Khoá luận tốt nghiệp ý thức nữ quyền trong văn xuôi y ban - Pdf 30

NGUYÊN THỊ HUYÈN TRANG

Ý THỨC NỮ QƯYÈN TRONG
VĂN XUÔI Y
TRƯỜNG ĐẠI HỌC su PHẠM HÀ NỘI
BAN

2
KHOA NGỮ VĂN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Lý luận văn học

NGUYÊN THỊ HUYÈN TRANG

Ý THỨC NỮ QUYÈN TRONG VĂN XUÔI Y BAN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC


• • •

Chuyên ngành: Lý luận văn học

Ngưòi hưóng dẫn khoa học: ThS. Nguyễn Thị Vân Anh


TRƯỜNG ĐẠI HỌC su PHẠM HÀ NỘI
2
KHOA NGỮ VĂN



Trong xã hội Việt Nam xưa, người phụ nữ ít được quan tâm đúng mực, các tác
phẩm văn chương phản ánh về người phụ nữ lại càng hiếm hoi, ý thức nữ quyền tồn tại
trong các tác phẩm văn chương lúc đó khá mờ nhạt.
Khi đất nước bước vào thời kì đổi mới, điều kiện kinh tế xã hội có nhiều biến đổi,
văn học cũng có những chuyển biến tích cực trong đó tiêu biểu là sự xuất hiện của
dòng văn chương mang âm hưởng nữ quyền do chính các tác giả nữ sáng tác. Vương
Trí Nhàn trong bài Phụ nữ và sảng tác văn chương đã nhận xét: “hình như do sự

nhạy cảm của riêng mình, phải nữ bắt mạch thời đại nhanh hơn nam giới”. Phải
chăng đây là nguyên nhân giúp hàng loạt các cây bút nữ nhận được sự ái mộ của độc
giả, trong đó phải kê tới nhà văn nữ Y Ban.
Cùng với các nhà văn, nhà thơ nữ đương thời: Lê Minh Khuê, Võ Thị Hảo, Lý
Lan, Nguyễn Thị Thu Huệ, Phan Thị Vàng Anh,... Y Ban là cây bút thể hiện rõ những
cảm nhận, trải nghiệm táo bạo, tể nhị về giới mình trong các sáng tác văn học. Các tiểu
thuyết, truyện ngắn của Y Ban viết về những điều nhà văn suy ngẫm. Y Ban luôn đứng
về phía những người phụ nữ chịu đau khố, thiệt thòi. Bằng tài năng của mình nhà văn
đã mang tiếng nói của giới mình đến đông đảo công chúng, đồng thời thê hiện tiếng
nói đòi bình đăng giới của tác giả trong xã hội hiện nay.
Có thể nói, âm hưởng nữ quyền được thể hiện đậm đặc trong các sáng tác của nhà
văn Y Ban. Ý thức nữ quyền trở thành sợi chỉ đỏ, định hướng và xuyên suốt quá trình
sáng tác của chị. Với số lượng tác phẩm lớn, chủ yếu là tiểu thuyết và truyện ngắn, Y
Ban đã bộc lộ cảm quan riêng của mình về người phụ nữ đồng thời góp thêm một tiếng


nói vào cuộc đấu tranh bình đẳng giới đã và đang phát triển trong văn học Việt Nam
những năm gần đây.
Trang văn của Y Ban cất lên để ca ngợi, khắng định vẻ đẹp, vai trò, thiên


chức của người phụ nữ, cũng như khẳng định những khát vọng sống mãnh liệt của


quà (Y Ban),...” hay “Văn học cách mạng không thể có phụ nữ ngoại tình vì đã là người
nữ anh hùng không thể có hành vi phi đạo đức. Ngược lại, các nhà văn hôm nay rất sính
nói chuyện đàn bà ngoại tình, ngoại tình công khai, ngoại tình nén lút, ngoại tình xác
thịt hay ngoại tình bằng những giấc mơ (Người đàn bà và những giấc mơ - Y Ban)”
[15]. Xoay quanh vấn đề truyện ngắn và ý thức phái tính trong văn xuôi Y Ban còn có
những bài viết như: Nhà vãn Y Ban và đàn bà xấu, Nhà văn Y Ban: Phụ nữ ...đến

