Kiểu nhân vật nữ nổi loạn trong đời mưa gió của nhất linh, khái hưng và chúa đã tạo ra đàn bà của simone colette (KL07172) - Pdf 30

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
**********

CAO THỊ HƯƠNG

KIỂU NHÂN VẬT NỮ NỔI LOẠN
TRONG ĐỜI MƯA GIÓ CỦA NHẤT LINH,
KHÁI HƯNG VÀ VÀ CHÚA ĐÃ TẠO RA ĐÀN BÀ
CỦA SIMONE COLETTE

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Lí luận văn học

HÀ NỘI – 2015


TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
**********

CAO THỊ HƯƠNG

KIỂU NHÂN VẬT NỮ NỔI LOẠN
TRONG ĐỜI MƯA GIÓ CỦA NHẤT LINH,
KHÁI HƯNG VÀ VÀ CHÚA ĐÃ TẠO RA ĐÀN BÀ
CỦA SIMONE COLETTE

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Lí luận văn học


Cao Thị Hương


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài ............................................................................................ 1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ............................................................................. 2
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu ................................................................. 4
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu .................................................................. 4
5. Phương pháp nghiên cứu ............................................................................... 5
6. Đóng góp của khóa luận ................................................................................ 5
7. Cấu trúc của khóa luận .................................................................................. 5
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ VĂN HỌC SO SÁNH .............. 6
1.1. Khái niệm văn học so sánh và sự hình thành bộ môn Văn học so sánh ....... 6
1.1.1. Khái niệm văn học so sánh ...................................................................... 6
1.1.2. Sự hình thành bộ môn Văn học so sánh ................................................... 9
1.2. Các loại hình nghiên cứu văn học so sánh.................................................. 10
1.2.1. Nghiên cứu ảnh hưởng ........................................................................... 10
1.2.2. Nghiên cứu song song............................................................................. 14
1.2.3. Nghiên cứu liên ngành ........................................................................... 17
1.3. Ý nghĩa và tác dụng của bộ môn Văn học so sánh .................................... 18
CHƯƠNG 2: SỰ TƯƠNG ĐỒNG GIỮA KIỂU NHÂN VẬT NỮ NỔI
LOẠN TRONG ĐỜI MƯA GIÓ CỦA NHẤT LINH – KHÁI HƯNG VÀ VÀ
CHÚA ĐÃ TẠO RA ĐÀN BÀ CỦA SIMONE COLETTE................................. 19
2.1. Tính cách hồn nhiên, tươi trẻ ..................................................................... 19
2.2. Hình tượng người phụ nữ nổi loạn như là một phương tiện biểu hiện tư
tưởng nữ quyền ............................................................................................... 23



nhân loại. Thực tiễn văn học cho thấy, trong suốt trường kì lịch sử, người phụ nữ
luôn là đối tượng chịu nhiều thiệt thòi và bị phụ thuộc. Họ bị trói buộc bởi những
thành kiến bảo thủ, lạc hậu mà chế độ phụ quyền thiết lập nên.Tuy nhiên, xã hội
ngày càng tiến bộ, người phụ nữ cũng ngày càng ý thức được giá trị, vai trò của
mình. Họ đã tự vươn lên để tìm cách giải phóng cho mình, chủ động đi tìm hạnh
phúc và sống theo cá tính bản thân. Đó được xem là sự phá cách, “nổi loạn” của
giới nữ để vượt thoát ra khỏi những khuôn phép, lề thói kìm buộc người phụ nữ,
đồng thời đả phá vào những tư tưởng đạo đức cố hữu lỗi thời nhằm lấy lại sự công
bằng cho giới mình.
1.3. Đời mưa gió của Nhất Linh – Khái Hưng và Và chúa đã tạo ra đàn bà
của Simone Colette là hai tác phẩm cùng viết về sự “nổi loạn” của giới nữ. Hai tác
phẩm cũng đồng thời là đại diện cho hai dân tộc, hai nền văn hóa khác nhau.
Nghiên cứu về hai tác phẩm này đã có nhiều bài viết, nhận xét đánh giá trên nhiều

