TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
----------
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
KHÓA 38 (2012 – 2015)
Đề tài:
NGUYÊN TẮC ĐỘC LẬP TRONG XÉT XỬ
LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
Giảng viên hướng dẫn:
Ths. HUỲNH THỊ SINH HIỀN
Bộ môn Luật Hành chính
Sinh viên thực hiện:
LÊ THỊ MỸ HƯƠNG
MSSV: S120029
Lớp: Luật Hành chính - K38
Cần Thơ, 11/2014
NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN
…………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………/.
1.3.5 Nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được b ảo đảm ..................................... 9
1.3.6 Nguyên tắc Tòa án thực hiện chế độ hai cấp xét xử ..................................... 9
1.3.7 Nguyên tắc đảm bảo quyền bào chữa của bị can, bị cáo, quyền bảo vệ
lợi ích hợp pháp của đương sự 10
1.3.8 Nguyên tắc đảm bảo cho những người tham gia tố tụng dùng tiếng nói,
chữ viết của dân tộc .........................................................................................................11
1.3.9 Nguyên tắc đảm bảo mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật ... 11
CHƯƠNG 2. NỘI DUNG CỦA NGUYÊN TẮC ĐỘC LẬP TRONG
XÉT XỬ ......................................................................................................... 13
2.1 ĐỘC LẬP GIỮA CÁC THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ .............................13
2.2 ĐỘC LẬP GIỮA TÒA ÁN CẤP DƯỚI VÀ CẤP TRÊN ......................................14
2.2.1 Độ c lập với Tòa án cấp trên trực tiếp ...........................................................14
2.2.2 Độc lập với Tòa án nhân dân tối cao ............................................................14
2.3 TÒA ÁN ĐỘC LẬP VỚI CÁC CƠ QUAN NHÀ NƯỚC KHÁC .........................15
2.3.1 Độc lập với Viện kiểm sát nhân dân .............................................................15
2.3.2 Độc lập với Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân.............................16
2.3.2.1 Tòa án độc lập với Hội đồng nhân dân ............................................16
2.3.2.2 Tòa án độc lập với Ủy ban nhân dân................................................16
2.4 TÒA ÁN ĐỘC LẬP VỚI CẤP ỦY ..........................................................................16
2.5 HỘI ĐỒNG XÉT XỬ ĐỘC LẬP VỚI CÁC CÁ NHÂN KHÁC ..........................17
2.5.1 Độc lập với Chánh án .....................................................................................17
2.5.1.1 Độc lập giữa Thẩm phán với Chánh án ...............................................17
2.5.1.2 Độc lập giữa Hội thẩm với Chánh án...............................................18
2.5.2 Hội đồng xét xử độc lập với Luật sư .............................................................19
2.5.3 Hội đồng xét xử độc lập với bị cáo, bị hại, nguyên đơn, bị đơn.............19
CHƯƠNG 3. THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP VỀ NGUYÊN TẮC
ĐỘC LẬP TRONG XÉT XỬ ...................................................................... 22
thời cũng là quá trình giáo dục. Vì vậy, Tòa án nhân dân phải đảm bảo được tính
khách quan, công bằng trong hoạt đồng xét xử và để đạt được những điều đó đòi hỏi
Tòa án phải thật sự độc lập. Hiến pháp năm 2013 tiếp tục khẳng định sự độc lập này
của Tòa án khi quy định “Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp
luật; nghiêm cấm cơ quan, tổ chức, cá nhân can thiệp vào việc xét xử của Thẩm phán,
Hội thẩm” . Tuy nhiên, thực tế v iệc thực hiện sự độc lập này trong ngành Tòa án còn
nhiều bất cập, hạn chế. Những bất cập, hạn chế này không chỉ do những quy định của
pháp luật mà còn có sự can thiệp của các c ơ quan, tổ chức không có chuyên môn xét
xử. Vì vậy, những bản án, quyết định của Tòa án có thể nói chưa “thấu tình, đạt lý”
làm giảm lòng tin của nhân dân vào chế độ của Nhà nước ta nói chung và đối với hoạt
động xét xử của ngành Tòa án nói riêng. Cho nên, việc nghiên cứu vấn đề “Nguyên
tắc độc lập trong xét xử - Lý luận và thực tiễn” là một yêu cầu cấp thiết, nhằm nâng
cao tính độc lập của Tòa án trong xét xử, góp phần cho Tòa án có những phán quyết
đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không có án oan, sai.
