuộc đời nhưng bằng
một góc nhìn mới. Nó khác với việc đặt điểm nhìn vào trẻ thơ để sáng tác các
câu chuyện cho bạn đọc là trẻ em, hoặc viết về trẻ em. Ở đây, nhân vật trẻ thơ