TRƯỜNG ĐẠI HỌC sư PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA GIÁO DỤC CHÍNH
TRỊ ===£DB3O3===
NGUYỄN THỊ LINH
VẬN DỤNG Tư TƯỞNG HÒ CHÍ MINH VÈ GIÁO
DỤC NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC HIỆN NAY
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
•
• • •
Chuyên ngành: Tư tưởng Hồ Chí Minh
TRƯỜNG ĐẠI HỌC sư PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
HÀ NỘI - 2015
NGUYỄN THỊ LINH
VẬN DỤNG Tư TƯỞNG HÒ CHÍ MINH YẺ GIÁO
DỤC NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC HIỆN NAY
KHÓA LUẬN TÓT NGHIỆP ĐẠI HỌC
•
• • •
Chuyên ngành: Tư tưởng Hồ Chí Minh
Hà Nội, tháng 5 năm 2015
Tác giả
Nguyễn Thị Linh
HÀ NỘI - 2015
CNH, HĐH:
CNXH:
CĐ:
ĐH:
GD - ĐT:
DANH MỤC CÁC TỪ VIÉT TẮT
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa Chủ nghĩa
xã hội Cao đẳng Đại học
Giáo dục - đào tạo
MỤC LỤC
MỞ ĐÀU
1. Lí do chọn đề tài
Hồ chí Minh được biết đến không chỉ là một nhà quân sự tài ba, mà Người còn
là một vĩ nhân, vị lãnh tụ, người thầy vĩ đại của dân tộc Việt Nam, một danh nhân văn
hóa thế giới. Tư tưởng của Người bao quát nhiều lĩnh vực, là ngọn đèn pha soi sáng
con đường cách mạng Việt Nam đi tới thắng lợi, trong đó có lĩnh vực giáo dục. Người
đã được củng cố và có những thành tựu hết sức to lớn. Sự linh hoạt và lĩnh hội kiến
thức của sinh viên ngày càng được nhạy bén. Tỷ lệ sinh viên ra trường với bằng khá,
giỏi được tăng lên và nhận được việc làm ngay sau khi ra trường. Song bên cạnh đó,
nền giáo dục nước ta vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập mà ngay một lúc không thế giải
quyết được. Như số lượng sinh viên ra trường phải làm trái ngành, không xin được việc
vẫn còn tồn tại nhiều. Ngoài ra chất lượng và đào tạo chuyên môn của nhiều sinh viên
chưa thực sự được nhuần nhuyễn và có hiệu quả...
Với những lý do trên tác giả đã chọn đề tài: “Vận dụng tư tuỏng Hồ Chí Minh
về giáo dục nhằm nâng cao chất lượng đào tạo đại học hiện nay” làm khóa luận tốt
nghiệp của mình.
2. Lịch sử nghiên cún vấn đề
Cho đến nay có nhiều bài viết, nhiều công trình nghiên cứu tư tưởng giáo dục
Hồ Chí Minh. Đó là:
♦♦♦ Nhóm cống trình là sách
-
Những lời Bác Hồ dạy thanh thiếu niên và học sinh (1993), Nxb Thanh
Niên, Hà Nội.
-
Nguyễn Khánh Bật (1998), Những bài giảng về môn tư tưỏng Hồ Chí Minh,
Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
-
Văn Tùng (1999), Tìm hỉêu tư tưởĩĩg Hồ Chí Minh về giáo dục thanh niên,
NxbThanh niên, Hà Nội.
3. Mục đích và nhiệm yụ nghiên cứu đề tài
3.1.
Mục đích
Mục đích của đề tài là hệ thống hóa tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục và tìm
hiếu sự vận dụng tư tưởng giáo dục Hồ Chí Minh nhằm nâng cao chất lượng đào tạo
đại học hiện nay.
3.2.
Nhiệm vụ
Một là, tìm hiêu nguồn gốc hình thành và quá trình phát trien tư tưởng Hồ Chí
Minh về giáo dục.
9
Hai là, hệ thống hóa những nội dung chủ yếu của tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo
dục.