2. Mục đích nghiên cứu
Đề tài tập trung phân tích các quy định của pháp luật liên quan đến nguyên tắc
độc lập trong xét xử, giúp người đọc hiểu được một cách rõ ràng về các quy định của
pháp luật. Đồng thời, người viết cũng nêu ra những bất cập, tồn tại trong quá trình xét
xử và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao tính độc lập của Tòa án trong xét xử.
3. Phạm vi nghiên cứu
Trong phạm vi của đề tài, người viết tập trung tìm hiểu những quy định pháp luật
liên quan đến nguyên tắc độc lập của Tòa án, tìm hiểu thực tế về việc xét xử độc lập
của Tòa án và trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao tính độc lập của
Tòa án trong xét xử.
4. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, người viết sử dụng phương pháp phân tích, so sánh
các văn bản pháp luật có liên quan, tổng hợp các tài liệu sưu tầm trong các bài viết trên
báo mạng, tạp chí, giáo trình.
chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá
nhân.
1.1.2 Khái niệm nguyên tắc độc lập trong xét xử
Để hiểu được khái niệm trên thì phải đi tìm hiểu từng khái niệm:
Theo từ điển Tiếng Việt thì “nguyên tắc là điều cơ bản đã được quy định để dùng
làm cơ sở cho các mối quan hệ xã hội” hay “điều cơ bản được rút ra từ thực tế khách
quan để chỉ đạo hành động ” hoặc “phép tắc hoặc chuẩn tắc, điều lệ căn bản phải tôn
trọng trong lời nói hoặc xử sự”. 3
Độc lập được hiểu với vai trò là một tính từ thì có các nghĩa là: “Tự mình tồn tại,
hoạt động, không nương tựa hoặc phụ thuộc vào ai, vào cái gì khác”; hoặc “chỉ trạng
1
Hiến pháp năm 2013, Điều 102, khoản 1.
2
Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2002, Đi ều 1.
3
Khắc Trí – Trọng Tấn, Từ điển Tiếng Việt, Nxb Đồng Nai, Đồng Nai, 2012, tr. 341.
thái của một quốc gia hoặc một dân tộc có chủ quyền về chính trị, không phụ thuộc
vào nước khác hoặc dân tộc khác”.4
Xét xử hiểu theo nghĩa rộng là sự tổng hợp một chuỗi hoạt động của Tòa án kể từ
thời điểm thụ lý vụ án cho đế n khi ra bản án, ra quyết định thi hành án, còn theo nghĩa
hẹp thì xét xử là hoạt động của Thẩm phán và Hội thẩm tại phiên tòa mà kết quả của
hoạt động này là ra bản án hoặc quyết định để giải quyết vụ án. 5
Khắc Trí – Trọng Tấn, Từ điển Tiếng Việt, Nxb Đồng Nai, Đồng Nai, 2012, tr. 194.
Hoàng Hồng Phương, Nguyên tắc Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân độc lập và chỉ tuân theo pháp luật, Luận văn
thạc sĩ Lu ật học, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2011, tr. 4.
Hoạt động xét xử của Toà án là lĩnh vực thể hiện tập trung nhất của quyền tư
pháp. Nội dung hoạt động xét xử của Toà án là so sánh các hành vi, tranh chấp pháp lý
liên quan đến con người với các chuẩn mực pháp luật, phán xét tính đúng đắn, tính
hợp pháp của hành vi, tranh chấp. Trên cơ sở đó, Toà án đưa ra phán quyết bắt buộc
mọi người phải thi hành, khôi phục lại các giá trị pháp luật bị vi phạm, bảo vệ và duy
trì các giá trị của pháp luật.