1


khía cạnh, nhiều góc độ khác nhau, song, nó chưa được nhìn nhận ở phương diện
văn học so sánh.
1.4. Từ lâu, văn học so sánh đã trở thành một bộ môn quan trọng trong
nghiên cứu văn học. Ở Việt Nam hiện nay, nó cũng đã được đưa vào giảng dạy ở
các trường Đại học và Cao đẳng. Cũng đã có một số chuyên luận giới thiệu lý
thuyết và các công trình nghiên cứu cụ thể về Văn học so sánh như: “Góp phần tìm
hiểu văn học so sánh” của Nguyễn Văn Dân, “ Mấy vấn đề về văn học so sánh và so
sánh văn học” của Lê Đình Cúc, “Một thời đại trong thi ca” của Hoài Thanh, “Nhà
văn hiện đại” của Vũ Ngọc Phan, “Ảnh hưởng của tiểu thuyết cổ Trung Quốc đến
tiểu thuyết cổ Việt Nam” của Nguyễn Xuân Hòa … Các công trình này có đóng góp
là áp dụng lý thuyết văn học so sánh vào việc nghiên cứu trong thực tiễn. Tuy
nhiên, hiện trạng nghiên cứu của bộ môn này hiện nay còn chưa xứng đáng với tiềm
năng của nó.

trợn mang màu sắc cá nhân chủ nghĩa cực đoan (…), tính cách ấy có phần cách biệt
xa lạ so với hoàn cảnh và tâm lý xã hội chung thời bấy giờ” [9; tr.430].
Tuy nhiên, cũng trong cuốn Tự lực văn đoàn: Trào lưu – tác giả thì tác giả
Hà Minh Đức với bài “Thế giới nhân vật trong tiểu thuyết Tự lực văn đoàn” lại đề
cập đến nhân vật Tuyết với tư cách là một kiểu nhân vật mới mẻ trong văn chương
Tự lực văn đoàn, đại diện cho lớp phụ nữ sống “phá cách”, vươn lên giải phóng cho
mình [9; tr.52-53].
Đối với tiểu thuyết Và chúa đã tạo ra đàn bà, theo quan sát của chúng tôi, vì
tác phẩm này mới được dịch ra ở Việt Nam (Nguyên Thiện dịch năm 2012) cho nên
chưa có một công trình nghiên cứu nào về tác phẩm. Trong khi đó, ở phương Tây,
nó được biết đến nhiều hơn qua đời sống điện ảnh. Khi tìm hiểu các bài viết về Và
chúa đã tạo ra đàn bà với tư cách là một tác phẩm văn học thì chúng tôi nhận thấy
các bài viết mới chỉ dừng lại ở những nhận xét sơ lược mang tính chất giới thiệu
sách, giới thiệu tác phẩm mà thôi.
Như vậy, qua việc khảo sát tình hình nghiên cứu kể trên, chúng tôi nhận thấy,
hai tác phẩm Đời mưa gió và Và chúa đã tạo ra đàn bà cũng đã được các nhà
nghiên cứu bàn đến ở những mức độ khác nhau. Tuy nhiên vấn đề nhân vật nữ “nổi
loạn” trong hai tác phẩm kể trên chưa được nghiên cứu khách quan, cụ thể ở thế đối
sánh. Do đó, dựa trên lý thuyết văn học so sánh và đặc điểm của hai cuốn tiểu