cái tuổi này thì mọi cải đều dễ giải tỏa,... Đáng chú ý là các bài viết của các tác giả:
Lê Thị Hương Thủy, Vũ Thị Oanh, Phong Lê. Tuy nhiên những bài viết về sáng tác của
Y Ban trên các báo và tạp chí chưa thực sự phong phú về số lượng và khảo sát chưa sâu.
Các tác giả chỉ dừng lại tìm hiêu một số tác phấm tiêu biêu, nhận diện tác giả mà chưa
nghiên cún cụ thế các bình diện của tác phẩm hoặc hệ thống hóa tác phẩm. Nhưng trên
các báo mạng và các diễn đàn văn nghệ ta sẽ thấy một không khí sôi nổi, thang thắn, tự
do khi trao đồi về những tập truyện ngắn của Y Ban.
2.2. Các bài viết, trao đổi về sáng tác của Y Ban trên các diễn đàn và báo mạng
Trong bài phỏng vấn do Hoàng Thu Phố thực hiện khi cuốn Hành trình của tờ

tiền giả ra mắt, Y Ban bày tỏ việc chị “đánh giá cao độc giả hơn các nhà phê bình văn
học” là “điều hiển nhiên”. Vì chị cho rằng: “Bạn đọc là người thông minh nhất” và chị
“hoàn toàn tôn trọng ý kiến của độc giả”. Bài viết “Y Ban — hành trình đến tận cùng
thế tục” trên www.vỉetimes, tác giả Hoàng Tố Mai đã hệ thống lại những sự kiện đặc
biệt của truyện ngắn cẩm cù và đưa ra những chiêm nghiệm cùng tác giả Y Ban. Cũng
trên trang này Xuân Anh có bài viết về nhà văn Y Ban có tựa đề “Buồn ơi! Y Ban chào
mi!”. Có thể nói tập truyện I am đàn bà đã tạo nên một làn sóng tranh luận trên các
diễn đàn. Trong đó có những lời khen và cả những phản hồi trái chiều. Những ý kiến
trái chiều cũng có lý lẽ của họ nhưng nên chăng họ cần đặt nó trong hệ thống những sự
kiện khác đê thấy được toàn bộ giá trị của tác phâm đê tránh cái nhìn chủ quan, phiến
diện theo khía cạnh dung tục tầm thường. Ngoài ra, khi tác phẩm Xuân Từ Chiều của
Y Ban được xuất bản (6/2008 của NXB Phụ Nữ) trên báo mạng đã liên tục có nhiều bài



-

Phương pháp thống kê

-

Phương pháp so sánh

-

Phương pháp phân tích tổng hợp

6. Đóng góp của khóa luận
Trên cơ sở những khái niệm được xác lập,

khóa luậnđi sâu tìm

hiểu sự

biểu hiện ý thức nữ quyền trong văn xuôi của Y Ban, từ đó chỉ ra giá trị của ý thức nữ
quyền trong việc biểu đạt quan niệm thẩm mỹ của nhà văn. Với khóa luận này, chúng
tôi hy vọng góp phần làm rõ những nét độc đáo trong ý thức nữ quyền của Y Ban nói
riêng, đồng thời khẳng