Như vậy, trong hệ thống cơ quan Nhà nước ở Việt Nam thì Tòa án có vị trí đặc
biệt quan trọng vì Tòa án vừa là bộ phận cùng với lập pháp và hành pháp hợp thành
quyền lực Nhà nước vừa là thể chế bảo vệ quyền lực Nhà nước. Bên cạnh đó, khi xét
xử Tòa án căn cứ vào pháp luật của Nhà nước để đưa ra các phán quyết thể hiện trực
tiếp thái độ của Nhà nước đối với từng vụ việc cụ thể. Bằng hoạt động xét xử, Tòa án
thực hiện chức năng kiểm tra hành vi pháp lý của các cơ quan Nhà nước, của công dân
và cá nhân. Đồng thời, pháp luật quy định Chánh án Tòa án nhân dân tối cao do Quốc
hội bầu theo đề nghị của Chủ tịch nước, còn Chánh án Tòa án nhân dân địa phương do
Chánh án Tòa án nhân dân tối cao bổ nhiệm mà không phải do Hội đồng nhân dân ở
địa phương bầu. 6 Chính quy định này cho thấy Tòa án có một vị trí độc lập nhất định.
1.2.2 Nhiệm vụ của Tòa án nhân dân
Tòa án nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền
công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi
ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân. 7
Bảo vệ công lý là bảo vệ công bằng, lẽ phải. Bảo vệ quyền con người trước hết là
bảo vệ tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự, quyền tự d o và quyền sở hữu. Vì
vậy, mục tiêu của hoạt động xét xử là hướng đến bảo vệ quyền con người là một tất
yếu của nền tư pháp, của Tòa án trong Nhà nước pháp quyền. Quyền công dân trước
phạm pháp luật xâm hại đến các quyền đó. Tòa án là chủ thể duy nhất c ó quyền áp
dụng hình phạt để ngăn ngừa, trừng trị hành vi phạm tội xâm hại đến công lý, quyền
con người, quyền công dân, chế độ xã hội chủ nghĩa, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ
chức, cá nhân.
Bên cạnh đó, hoạt động xét xử còn là phương thức hữu hiệu nhấ t trong các
phương thức hiện thức hóa vai trò bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền
công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi
ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân của pháp luật vào đời sống xã hội. Khả năng bả o vệ
của pháp luật chỉ được hiện thực hóa bằng hoạt động áp dụng pháp luật mà hoạt động
xét xử của Tòa án là hoạt động áp dụng pháp luật quan trọng của Nhà nước. Thông
qua hoạt động xét xử, Toà án đưa các hành vi tranh chấp pháp lý liên quan đến những
con người cụ thể áp vào các chuẩn mực pháp luật, đối chiếu làm sáng tỏ mối tương
quan giữa cái cá biệt là hành vi vi phạm, tranh chấp với cái khuôn chung là quy phạm
pháp luật để đánh giá, phán xét bản chất pháp lý, tính hợp pháp, tính đúng đắn của
hành vi, tranh chấp. Từ đó, Tòa án đưa ra phán quyết có tính bắt buộc mọi người phải
thi hành, bảo vệ và duy trì quyền con người, quyền công dân, những lợi ích hợp pháp
của Nhà nước, xã hội, tổ chức và cá nhân.
1.3 MỘT SỐ NGUYÊN TẮC XÉT XỬ CỦA TÒA ÁN
1.3.1 Nguyên tắ c khi xét xử sơ thẩm có sự tham gia của Hội thẩm nhân dân
Nguyên tắc này được quy định tại khoản 1 Điều 103 Hiến pháp năm 2013; Điều
4 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2002; Điều 15 Bộ luật Tố tụng hình sự năm
2003 và Điều 11 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 20 04 (sửa đổi, bổ sung năm 2011).