Ba là, chỉ ra thực trạng chất lượng giáo dục đại học và góp phần đưa ra một số
giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo đại học hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí
Minh về giáo dục.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cún
4.1.
Đối tưọng
Khóa luận tập trung nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục và sự vận
Nguồn gốc, quá trình hình thành và phát triển tư tưởng Hồ Chí
Minh về giáo dục
1.1.1.
Nguồn gốc hình thành tư tường Hồ Chí Minh về giáo dục
ì. ì. 1.1.Truyền thống hiếu học, tôn sư trọng đạo của dân tộc Việt Nam là một quốc
gia có nền văn hiến, có nền giáo dục lâu đời với những ngôi sao rực sáng trên “Bầu
trời văn hóa giáo dục” như: Chu Văn An, Nguyễn Bỉnh Khiêm... nhân dân ta lại có
truyền thống hiếu học, cần cù, tôn sư trọng đạo. Trong văn học dân gian có nhiều câu
tục ngữ, ca dao, dân ca và truyện kế nói về truyền thống này:
-
Muốn sang thì bắc cầu kiều Muôn con hay chữ thì yêu
lây thây
-
Nhất tự vỉ sư, bản tự vi sư Người Việt chúng ta luôn đề cao vai trò của người
thầy, vai trò của giáo dục. Thầy sẽ dạy cho trò đạo lý làm người , bởi “Tiên học
lễ, Hậu học văn”. Học là để làm người, rồi sau đó giúp đời, giúp người, giúp
nước.
Đối với mỗi cá nhân, học thức sẽ giúp con người hình thành và phát triền nhân
cách theo đúng chữ “con người”. Còn đối với mỗi quốc gia, dân tộc thì học thức được
coi là tài sản vô giá. Bia Văn Miếu (Hà Nội) có ghi, Hiền tài là nguyên khí của quốc
gia, nguyên khí mạnh thì nước thịnh VCI lên can, nguyên khí yếu thì thế nước vong và
yếu.
Minh không chỉ gắn tình yêu của mình vào con người, vào đồng loại, rộng lượng đối
với kẻ thù, chấp nhận độc thoại giữa các chính kiến, mà còn quan tâm sâu sắc hơn đến
việc thực hiện, việc giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội và con
người. Yêu con người, Hồ Chí Minh đã tìm mọi phương thức mang lại tự do cho con
người. Triết lý “Không có gì quý hon độc lập, tự do” của Người chính là hệ quả của
cách tiếp thu lòng nhân ái bao la của các bậc đại trí, đại nhân tiền bối.
Ngoài ra, còn có thế tìm thấy nhiều trích dẫn khác nữa về các nhà tư tưởng
phương Đông như: Lão Tử, Mặc Tử, Quản Tử...trong các bài nói, bài viết của Hồ Chí
1
2
Minh. Cũng như sau này, khi đã trở thành người mác-xít, Nguyễn Ái Quốc vẫn tìm
hiếu thêm về Chủ nghĩa Tam dân của Tôn Trung Sơn và tìm thây trong đó “những điêu
thích hợp với điêu kiện nước ta”. Các tiêu chí của chủ nghĩa Tam dân là dân tộc - độc
lập; dân quyền - tự do; dân sinh - hạnh phúc đã được Hồ Chí Minh rút gọn trong quốc
hiệu của Việt Nam “Độc lập - Tự do - Hạnh phúc”. Là người mác-xít tỉnh táo và sáng
suốt, Hồ Chí Minh đã biết khai thác những yếu tố tích cực của tư tưởng và văn hóa
phương Đông để phục vụ cho sự nghiệp cách mạng nước ta.
Nhận thức rõ vai trò và tầm quan trọng của giáo dục, Hồ Chí Minh đã nói, Vì lợi
ích mười năm thì phải trồng cây. Vì Lợi ích trăm năm thì phải trồng người. Như vậy,
nền tư tưởng giáo dục Phương Đông đã có tầm ảnh hưởng tương đối lớn đối với tư
tưởng giáo dục của Người.