3


thuyết Đời mưa gió và Và chúa đã tạo ra đàn bà, tác giả khóa luận lựa chọn đề tài
“Kiểu nhân vật nữ nổi loạn trong Đời mưa gió của Nhất Linh – Khái Hưng và Và
chúa đã tạo ra đàn bà của Simone Colette” với mục đích làm rõ sự tương đồng và
khác biệt trong việc thiết tạo kiểu nhân vật của hai tác phẩm. Đồng thời qua đề tài
này chúng tôi hi vọng sẽ góp phần ứng dụng lý thuyết văn học so sánh vào nghiên
cứu trong thực tiễn văn học.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

phương pháp nghiên cứu cụ thể sau:
- Phương pháp so sánh
- Phương pháp phân tích – tổng hợp
- Phương pháp hệ thống
Trong các phương pháp kể trên, phương pháp so sánh được chúng tôi sử
dụng là phương pháp trọng yếu.
6. Đóng góp của khóa luận
- Về phương diện lý luận, khóa luận góp phần làm rõ đặc trưng của Văn học
so sánh với tư cách là một bộ môn nghiên cứu mối quan hệ giữa các nền văn học
dân tộc.
- Trên cơ sở so sánh kiểu nhân vật nữ nổi loạn trong Đời mưa gió của Nhất
Linh – Khái Hưng và Và chúa đã tạo ra đàn bà của Simone Colette, khóa luận chỉ
ra nét tương đồng cũng như khác biệt trong cách xây dựng hình tượng hai nhân vật
của hai tác giả.
7. Cấu trúc khóa luận
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
khóa luận được cấu trúc thành ba chương:
Chương 1: Những vấn đề chung về văn học so sánh
Chương 2: Sự tương đồng giữa kiểu nhân vật nữ nổi loạn trong Đời mưa gió của
Nhất Linh – Khái Hưng và Và chúa đã tạo ra đàn bà của Simone Colette
Chương 3: Sự khác biệt giữa kiểu nhân vật nữ nổi loạn trong Đời mưa gió của Nhất
Linh – Khái Hưng và Và chúa đã tạo ra đàn bà của Simone Colette

5


NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ VĂN HỌC SO SÁNH
1.1. Khái niệm văn học so sánh và sự hình thành của bộ môn Văn học so sánh

Trong mục từ “Văn học so sánh” viết trong cuốn “Trung Quốc đại bách khoa
toàn thư”, giáo sư Nhạc Đại Vân ở Đại Học Bắc Kinh đưa ra một giới định: “Văn
học so sánh – một phân nhành của nghiên cứu văn học, xuất hiện vào cuối thế kỉ
XIX – đầu thế kỉ XX. Nó là một khoa học nghiên cứu so sánh một cách lịch sử quá
trình có tác dụng tương hỗ giữa hai nền văn học dân tộc trở lên, nó nghiên cứu mối
quan hệ tương hỗ hình thức nghệ thuật và hình thái ý thức của các nền văn học dân
tộc đó”.
Daniel – Henri Pageaux cũng có định nghĩa tương tự: “Văn học so sánh là
chuyên ngành nghiên cứu mối quan hệ tương đồng, quan hệ họ hàng hay ảnh hưởng
giữa văn học với các lĩnh vực nghệ thuật hay các lĩnh vực tư duy khác, giữa các sự
kiện hay văn bản văn học, những mối quan hệ này có thể gần hay xa, trong không
gian hay trong thời gian, miễn là chúng thuộc nhiều ngôn ngữ khác nhau, hoặc
nhiều văn hóa khác nhau, cho dù có chung một truyền thống” [29].
Remak, nhà nghiên cứu Hoa Kì, định nghĩa có phần đầy đủ hơn: “Văn học so
sánh là nghiên cứu văn học vượt ra ngoài phạm vi của một nước và nghiên cứu mối
quan hệ văn học với tri thức khác và lĩnh vực tín ngưỡng, bao gồm nghệ thuật (như
hội họa, điêu khắc, kiến trúc, âm nhạc), triết học, lịch sử, khoa học tự nhiên, tôn
giáo, … Nói gọn lại, đó là đem văn học một nước mà so sánh với văn học của một
hay nhiều nước khác, so sánh với các lĩnh vực biểu hiện khác của loài người” [28].
Tại Việt Nam, sự quan tâm đến văn học so sánh cũng được thể hiện trong
nhiều bài viết khá công phu. Trương Đăng Dung trong bài báo “Văn học dịch và
những vấn đề lý luận của văn học so sánh” định nghĩa rằng: “Văn học so sánh là
một trong những ngành khoa học văn học nghiên cứu mối quan hệ qua lại cũng như
những đặc điểm tương đồng và khác biệt giữa các nền văn học nhằm tiếp cận tiến
trình văn học lớn nhất: Văn học thế giới” [6; tr.21]. Nguyễn Văn Dân thì định
nghĩa: “Văn học so sánh là một bộ môn khoa học nghiên cứu các mối quan hệ giữa
các nền văn học dân tộc” [4; tr.19]. Như vậy, các nhà nghiên cứu đã nói tới đặc