Bản chất của nguyên tắc này thể hiện sự tham gia của nhân dân vào hoạt động xét
xử. Một bản án hoặc quyết định của Tòa án muốn “thấu tình, đạt lý” thì cần phải đưa
tiếng nói từ phía người dân, từ phía xã hội vào quá trình xé t xử và những người góp
phần đem lại tiếng nói đó chính là các Hội thẩm. Vì cuộc sống muôn màu muôn vẻ,
còn nhiều tình huống xảy ra trong cuộc sống mà pháp luật chưa thể điều chỉnh được
hết cho nên cần phải có những Hội thẩm tham gia xét xử mới đảm bảo đượ c tính
dưới 16 tuổi vẫn được tham dự phiên tòa nếu có giấy triệu tậ p của Tòa án. 8
8
Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011), Điều 209, khoản 1.
Luật cũng quy định trong trường hợp cần giữ bí mật nhà nước, thuần phong, mỹ
tục của dân tộc, bảo vệ người chưa thành niên hoặc giữ bí mật đời tư theo yêu cầu
chính đáng của đương sự, Tòa án nhân dân có thể xét xử kín. 9 Nhưng dù xét xử công
khai hay xét xử kín thì khi tuyên án Tòa án phải tuyên công khai để mọi người được
biết.
Do xét xử công khai nên các hành vi tố tụng được tất cả mọi người tham dự đều
biết. Nguyên tắc này đòi hỏi các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án cũng phải
được đ ưa ra xem xét công khai tại phiên tòa. Điều này làm cho Hội đồng xét xử khách
quan, vô tư hơn khi đưa ra phán quyết của mình. Bên cạnh đó, nguyên tắc này đảm
bảo sự giám sát của nhân dân đối với việc xét xử của Tòa án. Đồng thời, nó góp phần
tuyên truyền, phổ biến pháp luật cho nhân dân và thông qua phiên tòa có thể giáo dục,
phòng ngừa, răn đe những đối tượng đã phạm tội hoặc có ý định phạm tội.
1.3.4 Nguyên tắc xét xử tập thể và quyết định theo đa số, trừ trường hợp xét
xử theo thủ tục rút gọn
Nguyên tắc này được quy định tại khoản 4 Điều 103 Hiến pháp năm 2013; Điều 6
Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2002; Điều 17 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003
và Điều 14 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011) và nó bắt
nguồn từ nguyên tắc tập trung dân chủ trong hoạt động của bộ máy Nhà nước ta.
Tập trung và dân chủ là hai yếu tố đối lập nhưng được kết hợp với nhau. Trong
cơ quan, nếu tập trung mà không có dân chủ thì dẫn đến độc đoán, chuyên quyền còn
chỉ có dân chủ không có tập trung thì mọi người đều có ý kiến riêng của mình, không
ai chịu nghe ai sẽ dẫn đến vô tổ chức.
Việc xét xử của Tòa án là hoạt động đặc thù của Nhà nước nhằm bảo vệ pháp chế
trong thời gian vừa qua cũng đã được nâng lên, giảm các vụ, việc oan, sai. Từ cơ sở
thực tiễn đó và nhằm thể chế các quan điểm c ủa Đảng về xác định mô hình tố tụng
đã quy định nguyên tắc tranh tụng trong xét xử
Việt Nam, Hiến pháp năm 2013
được đảm bảo tại khoản 5 Điều 103 Hiến pháp năm 2013.
Tranh tụng là hoạt động của các bên tham gia xét xử đưa ra các quan điểm của
mình và tranh luận lại để bác bỏ một phần hoặc toàn bộ quan điểm của phía bên kia.
Tranh tụng là cơ sở để Tòa án đánh giá toàn bộ nội dung vụ án và đưa ra phán quyết
cuối cùng đảm bảo tính khách quan, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Cụ thể
trong một vụ án hình sự nếu không có tranh tụng thì Hội đồng xét xử sẽ nghiêng về
phía buộc tội hơn. Quy định mới này sẽ tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức của
những người công tác trong ngành Tòa án khi tiến hành tố tụng và nhận thức của công
dân trong quá trình thực hiện các quyền năng khi tham gia tranh tụng.
1.3.6 Nguyên tắc Tòa án thực hiện chế độ hai cấp xét xử
Nguyên tắc này được quy định tại khoản 6 Điều 103 Hiến Pháp năm 2013 và
được cụ thể hóa trong khoản 1 Điều 11 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2002; Điều
20 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003; Điều 17 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 (sửa
đổi, bổ sung năm 2011).