♦♦♦ Phương Tây
Trên hành trình đến với văn hoá nhân loại, Hồ Chí Minh chịu ảnh hưởng của văn
hoá Phương Tây trước tiên và có lẽ nó cũng để lại những dấu ấn sâu đậm trong tư
tưởng và phong cách văn hoá của Người.
Trong ba mươi năm hoạt động cách mạng ở nước ngoài, Hồ Chí Minh sống chủ
yếu ở châu Âu nên cũng chịu ảnh hưởng rất sâu rộng của nền văn hóa dân chủ và cách
những triết lý và tỏ rõ cả minh triết dân chủ của
Người luôn thống nhất hữu cơ với phương pháp dân chủ, nhất là phương pháp thực
hành dân chủ với phong cách dân chủ, thể hiện đậm nét trong ứng xử dân chủ của Hồ
Chí Minh.
Như vậy, con đường Hồ Chí Minh tiếp biến các giá trị văn hoá nhân loại là lựa
chọn, tích hợp những nhân tố tiến bộ, hợp lý, cải biến nó cho phù hợp với truyền thống
văn hoá dân tộc và nhu cầu đất nước đế tạo ra cách làm riêng, không vay mượn nguyên
xi một mô hình ngoại lai nào, tức là tiếp thu trên cơ sở phê phán, tiếp nhận gắn liền với
đối mới, theo các tiêu chí: “Dân tộc, Dân chủ và Nhân văn”.
1.1.1.3. Tiếp thu chủ nghĩa Mác - Lê nin về giáo dục Trong tác phâm Tuyên ngôn
của Đảng cộng sản, Mác - Ảngghen đã đưa ra quan điếm “phát trien con người
1
4
toàn diện”. Một trong những yêu cầu đế thực hiện điều đó là phải chú trọng,
quan tâm đến giáo dục con người.
Ke thừa tư tưởng giáo dục của Mác - Ăngghen. Sau này, Lênin đã đưa ra một
khấu hiệu nối tiếng “//ợc, học nữa và học mãi Hồ Chí Minh đã tiếp thu và thấy rằng ,
khấu hiệu đó chính là một lời khuyên, một quan niệm đúng đắn. Điều quan trọng mà
việc học mang lại chính là tri thức, một tri thức lớn lao, thứ tri thức quý giá của nhân
loại. Nó là điểm đến có giới hạn đối với sức của mỗi người mà họ đã tự’ đặt mục tiêu
cho mình, đế có sự cố gắng học thật nhiều hơn nữa. Khấu hiệu này đến nay đã được
đưa vào rộng rãi trong các trường học ở nước ta.
Ngoài ra khi nhắc đến sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn. Người viết: Trong
khi nhấn mạnh sự quan trọng của lý luận, đã nhiều lần đồng chí Lênin nhắc đi nhắc lại
rằng lý luận cách mạng không phải là giáo điều, nó là kim chỉ nam cho hành động cách
mạng; và ]ý luận không phải là một cái gì cứng nhắc, nó đầy tính chất sáng tạo; ]ý luận
luôn ỉuôn cần được bo sung bằng những kết luận mới rút ra từ trong thực tiễn sinh
chẽ công việc cách mạng với dạy học, bắt đầu từ “thầy giáo Nguyễn Tất Thành” ở
Trường Dục Thanh (Phan Thiết).
Tuy thời gian dạy ở Trường Dục Thanh không dài, song cũng không thế hiện
đầy đủ phấm chất, tư cách của thầy giáo yêu nước Nguyễn Tất Thành.