7


8


lập; còn so sánh văn học chỉ là một phương pháp của tất cả các ngành nghiên cứu
văn học.
1.1.2. Sự hình thành bộ môn Văn học so sánh
1.1.2.1. Điều kiện hình thành bộ môn Văn học so sánh
Văn học so sánh hình thành dựa trên nhiều yếu tố, trong đó có hai điều kiện
cơ bản là điều kiện văn hóa – xã hội và điều kiện học thuật.
- Điều kiện văn hóa – xã hội:
Văn học thế giới đã có mối liên hệ từ xa xưa nhưng ý thức hệ của con người
chưa hướng nhiều tới sự tác động, ảnh hưởng qua lại đó. Phải tới thế kỉ XIX, khi xã
hội loài người có sự chuyển đổi hình thái kinh tế, nhu cầu giao lưu về mọi lĩnh vực,
trong đó có văn học thì mới hình thành nền văn học thế giới và lúc đó ý thức so
sánh mới bắt đầu.
Sự ra đời của bộ môn Văn học so sánh liên quan trực tiếp đến sự phát triển
của chủ nghĩa tư bản và ý thức chủ nghĩa thế giới. Phương thức sản xuất của chủ
nghĩa tư bản không ngừng thúc đẩy mối liên hệ và giao lưu các mặt kinh tế thị
trường cũng như giao lưu về văn hóa.
Từ trào lưu văn học lãng mạn chủ nghĩa cuốn hút toàn châu Âu và sự thức
tỉnh của văn học thế giới chủ nghĩa cuối thế kỉ XVIII – đầu thế kỉ XIX là điều kiện
cho sự ra đời của Văn học so sánh.
- Điều kiện học thuật:
Từ đầu thế kỉ XIX, sự phát triển cực thịnh của khoa học lịch sử tạo điều kiện
cho sự phát triển nở rộ của các bộ môn lịch sử văn học.
Phương pháp so sánh được áp dụng ngày càng chuyên sâu trong nhiều ngành
khoa học (như Lịch sử ngôn ngữ học so sánh, Lịch sử folklore so sánh, …).
1.1.2.2. Quá trình phát triển của bộ môn Văn học so sánh
Giai đoạn thứ nhất – nửa cuối thế kỉ XIX: Giai đoạn hình thành và khẳng
định. Xây dựng nền móng cho bộ môn phải kể đến công lao của các nhà nghiên cứu

thực tế đều không thuộc phạm trù nghiên cứu ảnh hưởng” [15; tr.71].
Chẳng hạn, chúng ta có thể nghiên cứu ảnh hưởng giữa hai nhà văn như Vũ
Trọng Phụng và Zola; nghiên cứu ảnh hưởng giữa nhà văn với trào lưu văn học như