Đây là nguyên tắc cơ bản trong tố tụng. Nguyên tắc này bảo vệ cho quyền và lợi
ích hợp pháp của những người tham gia tố tụng.
Theo pháp luật Việt Nam hiện hành thì hai cấp xét xử là cấp sơ thẩm và cấp phúc
thẩm.
Xét xử sơ thẩm có thể hiểu là việc xét xử vụ án lần đầu tiên. Tất cả các vụ án
được đưa ra xét xử đều phải trải qua cấp xét xử này. Theo khoản 1 Điều 28 và khoản 2
Điều 32 Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2002 thì Tòa án nhân dân cấp tỉnh và Tòa
án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền xét xử sơ thẩm.
Bản án, quyết định sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị trong thời hạn do
pháp luật quy định thì có hiệu lực pháp luật. Đối với bản án, quyết đị nh sơ thẩm bị
Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2002 , Điều 11, khoản 1, đoạn 2.
11
Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011), Điều 9.
12
Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003, Điều 11.
tình nghi của cơ quan tiến hành tố tụng. Quyền bào chữa này được thực hiện thông qua
hai hình thức là tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa.
Pháp luật cũng quy định trường hợp : Bị can, bị cáo về tội theo khung hình phạt
có mức cao nhất là tử hình; bị can, bị cáo là người chưa thành niên, người có nhược
điểm tâm thần hoặc thể chất, nếu họ hoặc người đại diện hợp pháp của họ không mời
người bào chữa thì Cơ quan điều tra, Viện kiể m sát hoặc Toà án chỉ định người bào
chữa cho họ. 13
Như vậy, đây là nguyên tắc quan trọng trong pháp luật tố tụng. Nguyên tắc này
đảm bảo cho đương sự bảo đảm được quyền và lợi ích hợp pháp của mình, đảm bảo
cho người bị tạm giam, bị can, bị cáo bảo vệ tốt hơn các quyền và lợi ích hợp pháp của
mình, góp phần khắc phục các trường hợp oan, sai. Sự thật của vụ án chỉ có thể được
xác định khi quá trình chứng minh có xem xét đánh giá mọi tình tiết, mọi ý kiến khác
nhau bao gồm cả quan điểm buộc tội và gỡ tội (Tố tụng hình sự). Trong khi đó, Hội
đồng xét xử đóng vai trò là trọng tài trong phiên tòa cho nên nếu chỉ thiên về hướng
buộc tội mà không chú ý đến ý kiến bào chữa thì việc giải quyết vụ án đó phiến diện,
không khách quan.
1.3.8 Nguyên tắc đảm bảo cho những người tham gia tố tụng dùng tiếng nói,
chữ viết của dân tộc
Đây là nguyên tắc được quy định tại Điều 10 Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm
không để tư tưởng bị chi phối bởi địa vị xã hội của những người tham gia tố tụng.
Trước pháp luật, mọi công dân đều bình đẳng. Quy định này đòi hỏi Tòa án phải thật
sự chí công vô tư, xét xử nghiêm minh và việc giải quyết vụ án hoàn toàn xuất phát từ
sự thật khách quan, tất cả chứng cứ do đương sự cung cấp đều phải được Tòa án xem
xét thận trọng.
CHƯƠNG 2
NỘI DUNG CỦA NGUYÊN TẮC ĐỘC LẬP TRONG XÉT XỬ
2.1 ĐỘC LẬP GIỮA CÁC THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Nội dung độc lập giữa các thành viên Hội đồng xét xử được quy định xuyên suốt
qua các bản Hiến pháp của Nhà nước ta. Khoản 2 Điều 103 Hiến pháp năm 2013 quy
định “Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật”.