Rời Trường Dục Thanh, thầy giáo Nguyễn Tất Thành vào Sài Gòn rồi đi ra nước
ngoài. Từ thầy giáo Nguyễn Tất Thành (ở Phan Thiết) đến nhà cách mạng Nguyễn Ái
Quốc (ở Pháp), đồng chí Vương, Lý Thụy (ờ Trung Quốc), Thào Chín (ở Thái Lan), rồi
Già Thu (ở Pắc Bó). Ở bất cứ đâu, trong bất cứ hoàn cảnh nào, lãnh tụ Hồ Chí Minh
đều kết hợp chặt chẽ những công việc cách mạng với giáo dục. Với Người, cách mạng
là giáo dục, giáo dục là đê phục vụ cách mạng
♦> 1911 - 1930: Hồ Chí Minh đến với tư tưởmg giáo dục chủ nghĩa Mác - Lê
nin
Trong quá trình tìm đường cún nước (1911- 1920), Hồ Chí Minh đã gắn cuộc
chiến tranh giành độc lập với cuộc chiến tranh chống chế độ giáo dục nô lệ, đòi một
nền giáo dục dân tộc tiến bộ.
Bản “yêu sách của nhân dân An Nam” gửi Hội nghị Vecsai (1919) có điều
khoản đòi: “Tự do học tập thành lập các trườĩĩg kĩ thuật và chuyên nghiệp ở tất cả các
1
6
tỉnh cho người bản xử' [2; 435]. Hồ Chí Minh lên án, tố cáo tội ác mọi mặt của bọn
thực dân ở các nước thuộc địa, buộc tội đanh thép chính sách ngu dân của chúng:
“Nhân dãn Đông Dương khân khoản đòi mở trườìĩg học vì trường học thiếu một cách
nghiêm trọng. Môi năm, vào kì khai giảng môi phụ huynh phải đi gõ cửa, chạy chọt
mọi nơi than thế, có khi chịu trả gấp đôi tiền nội trú nhưng vãn không tìm được chô
cho con học. Và hàng ngàn trẻ em phải chịu ngu dốt vì nạn thiếu trưcmg học... Làm
cho dân ngu đế trị, đó là chính sách mà các nhà cầm quyền ở các nước thuộc địa của
chúng ta ưa dùng nhất ” [3; 98].
phần lớn trong thời gian sống ở đất nước Xô Viết lần này Hồ Chí Minh được bố trí học
tập, nghiên cứu.
Trong cuộc đấu tranh chống sự thống trị của bọn thực dân, đế quốc cho xây
dựng một xã hội độc lập, tự do, văn minh, tiến bộ, Hồ Chí Minh giành cho giáo dục
một vị trí quan trọng. Chương trình Việt Minh (1941) mà Người chủ trì soạn thảo ghi
rõ:
... “C - Văn hóa giảo dục:
1. Hủy bỏ nền giáo dục nô lệ. Gây dụng nền quốc dân giáo dục, cumig bức giáo
dục từ bậc sơ học. Môi dân tộc có quyển dùng tiếng mẹ đẻ trong nền giáo dục
dân tộc mình.
2. Lập các trường chuyên môn huấn luyện chính trị, quân sự, kĩ thuật để đào tạo
các lớp người khác.
3. Khuyến khích và giúp đỡ các hạng trí thức được phát trien tài năng của họ.
4. Khuyến khích và giúp đờ nền giáo dục quốc dân, làm cho nòi giong càng thêm
vững mạnh.
D - Đoi với các tầng lớp nhân dân
...4. Học sinh. Bỏ học phí, bỏ khai sình hạn tuôi, mở thêm trườiĩg học, giúp đỡ
học trò nghèo.
E - Xã hội
... Lập ấu trì viên đế chăm nom trẻ con ” [4; 584]
♦♦♦ 1945 -ì969: Hình thành một triết lý Hồ Chí Minh về giáo dục
1
8
Sau thắng lợi của cách mạng tháng tám, Hồ Chí Minh đã bắt tay ngay vào việc
xây dựng một nền giáo dục mới “dân tộc - khoa học - dân chủ và đại chúng”. Ngay sau
khi tuyên bố độc lập, ngày 3 tháng 9 năm 1945, trong phiên họp đầu tiên của Chính
phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu ra ba kẻ thù chính cần phải đấu tranh tiêu diệt, đó là
Năm 1954, sau khi Miền Bắc hoàn toàn giải phóng và tiến hành xây dựng Chủ
Nghĩa Xã Hội, Đảng và Nhà nước lại tiến hành cuộc cải cách giáo dục lần thứ hai
(1956) để phát triển giáo dục dân chủ nhân dân tiến lên xây dựng nền giáo dục Xã Hội
Chủ Nghĩa.