10


Bích Khê với thơ tượng trưng Pháp; hay nghiên cứu ảnh hưởng giữa hai nền văn
học như văn học Việt Nam và văn học Trung Quốc, …
Nghiên cứu ảnh hưởng là loại hình nghiên cứu có sức thuyết phục, cũng là
phương pháp xuất hiện sớm nhất. Đóng góp cho loại hình nghiên cứu này là các nhà
nghiên cứu người Pháp như F. Baldenseprger, P.V. Tieghem, M. F. Guyard, …
1.2.1.2. Phương pháp nghiên cứu
Để nghiên cứu được các hiện tượng văn học theo hướng so sánh ảnh hưởng,
trước tiên người nghiên cứu phải đặt giả thiết (phải có tư tưởng thì mới có giả thiết).
Tiếp đến phải tìm tư liệu để chứng minh và làm sáng tỏ giả thiết đó. Sau khi có tư
liệu, người viết sử dụng phương pháp phân tích những tư liệu đó để tìm cội nguồn,
tìm sự sáng tạo của đối tượng so sánh. Và cuối cùng, dùng phương pháp tìm ảnh
hưởng và siêu ảnh hưởng để nghiên cứu về đối tượng.
1.2.1.3. Điều kiện nảy sinh ảnh hưởng
Điều kiện nảy sinh ảnh hưởng bao gồm phải có cái gây ảnh hưởng và cái
chịu ảnh hưởng.
Cái gây ảnh hưởng là cái phải có sức lan tỏa, về mặt nào đó phải có vị trí
vượt trội dẫn đầu hoặc phải có một số nhân tố phù hợp với điều kiện của cái chịu
ảnh hưởng.
Cái chịu ảnh hưởng bao gồm hoàn cảnh xã hội của nước tiếp nhận (mức độ
cởi mở của chính trị, tinh thần dân tộc, kết cấu tâm lý văn hóa) và truyền thống
nghệ thuật, thói quen thưởng thức của nước đó. Ngoài ra, sự ảnh hưởng cũng phụ
thuộc vào điều kiện nội tại của cá nhân người chịu ảnh hưởng (tư tưởng, cá tính, khí
chất, hứng thú của nhà văn với một hiện tượng văn học cụ thể).

chỉ là sự sao chép, vay mượn, mô phỏng, học tập mà còn là vấn đề đồng hóa, sáng
tạo, vượt lên để sáng tạo ra những giá trị thẩm mĩ mới.
Nghiên cứu ảnh hưởng được đặt trên nhiều phương diện. Về cơ bản, có thể
nghiên cứu theo các hướng sau:
- Nghiên cứu ảnh hưởng giữa nhà văn với nhà văn, chẳng hạn như Lỗ Tấn và
Gogol, Vũ Trọng Phụng và Zola, Maiakovski với Trần Dần, …
- Nghiên cứu ảnh hưởng giữa tác phẩm với tác phẩm. Ví dụ: Huyền thoại phố
phường của Nguyễn Huy Thiệp – Con đầm pích của Puskin, Thiên sứ của Phạm Thị
Hoài và Cái trống thiếc của Gunter Grass, …

12


- Ảnh hưởng giữa nhóm tác phẩm với nhóm tác phẩm. Ví dụ: văn học hiện thực
Việt Nam 1930-1945 (Nam Cao, Vũ Trọng Phụng, Ngô Tất Tố) – văn học hiện thực
Pháp thế kỉ XIX (Balzac, Standhal), …
- Ảnh hưởng giữa nhóm nhà văn với nhóm nhà văn. Chẳng hạn: nhóm thơ Bình
Định (Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, Yến Lan…) với nhóm thơ tượng trưng Pháp
(Baudelaire, Verlaine…), …
- Ảnh hưởng giữa nhà văn với một nền văn học. Ví dụ: Đào Tiềm, Đỗ Phủ trong thi
ca Việt Nam; Paustovski, Lỗ Tấn, Gorki, Hugo, Balzac … ở Việt Nam.
- Ảnh hưởng giữa nhà văn với trào lưu văn học. Ví dụ: Xuân Diệu với chủ nghĩa
tượng trưng, Bích Khê và thơ tượng trưng Pháp, …
- Ảnh hưởng giữa thể loại văn học với thể loại văn học, chẳng hạn như: Thơ cổ điển
Việt Nam và thơ cổ điển Trung Quốc, truyện đường rừng của Thế Lữ với truyện
quái dị của Hoffmann, …
- Ảnh hưởng giữa nền văn học với nền văn học: Văn học La Mã và văn học Hy Lạp,
văn học Việt Nam và văn học Trung Quốc, …
- Ảnh hưởng giữa trào lưu với trào lưu: Văn học hiện thực Việt Nam và văn học
hiện thực Pháp, thơ lãng mạn Việt Nam và thơ lãng mạn Pháp, chủ nghĩa tượng