Pháp luật hiện hành quy định khi xét xử thì phải thành lập Hội đồng, trừ trường
hợp xét xử theo thủ tục rút gọn. Điều 52 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 (sửa đổi, bổ
sung năm 2011) và Điều 185 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 quy định khi xét xử sơ
thẩm có một Thẩm phán và hai Hội thẩm; Trong trường hợp đặc biệt có hai Thẩm
phán và ba Hội thẩm. Còn khi xét xử phúc thẩm thì chỉ có ba Thẩm phán; Trường hợp
đặc biệt có thêm hai Hội thẩm. Cho dù Hội đồng xét xử có bao nhiêu thành viên thì
cũng phải có sự độc lập của từng thành viên. Có nghĩa là Thẩm phán độc lập với Hội
thẩm và giữa các Thẩm phán (Thẩm phán làm Chủ tọa và Thẩm phán không làm Chủ
tọa phiên tòa hay Chánh tòa, Phó Chán h tòa, Chánh án đều là Thẩm phán khi tham gia
xét xử thì ý kiến của mỗi người cũng chỉ là một lá phiếu trong Hội đồng xét xử) hoặc
Hội thẩm cũng phải độc lập với nhau.
Độc lập ở đây có nghĩa là từng cá nhân không bị phụ thuộc hay bị tác động bởi
thành viên nào trong Hội đồng và cũng không bị tác động từ bên ngoài mà phải dựa
vào chứng cứ, tình tiết của vụ án để đưa ra bản án, quyết định chính xác, đúng pháp
luật. Thẩm phán không được phép chỉ đạo cho Hội thẩm trong việc định tội danh,
quyết định hình phạt. Hội thẩm cũng không được có thái độ ỷ lại Thẩm phán mà phải
tích cực, chủ động và có trách nhiệm trong hoạt động chứng minh tội phạm. Trước khi
tỉnh và Tòa án nhân dân cấp tỉnh là cấp trên trực tiếp của Tòa án nhân dân cấp huyện
và sẽ là chủ thể xét phúc thẩm các bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân cấp huyện nếu
bị kháng cáo, kháng nghị. Nhưng khi xét xử, Tòa án các cấp đều nhân danh quyền lực
nhà nước; Tòa án nhân dân cấp huyện và Tòa án nhân dân cấp tỉnh đều có quyền
ngang với Tòa án nhân dân tối cao ở phương diện xét xử độc lập. Nếu họ phải theo
đường lối xét xử của cấp trên thì sẽ tạo ra tình trạng xử án theo chỉ đạo, không ai chịu
trách nhiệm cuối cùng về phán quyết của mình.
2.2.2 Độc lập với Tòa án nhân dân tối cao
Khoản 3 Điều 104 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Tòa án nhân dân tối cao thực
hiện việc tổng kết thực tiễn xét xử, bảo đảm áp dụng thống nhất pháp luật trong xét
xử” và Điều 19 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2002 quy định Tòa á n nhân dân tối
cao có nhiệm vụ và quyền hạn như sau: “Hướng dẫn các Tòa án áp dụng thống nhất
pháp luật, tổng kết kinh nghiệm xét xử của các Tòa án; Giám đốc việc xét xử của các
Tòa án các cấp; Giám đốc việc xét xử của Tòa án đặc biệt và các Tòa án khác, tr ừ
trường hợp có quy định khác khi thành lập các Tòa án đó.”
Nhiệm vụ hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật của Tòa án nhân dân tối cao
được thực hiện bằng nhiều hình thức khác nhau như: báo cáo công tác xét xử, ban
hành các văn bản quy phạm pháp luật như Nghị quyết, thông tư. Việc xây dựng, ban
hành các văn bản quy phạm pháp luật của Tòa án nhân dân tối cao thường gắn với
công tác tổng kết kinh nghiệm xét xử, tổng kết các vấn đề vướng mắc nảy sinh trong
thực tiễn hoạt động xét xử của Tòa án các cấp. Trên c ơ sở đó, Tòa án cấp dưới sẽ vận
dụng để giải quyết vụ án chính xác, đúng pháp luật. Điều này sẽ không vi phạm
nguyên tắc độc lập nhưng nếu Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn Tòa án cấp dưới
bằng hình thức công văn có nội dung hướng dẫn giải quyết một vụ án cụ thể, hướng
dẫn áp dụng mức án cụ thể cho vụ án thì sẽ vi phạm nguyên tắc độc lập của Tòa án. Để
đảm bảo tính độc lập thì Tòa án cấp dưới phải dựa vào các chứng cứ và những diễn
biến tại phiên tòa để đưa ra được những bản án, những quyết định chính xác, đúng
pháp luật.