định sức mạnh và ưu thế của

dòng văn học nữ Việt Nam hiện đại nói chung.
7. Cấu trúc của khóa luận

và Việt Nam, phong trào nữ quyền gắn liền với phong trào cứu quốc và nữ giới sát cánh
cùng nam giới có tư tưởng tiến bộ để vừa đấu tranh giải phóng dân tộc, vừa cởi trói cho
giới của mình khỏi những ràng buộc cũ của xã hội. Chính vì vậy, trào lưu nữ quyền ở
phương Đông không diễn ra một cách mạnh mẽ, độc lập và có tính đối kháng với nam
giới quyết liệt như ở phương Tây. Đây không phải là cuộc đấu tranh của một giới phản
kháng lại một giới mà là cuộc đấu tranh chung của một cộng đồng xã hội có tư tưởng
cấp tiến về giới chống lại những hệ tư tưởng cổ hủ áp bức người phụ nữ.
Đây là một khái niệm khá quen thuộc với con người thời hiện đại, có mức độ phô
biến rộng trong phạm vi xã hội. Tuy nhiên, với nội hàm và ngoại diện của nó, khái niệm
này lại gây nên những phản ứng khác nhau. Do đặc thù lịch sử, văn hóa, chính trị, xã
hội... vấn đề nữ quyền ở mồi quốc gia, mỗi dân tộc lại khác nhau.
Chủ nghĩa nữ quyền là một hiện tượng hết sức phức tạp, mang tính lịch sử, dân
tộc. Nó bao gồm nhiều xu hướng và giai đoạn đấu tranh khác nhau. Theo các nhà
nghiên cứu chủ nghĩa nữ quyền thì quá trình phát triên của chủ nghĩa nữ quyền có thể
được khái quát thành ba xu hướng tương ứng với ba làn sóng nữ quyền, đó là:


Làn sóng nữ quyền thứ nhất (The First Wave of feminism) diễn ra vào cuối thể kỉ
XIX. Ở giai đoạn này, phụ nữ đấu tranh chủ yểu đòi các quyền lợi như: đòi trả lương
ngang bằng với nam giới, đòi tăng lương và giảm giờ làm, quyền được bầu cử, quyền
được mở rộng ngành nghề đối với phụ nữ...

Làn sóng nữ quyền thứ hai (The Second Wave of
feminism) diễn ra tù’ năm 1918 đến 1968. Người khởi
xướng của làn sóng nữ quyền giai đoạn này là nữ văn sỹ
Pháp Simone de Beauvoir (1908 - 1986) cùng với tác
phẩm nổi tiếng Giới tỉnh thứ hai (1949). Đây là công trình
đặt nền móng cho việc nghiên cứu phụ nữ từ góc nhìn
giới (gender). Nó đưa đến một


Beauvoir, “người ta không sinh ra là phụ nữ, người ta trở thành phụ nữ”. Hai, cơ chế
tiêu biểu nhất trong việc đàn áp phụ nữ chính là nền văn hoá phụ quyền, hay thỉnh
thoảng, với một số nhà nữ quyền, còn được gọi là nền văn hoá duy dương vật
(phallocentric culture). Và ba, nhiệm vụ của các cây bút nữ không phải chỉ là chống lại
mọi hình thức áp chế của nam giới mà còn phải cố gắng xác định một thứ mỹ học riêng
của nữ giới, tù' đó, thiết lập nên những điển phạm riêng, và cuối cùng, xây dựng những
tiêu chí riêng trong việc cảm thụ và đánh giá các hiện tượng văn học.
Nói đến những khác biệt giữa giới tính nam và nữ, người ta thường căn cứ trên
năm yếu tố chính: sinh lý, kinh nghiệm, vô thức, các điều kiện kinh tế, xã hội và diễn
ngôn. Ngày xưa (và hiện nay vẫn còn, ở một số nơi nào đó trên thể giới), người ta căn
cứ chủ yếu vào yểu tố sinh lý để chứng minh phụ nữ là những “người đàn ông bất toàn”
(imperfect men), là những kẻ không có gì cả, trừ... tử cung (tota mulier in utero /
woman is nothing but a womb); sau, dưới ảnh hưởng của Freud, người ta xem phụ nữ là
những kẻ không có cu và không lúc nào không bị day dứt bởi mặc cảm bị thiến
(castration complex). Một số nhà nữ quyền luận muốn chứng minh ngược lại: chính nhờ
một số đặc điêm riêng biệt về sinh lý, như việc có kinh, có thai, có sữa và sinh đẻ,
người phụ nữ có quan hệ gần gũi và mật thiết với thế giới vật lý và với hiện thực nói
chung hơn hẳn đàn ông. Những phân tích này dẫn một số nhà nữ quyền luận đến với
phân tâm học: trong khi nam giới, khi chớm có ý thức, đã phải tách ra khỏi mẹ của
mình để nhập vào thế giới phụ quyền của bố, phụ nữ, ngược lại, ở mãi với mẹ, xây
dựng bản sắc của mình bên cạnh mẹ. Những chọn lựa ban đầu này hằn trong vô thức
của hai giới những dấu ấn không dễ gì phai nhạt:
nam giới hay nghĩ đến quyền, nữ giới hay nghĩ đến trách nhiệm; nam giới thích
những sự thay đối, nữ giới thích sự ôn định; nam giới thích thứ trật tự phân cap
(hierarchical orders), nữ giới thích sự hài hoà. Các nhà Mác-xít tìm cách giải thích
những khác biệt và nhất là cách biệt giữa nam và nữ ở các điều kiện kinh tế và xã