Nghiên cứu song hành có thể quan sát văn học các nước khác nhau từ nhiều
góc độ, nhiều phương diện. Do đó, nó có phạm vi nghiên cứu rất rộng. Nghiên cứu
song hành chú trọng tính văn học của đối tượng, chú trọng so sánh chủ đề, thể loại,
hình tượng nhân vật, phong cách nhà văn,…
Đây là hướng nghiên cứu được các nhà nghiên cứu luận Hoa Kỳ đề xuất.
1.2.2.2. Mục đích
Các hiện tượng văn học khác nhau là do đặc tính nhân loại như đời sống sinh
hoạt khác nhau, các điều kiện vật chất khác nhau,… Nghiên cứu song song giúp
chúng ta phát hiện ra những hiện tượng tương đồng của văn học nhân loại cũng như
phát hiện những nét đặc sắc có tính dân tộc, văn hóa vùng miền. Hơn thế nữa,
nghiên cứu song song còn giúp chúng ta hiểu nhau giữa sự bất đồng về văn hóa,
chính kiến.
Nghệ thuật ngôn từ được phân hóa từ nghệ thuật nguyên hợp mà thành thơ
ca. Các thể loại văn học, con đường phát triển, hành trình văn học của các dân tộc

14


cũng giống nhau. Vì vậy, nếu không nghiên cứu vấn đề này thì sẽ không thấy tính
cộng đồng trong nghiên cứu văn học thế giới.
1.2.2.3. Phương pháp nghiên cứu
Hai phương pháp được sự dụng chủ yếu trong nghiên cứu song hành là
nghiên cứu trực tiếp và nghiên cứu gián tiếp.
Những yếu tố đem so sánh phải có ý nghĩa nhất định, đặc biệt người nghiên
cứu phải coi trọng tính văn học của vấn đề đem so sánh.
1.2.2.4. Cơ sở nghiên cứu song hành
Cơ sở nghiên cứu của hướng nghiên cứu song hành là dựa vào tính phổ quát
và tính đặc thù của văn hóa, văn học.
- Tính phổ quát của văn hóa, văn học:
Con người có hình thức sinh mệnh giống nhau (như sinh, lão, bệnh, tử, ngũ

- Nghiên cứu bút pháp nghệ thuật. Ví dụ: Kỹ thuật dòng ý thức trong Ulysses
(James Joyce), Đi tìm thời gian đã mất (Marcel Proust) và Âm thanh và cuồng nộ
(Fauklner)…
- Nghiên cứu thể loại. Ví dụ: So sánh truyện ngắn Sekhov với truyện ngắn O.
Henry (Kết cấu và bố cục), truyện cổ tích Việt Nam và truyện cổ tích Grim, …
- Nghiên cứu cảnh tượng, hình ảnh, chi tiết. So sánh những hình ảnh như mặt
trăng thiên nhiên, núi đồi, lễ hội, tập tục, tín ngưỡng,… trong các tác phẩm của các
dân tộc khác nhau.
- Nghiên cứu quá trình văn học. Ví dụ: So sánh thơ Trung Quốc hiện đại với
thơ Việt Nam hiện đại, so sánh trào lưu văn học phi lý của Pháp và của Anh, …
1.2.2.6. Ưu thế và hạn chế của nghiên cứu song hành
Nghiên cứu song hành có ưu thế giúp mở rộng không gian nghiên cứu của
văn học so sánh, khuynh hướng này một mặt chú ý nghiên cứu sâu các đặc tính
thẩm mĩ của văn học, mặt khác có khả năng cung cấp những khái quát phổ biến về
các quy luật phát triển của văn học.
Tuy nhiên, bên cạnh những ưu thế trên, nghiên cứu song hành còn có những
hạn chế:
Một là, lý luận chưa đủ tỉ mỉ và sự thuyết phục cần thiết.