để cho rằng bị cáo phạm một tội khác hoặc có đồng phạm khác; Hay khi phát hiện có
vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng. Trong trường hợp Viện kiểm sát không bổ sung
được những vấn đề mà Tòa án yêu cầu bổ sung và vẫn giữ nguyên quyết định truy tố
thì Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án. Ngoài ra, Hội đồng xét xử cũng có quyền tuyên
bị cáo vô tội. 15
2.3.2 Độc lập với Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân
2.3.2.1 Tòa án độc lập với Hội đồng nhân dân
Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý
chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân. Hội đồng nhân dân thực hiện quyền
giám sát đối với hoạt động của Ủy ban nhân dân, Tòa án nhân dân, bao gồm hoạt động
chất vấn và xem xét báo cáo công tác của ngành Tòa án. 16
Như vậy, Chánh án Tòa án nhân dân địa phươn g chịu trách nhiệm và báo cáo
công tác trước Hội đồng nhân dân cùng cấp, trả lời chất vấn của đại biểu Hội đồng
nhân dân. Tuy nhiên, Đại biểu hội đồng nhân dân không có quyền tác động đến Chánh
án Tòa án nhân dân. Hội đồng nhân dân còn thực hiện việc bầu H ội thẩm nhân dân
theo sự giới thiệu của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp để tham gia việc
xét xử nhưng không vì bầu ra mà Hội thẩm nhân dân khi xét xử chịu sự chỉ đạo của
Hội đồng nhân dân. Chủ tịch hoặc Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân cấp tỉnh làm Chủ
tịch Hội đồng tuyển chọn Thẩm phán trung cấp và sơ cấp. Những quy định này cho
thấy khả năng Hội đồng nhân dân tác động ảnh hưởng đến tính độc lập của hoạt động
xét xử là có thật. Như vậy, đòi hỏi Tòa án phải thật sự khách quan, công tâm trong quá
trình xét xử.
2.3.2.2 Tòa án độc lập với Ủy ban nhân dân
Ủy ban nhân dân là cơ quan hành chính Nhà nước ở địa phương. Cơ quan chuyên
môn của Ủy ban nhân dân là các sở, phòng ở cấp tỉnh và cấp huyện. Theo Luật Tổ
chức Tòa án nhân dân năm 2002 thì cơ cấu tổ chứ c của hệ thống Tòa án nhân dân cũng
được thành lập ở cấp tỉnh, cấp huyện theo đơn vị hành chính lãnh thổ nhưng Tòa án
nhân dân không phải là một cơ quan chuyên môn của Ủy ban nhân dân và Luật Tổ
Đoạn 1 Điều 11 pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân năm 2002 (sửa đổi,
bổ sung năm 2011) quy định: “Thẩm phán làm nhiệm vụ xét xử những vụ án và giải
quyết những việc khác thuộc thẩm quyền của Tòa án theo sự phân công của Chánh án
Tòa án nơi mình công tác hoặc Tòa án nơi mình được biệt phái đến làm nhiệm vụ có
thời hạn”. Và theo điểm b khoản 1 Điều 38 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 thì
Chánh án Tòa án có quyền quyết định phân công Thẩm phán xét xử vụ án hình sự hay
khoản 1 Điều 172 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011) quy
định: “Trong thời hạn ba ngày làm việc kể từ ngày thụ lý vụ án, Chánh án Toà án
phân công một Thẩm phán giải quyết vụ án”. Mối quan hệ giữa Thẩm phán với Chánh
án là mối quan hệ tố tụng chứ không phải là mối quan hệ hành chính. Khi xét xử,
Thẩm phán độc lập và chỉ tuân theo pháp luật, có nghĩa là Thẩm phán không phải trình
phương hướng kế hoạch xét xử lên Chánh án mà Thẩm phán sẽ chịu trách nhiệm cho
bản án của mình.