hội, từ hệ thống giáo dục đến cách phân công lao động và cách tổ chức gia đình, vốn
có truyền thống nằm trong tay nam giới và ưu tiến dành hăn cho nam giới.

nam giới luôn


luôn đóng vai trò thống trị.
Trong lĩnh vực văn học, Annis Pratt cho phê bình nữ quyền luận nhắm đến bốn
mục tiêu chính: một, cố gắng phát hiện và tái phát hiện các tác phẩm văn học của phụ
nữ; hai, phân tích và đánh giá các khía cạnh hình thức văn bản của các tác phẩm ấy; ba,
tìm hiểu xem những tác phẩm ấy đã phản ánh quan hệ nam nữ ra sao; và bốn, mô tả
những sự phát triển của các yếu tố liên quan đến huyền thoại và tâm lý liên quan đến
người phụ nữ trong văn học. Tuy nhiên, không phải ai cũng đồng ý với những mục tiêu
này. Lillian s. Robinson lý luận là bốn mục tiêu ấy xác lập trên cơ sở bốn cách tiếp cận
quen thuộc dựa trên: thư mục, văn bản, chu cảnh (hay xã hội học) và phê bình theo
khuynh hướng cố mẫu (archetypal criticism), và cả bốn đều là sản phâm của nam giới.
Bởi vậy, nhiệm vụ của các nhà phê bình nữ quyền luận là phải xa lánh thay vì đi theo
các cách tiếp cận ấy. Elaine Showalter cổ xuý cho sự ra đời của cái bà gọi là “nữ phê
bình gia” (gynocritics), bên cạnh loại phê bình nữ quyền (feminist critique) đã có, ở đó,
phụ nữ chỉ tham dự với tư cách người đọc. “Nữ phê bình gia” có nhiệm vụ xác lập cái
khung lý thuyết và mỹ học riêng đê phân tích các tác phâm văn học của phụ nữ, đê phát
triên những mô hình phê bình dựa trên kinh nghiệm riêng của phụ nừ hơn là chỉ tiếp
nhận những mô hình và lý thuyết do nam giới dựng nên. Trên thực tế, tham vọng thoát
ra ngoài các lý thuyết được xem là mang dấu ấn phụ quyền đã có không phải là điều dễ.
Bản thân cách tiếp cận dựa trên văn bản của Showalter cũng chỉ là một sự thừa kế muộn
màng của Phê bình mới vốn thịnh hành mấy thập niên trước đó mà thôi. Hầu hết các
nhà phê bình nữ quyền luận khác đều nằm trong những cái khung quen thuộc khác:
hoặc phân tâm học hoặc hậu cấu trúc luận hoặc Mác-xít (còn được gọi là chủ nghĩa nữ
quyền duy vật, materialist feminism). Một lý thuyết và một phương pháp luận thực sự
riêng biệt dành cho nữ giới hình như vẫn còn là một hoài bão.
Như vậy, trong phê bình văn học, ý thức nữ quyền thể hiện qua phong trào phê
bình nữ quyền, các nhà phê bình thuộc trường phái này chủ trương, dù là nam hay nữ