16


Hai là, việc tuyển lựa đối tượng thiếu hạn định nghiêm ngặt nên có nguy cơ
làm phai nhạt đặc trưng của bộ môn.
1.2.3. Nghiên cứu liên ngành
Văn học so sánh không dừng lại ở việc nghiên cứu hai hiện tượng thuộc hai
nền văn học dân tộc khác nhau mà còn đặt vấn đề nghiên cứu so sánh liên ngành.
Nghiên cứu so sánh liên ngành đặt vấn đề so sánh hai lĩnh vực, hai loại hình
nghệ thuật, văn học khác nhau trở lên. Nghiên cứu liên ngành là sự mở rộng văn
học so sánh, tìm hiểu mối quan hệ giữa văn học với các loại hình văn hóa nghệ

Văn học so sánh giúp mở rộng tầm mắt nghiên cứu và cải tiến phương pháp
nghiên cứu học thuật.
Văn học so sánh giúp nghiên cứu sâu sắc văn học bản quốc và văn học ngoại
quốc, từ đó giúp nhận thức rõ lịch sử văn học, lí luận văn học trong và ngoài nước.
Như vậy có thể thể thấy, văn học so sánh có một tầm quan trọng đặc biệt
trong nghiên cứu văn học. Hơn nữa, trong thời đại ngày nay, văn học so sánh có
triển vọng ngày càng lớn về giao lưu hội nhập, giúp thúc đẩy mối liên hệ và giao
lưu văn hóa, văn học giữa các nước.

18


CHƯƠNG 2
SỰ TƯƠNG ĐỒNG GIỮA KIỂU NHÂN VẬT NỮ NỔI LOẠN
TRONG ĐỜI MƯA GIÓ CỦA NHẤT LINH – KHÁI HƯNG
VÀ VÀ CHÚA ĐÃ TẠO RA ĐÀN BÀ CỦA SIMONE COLETTE
Đời mưa gió của Nhất Linh – Khái Hưng và Và chúa đã tạo ra đàn bà của
Simone Colette là hai cuốn tiểu thuyết cùng viết về sự “nổi loạn” của giới nữ, mà
qua đó các nhà văn đều lên tiếng đòi quyền bình đẳng cho nữ giới, vươn tới giải
phóng người phụ nữ ra khỏi những quan niệm truyền thống lỗi thời, những giáo
điều hủ tục. Ở đây, chúng tôi xin lưu ý tới khái niệm nhân vật “nổi loạn”. Theo Từ
điển tiếng Việt, “nổi loạn” là “nổi lên làm loạn” [17; tr. 949]. Từ cách hiểu đó, có
thể diễn giải thêm: nổi loạn là đứng lên chống lại, phủ định lại một nền tảng cũ,
cũng có thể là đứng lên lật đổ một thế lực nào đấy. Theo các nhà nghiên cứu lý luận
văn học, nhân vật “nổi loạn” là nhân vật đi lệch với tư tưởng, ý đồ sáng tạo ban đầu
của nhà văn. Tuy nhiên, cả hai nhân vật nữ chính trong hai tác phẩm kể trên được
các tác giả xây dựng với những mục đích rõ ràng, cho nên, nhân vật “nổi loạn” ở
đây không hiểu theo quan điểm của các nhà nghiên cứu mà theo bản chất của từ
“nổi loạn” trong Từ điển tiếng Việt. Với những tư tưởng mới mẻ, tiến bộ và những
hành động “nổi loạn” của mình, nhân vật đã đứng lên chống lại những thành kiến


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status