Kể từ khi Chánh án phân công cho Thẩm phán giải quyết một vụ án cụ thể theo
quan hệ tố tụng thì Thẩm phán được quyền xem xét quyết định theo pháp luật (trừ việc
quyết định gia hạn thời hạn chu ẩn bị xét xử và áp dụng thay đổi, hủy bỏ biện pháp tạm
giam) và khi vụ án được đưa ra xét xử, tại phiên tòa thì Hội đồng xét xử là người chịu
trách nhiệm trước pháp luật và có quyền quyết định toàn bộ các vấn đề liên quan đến
vụ án. 17
17
Nguyễn Hồng Hà, Không ai có quyền yêu cầu Thẩm phán dừng tuyên án , Báo điện tử Người đưa tin ,
[ngày truy cập
28-9-2013].
Khi tham gia hoạt động tố tụng nếu Hội đồng xét xử có năm thành viên, trong đó
có hai Thẩm phán thì một Thẩm phán là lãnh đạo Tòa án thì khi biểu quyết quyết định
hình phạt, ý kiến của Thẩm phán lãnh đạo Tòa án cũng chỉ là một lá phiếu và chỉ được
không phụ thuộc vào Chánh án quản lý mình.
2.5.2 Hội đồng xét xử độc lập với Luật sư
Theo quy định của pháp luật, sự có mặt của Luật sư không chỉ do yêu cầu của
đương sự mà trong nhiều trường hợp là do yêu cầu của Tòa án hoặc Viện kiểm sát
hoặc do cơ quan điều tra.18 Và theo đoạn 2 Điều 190 Bộ luật Tố tụng hình sự năm
2003 quy định nếu bị cáo thuộc những trường hợp nêu trong khoản 2 Điều 57 Bộ luật
Tố tụng hình sự năm 2003 mà khi xét xử người bào chữa vắng mặt thì Hội đồng xét xử
phải hoãn phiên tòa. Như vậy, trong một số trường hợp sự hiện diện của Luật sư là bắt
buộc, không thể thiếu, nếu thiếu vắng Luật sư thì ho ạt động tố tụng sẽ bị đình tr ệ, gián
đoạn, không tiến hành được.
Về nguyên tắc của sự công bằng, ở đâu có buộc tội khi có hành vi bị cho là phạm
tội xảy ra thì ở đó có gỡ tội và hình thành nhu cầu cần một thiết chế trọng tài phân xử.
Trên thực tế, chức năng buộc tội được hậu thuẫn bởi các biện pháp cưỡng chế do
Nhà nước đặt ra và trước quyền lực cưỡng chế ấy, quyền và lợi ích hợp pháp của công
dân có nguy cơ bị xâm hại. Vì thế, việc đảm bảo quyền của Luật sư – Chủ thể chủ yếu
thực hiện chức năng gỡ tội được coi là điều kiện tất yếu cho việc đảm bảo nguyên tắc
tranh tụng một cách công bằng, tạo cơ hội cho người bị buộc tội khả năng tiếp cận với
công lý và theo đó ho ạt động tố tụng có được bản chất dân chủ.
Quy tắc 23 trong Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp Luật sư Việt Nam của
Hội đồng Luật sư toàn quốc thì Luật sư có thể trao đổi ý kiến về nghiệp vụ với cơ quan
tiến hành tố tụng nói chung, cơ quan Tòa án nói riêng nhưng trong quá trình gi ải quyết
vụ án giữa họ phải giữ tính độc lập, Luật sư không được cấu kết, làm trung gian hay
móc nối với Tòa án làm trái pháp luật, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp
của những người tham gia tố tụng còn lại.
2.5.3 Hội đồng xét xử độc lập với bị cáo, bị hại, nguyên đơn, bị đơn
Điều 5 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 quy định: “Mọi công dân đều bình
đẳng trước pháp luật, không phân biệt dân tộc, nam nữ, tín ngưỡng, tôn giáo, thành
phần xã hội, địa vị xã hội. Bất cứ người nào phạm tội đều bị xử lý theo pháp luật” .