cảnh này nhân vật của tôi vin vào tam tòng tứ đức, trong hoàn cảnh khác lại vin
vào cái quyền con người hiện đại, và tôi nghiêng về bên người phụ nữ phải sống
như cải quyển họ được sổng”[ 15]. Với quan niệm như vậy, nhân vật nữ trong tác
phẩm của Y Ban được xây dựng dựa trên ý thức nữ quyền sâu đậm, sắc sảo trong con
người Y Ban. Khảo sát các tác phấm văn xuôi Y Ban, ta thấy người phụ nữ trở thành
trung tâm tác phẩm của chị và là những đứa con Y Ban gửi gắm tiếng nói đòi các quyền
bình đẳng như đàn ông của nữ giới.
2.1.1.

Người phụ nữ với khát vọng hạnh phúc đời thường
Có thể thấy rõ chưa bao giờ hình tượng người phụ nữ lại được đặt ở vị trí trung

tâm và trọng tâm trong những trang viết của các nhà văn như hiện nay, đặc biệt là trong
sáng tác của các tác giả nữ. Có lẽ chính cuộc sống hiện đại “bộn bề bóng tối và ánh
sáng” khiến người ta không khỏi thấp thỏm, lo lắng về số phận con người, nhất là thân
phận đàn bà. Hơn ai hết, những người phụ nữ chính là những người cần một cuộc sống
bình yến thực sự, bình yên trong tâm hồn và trong cả những khát khao hạnh phúc
thường nhật.
Thấu hiểu điều này, ngòi bút của Y Ban đã hướng vào khai thác chủ đề khát vọng
làm giàu và cuộc sống no đủ về vật chất của người phụ nữ. Điều này được thê hiện
trong nhiều tác phâm của Y Ban. Ước mơ của người phụ nữ trong ỉ am đàn bà là mơ
ước đổi đời, mơ ước một ngôi nhà không bị dột nát, mơ những đứa con được ăn ngon
mặc đẹp... Nhiều tác phấm của nhà văn
Y Ban đã đặt nhân vật nữ của mình vào thời kì đất nước thời hậu chiến còn bao khó
khăn, vất vả khi mà cuộc sống mưu sinh, cơm áo gạo tiền đè nặng trên đôi vai của các
bà, các mẹ. Đe nhân vật của mình trong những hoàn cảnh như vậy, Y Ban thắng thắn
nói lên những khát vọng bình dị của người phụ nữ, tôn vinh vẻ đẹp tâm hồn họ.
Truyện ngắn Danh dự ra đời vào năm 2007, nhưng bối cảnh trong tác phẩm lại là

Quy được Huy lấy về làm vợ nhưng với mục đích là đê cô
chăm sóc cho mẹ già ở quê cho “trọn vẹn với gia đình
mà thôi chứ anh Huy thì lờ dở cả” [8, Tr.47]. Chị Quy
khi về nhà chồng vốn là một cô gái 17 tuôi, trẻ trung
và có nhan sắc nhưng được mẹ chồng lấy làm dâu chứ