1
9
Thời kì 1945 - 1969 cũng là thời kì Hồ Chí Minh tiếp tục hoàn thiện tư tưởng
giáo dục của mình trên mảnh đất hiện thực của công cuộc kháng chiến - kiến quốc của
cả dân tộc.
1.2.
Nội dung tư tưỏTig Hồ Chí Minh về giáo dục
Hồ Chí Minh không đưa ra một khái niệm hoàn chỉnh về giáo dục, nhưng
Người đã đưa ra quan điếm hết sức sâu sắc và mới mẻ về vai trò, mục đích, nội dung và
phương pháp giáo dục. Sự đóng góp quan trọng về nhiều mặt của HÒ Chí Minh trong
các lĩnh vực văn hoá, giáo dục đã hình thành nên triết lý giáo dục HÒ Chí Minh.
1.2.1.
Hồ Chí Minh phê phán giáo dục thực dân phong kiến
Thứ nhất, Người phê phán nền giáo dục phong kiến là nền giáo dục kinh viện xa
rời thực tiễn, coi kinh sách của thánh hiền là đỉnh cao của tri thức. Giáo dục phong kiến
hướng tới kẻ sỹ, người quân tử, bậc trượng phu, phụ nữ bị tước quyền học hành. Trong
nền giáo dục thực dân, không mở mang trí tuệ, thực hiện ngu dân. Đó là nền văn hoá
đồi bại, xảo trá và nguy hiêm hơn cả sự dôt nát.
bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành” [5; 161].
Trong nhừng năm bôn ba ở nước ngoài, Người đã nhiều lần tố cáo tội ác của
thực dân Pháp ở Đông Dương trước nhân dân thế giới, nơi mà được chúng “khai hóa
văn minh” đã dẫn đên thảm trạng “nhà tù nhiêu hơn trường học” nơi mà chúng thực thi
chính sách dã man “làm cho dân ngu đế trị” [12; 99].
Mặc dù chính quyền thực dân có mở một vài Trường Đại học ở Đông Dương
nhưng thực chất là để đào tạo những tên tay sai bán nước. Hồ Chí Minh nhận xét:
“Mục đích giảo dục nô lệ của thực dân phong kiến chỉ đê đào tạo nhũng tri thức nô lệ
đế hậu tạ chúng” [8; 456].
Còn đối với Người, con người là vốn quý nhất. Thắng lợi của một sự nghiệp hay
sự hưng thịnh, tồn vong của một quốc gia, suy cho cùng phụ thuộc vào con người, vào
sự nghiệp “trồng người’’ trong đó giáo dục giữ vai trò chủ yếu. Người không đồng tình
với quan điểm của tư sản khi tuyệt đối hóa vai trò giáo dục là vạn năng. Cũng không
nhất trí với quan niệm truyền thống “Cha mẹ sinh con, trời sinh tính”, thực chất là xem
nhẹ, dẫn đến phủ định vai trò của giáo dục. Mà Người cho rằng, giáo dục góp phần vào
việc rèn luyện con người, hình thành nhân cách con người, song đấy chỉ là “phần
nhiều” mà thôi:
Hiên dữ phải đâu là. tỉnh săn Phân nhiêu do giáo dục mà nên
2
1
Trong bối cảnh đất nước được giải phóng chính quyền đã về tay nhân dân, công
tác giáo dục đã được Hồ Chí Minh đặt lên như một nhiệm vụ chiến lược, cấp bách. Bởi,
chỉ thông qua giáo dục - đào tạo thì trình độ dân trí mới được nâng cao, khả năng giác
ngộ cách mạng cũng tốt hơn và đặc biệt trong quá trình xây dựng đất nước Việt Nam
mới, chúng ta mới có thể đẩy nhanh tiến độ đế sánh vai cùng các nước trên thế giới.