trong mắt anh Huy không hề coi Quy là một người vợ
đích thực, thậm chí có những lúc: “Anh Huy nhìn cái
mặt của chị Quy mà phát ghét. Anh ghét cái bộ mặt cam
chịu. Anh ghét cái bộ mặt cứ cúi nhìn xuống. Anh ghét
cái bộ mặt lúc nào cũng bẽn lẽn trước anh. Anh chỉ
muốn đánh đuổi đi” [8, Tr.50]. Cũng như bao người phụ
nữ khác, về nhà chồng Quy tháo vát thu vén công việc
nhà chồng, và là một người phụ nữ đẹp người đẹp nết.
Nhưng cuộc hôn nhân không đến bằng tình yêu đã khiến
Quy nhanh chóng rơi vào bi kịch không có được tình yêu
của chồng. Anh Huy công tác trên thành phố nên lấy một
người vợ khác và có một đứa con. Ngày anh đưa con về
ra mắt họ hàng và đòi bỏ Quy cũng là ngày chị đối mặt
với bi kịch tan võ' hạnh phúc gia đình. Nhưng nhò' mẹ
chồng, Quy cuối cùng cũng được người chồng cho làm đàn
bà đúng nghĩa. Quy mang bầu, sinh con gái. Khi đứa con
được 13 tuổi và khi anh Huy đã đi gần nửa đời người,
chị Quy mới nhận được sự yêu thương, cảm nhận được
tình yêu mà một người đàn ông dành cho một người đàn
bà. Neu câu chuyện dừng lại ở đây, thì đó được xem là
một cái kết có hậu, đúng như tâm thức dân gian “ở hiền
ắt gặp lành” nhưng Y Ban đã đẩy câu chuyện đến một cái
kết khác, làm cho bạn đọc cảm


qua những chi tiết trần trụi: khi Nấm sống cùng nhà với chị gái, ánh mắt ngưỡng mộ
của cô dành cho anh rê đã khiến anh ta hoảng sợ: “Nhưng mà anh sợ, em có hiếu không.
Em đã bao giờ nhìn thấy ánh mắt da diết của con thú bị xích, khao khát tự do chưa. Anh
đã nhìn thấy ánh mắt đó trong cái nhìn của Nấm” [4, Tr.9], sau đó kiếm cớ đuổi cô đi;
ngay cả người đồng nghiệp già trong lúc say rượu cũng kịp dừng lại ham muốn với
Nấm vì chê cô xấu. Đỉnh điêm là khi một người đàn ông ở nước ngoài yêu Nấm qua
những lần chat trên mạng, khi về nước gặp Nấm đã nhanh chóng rút lui... Bằng lối viết
nhẹ nhàng, tình cảm, đi sâu vào nội tâm nhân vật, Y Ban đã khiến độc giả đồng điệu
cùng từng nhịp tim của Nấm, bay bống cùng những giấc mơ hạnh phúc và rồi vỡ òa
cùng những đau đớn, xót xa, thất vọng... Xen lẫn với chuyện đời của Nấm là những tác
phẩm mà cô viết ra trong đau khổ. Những truyện ngắn ấy là nơi để Nấm giải tỏa những
ức chế, khát khao về tình yêu, tình cảm gia đình, bạn bè. Với Nấm, cô luôn chuẩn bị
tinh thần cho những tình huống xấu nhất xảy ra, vì thế, khi những hy vọng trở thành
thất vọng, tuy đau đớn nhưng cô vẫn tỉnh táo chấp nhận sự thật. Mỗi lần trải qua một cú
sốc tình cảm, Nấm càng thêm vững vàng và những tác phẩm của cô càng hay hơn. Khắc
họa nhân vật Nấm gắn với bi kịch tinh thần, Y Ban dường như đã khắc nghiệt với nhân
vật của mình. Nhưng ở trang văn Y Ban, nhân vật càng nghiệt ngã bao nhiêu, người phụ
nữ càng thiệt thòi và chịu bất hạnh bao nhiêu thì tiếng nói phản kháng, tố cáo lại những
định kiến xã hội dành cho người phụ nữ lại càng lớn bấy nhiêu. Nấm xấu nhưng tâm
hồn chị luôn đẹp đẽ và đầy niềm tin, khao khát về một tình yêu hạnh phúc... Tạo hoá đã
“say rượu” khi nặn ra Nấm nhưng người phụ nữ ấy cuối cùng vẫn phải bước đi giữa
cuộc đời bằng cả những mong mỏi và hy vọng. Vượt lên trên tất cả, Nấm vẫn không
ngừng tin vào sự thần kỳ của cuộc đời.
Trong các tác phẩm của mình, Y Ban còn viết về khát vọng bản năng được làm mẹ
của người phụ nữ. Trong I am đàn bà, người đàn bà chất phác, khi nhìn thấy một đứa
trẻ sơ sinh bị bỏ rơi trong rừng lúc đầu thị đã hoảng sợ, nhưng ngay sau đó là sự đau
đớn phả ra từ bản năng làm mẹ của thị. Bản năng làm mẹ đã mách bảo thị phải làm gì