Nhấn mạnh vai trò của giáo dục trong Thư gửi các học sinh nhân ngày khai
trường đầu tiên của nước Việt Nam dộc lập, Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Non song Việt Nam
Nội dung giáo dục - giáo dục toàn diện
Đế hoàn thiện con người, Hồ Chí Minh chủ trương xây dựng một nền giáo
dục toàn diện bao gồm cả đức dục, thể dục, trí dục và kĩ thuật tống hợp. Tháng
8/1960 trong Thư gửi cán bộ giáo dục, học sinh, sinh viền các trường các lớp bô túc
văn hóa, Người chỉ rõ: “Trong việc giáo dục học tập, phải chú trọng các mặt: Đạo
đức cách mạng, giác ngộ xã hội chủ nghĩa, văn hóa, kĩ thuật, lao động, sản xuất”.
Đây là những nội dung giáo dục hết sức căn bản, gắn bó chặt chẽ với nhau, làm nền
tảng cho sự phát triển con người Việt Nam.
1.2.3.1. Giáo dục chính trị tư tưởng Đây là một nội dung căn bản trong tư
tưởng giáo dục Hồ Chí Minh, việc giáo dục chính trị - tư tưởng phải được cụ
thể hóa, phù hợp với từng cấp học, ngành học, phù hợp với chương trình và
mục tiêu đào tạo.
Tại Hội nghị toàn quốc lần I về công tác huấn luyện và học tập, ngày
6/5/1950, Người nói: “Học sửa chữa tư tưởng... học đê tin tưởng, tin tưởng vào
đoàn thê, tin tưởng vào nhân dân, tin tưởng vào tương lai của dân tộc, tin tưởng vào
tương lai của cách mạng[7; 50]
Người nhắc nhở phải coi trọng việc học tập lý luận, coi lý luận là kim chỉ
nam đê thực hiện tiến hành công việc thực tế, Người nhắc: “Không có lý luận thì
lung túng như nhắm mat mà đi... vì kém lý luận cho nên gặp mọi việc
không biết xem xét cho rõ, cân nhắc cho đủng, xử lý cho khéo. Không biết nhận rõ điêu
kiện hoàn cảnh khách quan, ỷ mình nghĩ thê nào làm thê ây. Kêt quả thường thất” [6;
234].
HÒ Chí Minh coi lý luận không phải là kết quả của sự tự biện, là một mớ giáo
điều máy móc, dập khuân, mà: “Lý luận là đem thực tế trong lịch sử, trong kinh
2
3
“Yêu Tô quốc: Cái gì trái với quyển lợi của Tô quốc chúng ta kiên quyết chống
lại.
2
4
-
Yêu nhân dân: Việc gì hay người nào phạm đến lợi ích chung của nhân dân,
chúng ta kiên quyết chông lại.
- Yêu lao động: Ai khinh rẻ lao động, chúng ta kiên quyết chong lại...
- Yêu khoa học; Cái gì trái với khoa học, chúng ta kiên quyết chong lại.
-
Yêu đạo đức: Chúng ta phải thực hiện đức tính trong sạch, chất phác, hãng hải,
cần kiệm, xóa bỏ hết nhũng vét tích nô lệ trong tư tưởng và hành động” [8; 398
- 399].
1.2.3.3.
Giáo dục văn hóa, trình độ chuyên môn
Sau khi cách mạng tháng tám thành công, mặc dù bận trăm công nghìn việc,
nhưng vấn đề giáo dục vẫn luôn được Người đặc biệt quan tâm. Ngay tại phiên họp
đầu tiên của Hội đồng Chính phủ, Người chỉ rõ: “Nạn dot là một trong những phương
pháp độc ác mà bọn thực dân dạy đê cai trị chúng ta, hơn chín mươi phân trảm đông
bào chúng ta mù chữ. Nhưng chỉ cân ba tháng là đủ đế học đọc, học viết tiếng nước ta
theo vần Quốc Ngữ. Một dân tộc dot là một dân tộc yếu. Vì vậy tôi đề nghị mở một