thị thủ thỉ nói chuyện, thị hát, thị bóp đầu, xoa bóp chân tay, tắm rửa,... đã khiến ông


chủ dần dần hồi phục bản năng người. Không những thế, bằng cảm giác, bản năng vốn
có của một người phụ nữ đã có chồng, thị từng ngày nhận ra sự trỗi dậy, hồi sinh bản
năng đàn ông của ông chủ. Thị dần vượt qua những ngại ngùng, kéo gần khoảng cách
giữa người giúp việc và ông chủ đế làm người đàn ông chiến thắng bệnh tật. Thị chủ
động trong việc chăm sóc ông chủ, nhất là tác động đến bộ phận sinh dục tưởng chừng
đã chết. Thị quan tâm ông chủ như quan tâm những đứa con trai của mình bằng tình
mẫu tò. Ngày này qua ngày khác, ông chủ cũng làm sống dậy khao khát yêu đương bản
năng trong chị. Thị chủ động dành những hành động “yêu” cho ông chủ như với người
chồng ở quê của mình. Chị mộng mị trong những giấc mơ tình. Và một lần, trong cơn
mộng mị, thị tìm đến phòng ông chủ để thỏa mãn nhu cầu bản năng. Dù nhiều lần người
phụ nữ ấy đã phải đấu tranh giữa lý trí và tình cảm, nhưng xuất phát từ nguyện vọng tự
nhiên của người đàn bà nhân vật người giúp việc đã từng bước, chủ động giải thoát ẩn
ức đó. Điều này làm cho tác phẩm I am đàn bà thể hiện đúng tuyên ngôn của nó rằng:
tôi là người đàn bà. Phụ nữ có quyền chủ động tìm kiếm và giải thoát những ẩn ức về
tình cảm, đặc biệt là tính dục bản năng trong con người.
Người phụ nữ trong truyện ngắn Tự là một người quyết đoán, thẳng thắn trong
hôn nhân. Chị ta chủ động giải thoát bản thân để giải phóng ẩn ức tính dục. Người
chồng thứ nhất là người đầu tiên và duy nhất mang đến cho chị cảm giác yêu đương thật
sự. Chị đã có những ngày tháng thật hạnh phúc, được thỏa mãn cả tình yêu và tình dục.
Thể nhưng niềm hạnh phúc của gia đình trẻ nhanh chóng tan võ' khi người đàn ông trở
thành một người bất lực trong những lần “yêu”. Anh ta cảm thấy có lồi với người vợ
của mình và bỏ nhà ra đi. Trước sự ra đi đó của chồng, người phụ nữ đã không thế sống
trong sự cô đon, chị đã làm quen và tiếp tục có nhũng cuộc yêu hoan lạc với người đàn
ông thứ 2, thứ 3.
Hay nàng trong tác phẩm Nhân tình đã “nổi loạn” vì những nụ hôn cháy bỏng của
nhân tình. Nàng chủ động quyết định cuộc sống của mình với triết lý: “cái gỉ cũng có


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status