công tác thi hành án dân sự tại huyện lập vò, tỉnh đồng tháp – bất cập và hướng hoàn thiện - Pdf 30

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT



LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
NIÊN KHÓA 2011 - 2015
ĐỀ TÀI:

CÔNG TÁC THI HÀNH ÁN DÂN SỰ TẠI
HUYỆN LẬP VÒ, TỈNH ĐỒNG THÁP – BẤT CẬP VÀ
HƯỚNG HOÀN THIỆN

Giáo viên hướng dẫn:
Thân Thị Ngọc Bích
Bộ môn Tư Pháp

Sinh viên thực hiện:
Nguyễn Hoàng Minh
MSSV:5117406
Lớp: Tư Pháp K37

Cần Thơ, Tháng 11/2014


NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG PHẢN BIỆN

-----……………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………


NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN

-----……………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………


Ủy ban Thường vụ Quốc hội

UBND

Ủy Ban Nhân Dân

THADS

Thi hành án dân sự


LVTN: Công tác thi hành án dân sự tại huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp – Bất cập và hướng
hoàn thiện

MỤC LỤC
Trang

LỜI NÓI ĐẦU................................................................................................................1
1. Lý do chọn đề tài......................................................................................................1
2. Mục đích nghiên cứu ................................................................................................2
3. Phạm vi nghiên cứu ..................................................................................................2
4. Phương pháp nghiên cứu ..........................................................................................2
5. Kết cấu của luận văn.................................................................................................2
CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ ....................3
1.1. Khái niệm chung..................................................................................................3
1.1.1. Khái niệm pháp luật thi hành án dân sự...........................................................3
1.1.2. Khái niệm quan hệ pháp luật thi hành án dân sự..............................................4
1.1.3. Khái niệm thi hành án dân sự ..........................................................................5
1.2. Đặc điểm của thi hành án dân sự ........................................................................7

2.2.4. Tổ chức thi hành án.......................................................................................22
2.2.5. Hoãn thi hành án, tạm đình chỉ thi hành án, đình chỉ thi hành án ...................25
2.2.6. Kết thúc thi hành án ......................................................................................33
CHƯƠNG 3: NHỮNG VẤN ĐỀ TỒN TẠI TRONG CÔNG TÁC THI HÀNH ÁN
HUYỆN LẤP VÒ - GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN........................................................38
3.1. Thực tiễn thi hành án dân sự ở huyện Lấp Vò.................................................38
3.1.1. Khái quát về Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lấp Vò ...............................38
3.1.2. Khái quát về hoạt động Tư pháp huyện Lấp Vò.............................................39
3.1.3. Về tổ chức bộ máy các cơ quan thi hành án dân sự ở huyện Lấp Vò..............40
3.2. Những thuận lợi và khó khăn trong hoạt động thi hành án dân sự huyện Lấp
Vò ..............................................................................................................................40
3.2.1. Những thuận lợi ............................................................................................40
3.2.2. Những khó khăn............................................................................................43
3.2.2.1. Những tồn tại và hạn chế ........................................................................43
3.2.2.2. Nguyên nhân ..........................................................................................43
3.2.3. Một số vụ điển hình ......................................................................................44
3.3. Giải pháp hoàn thiện .........................................................................................48
3.3.4. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục về thi hành án dân sự...52
KẾT LUẬN ..................................................................................................................55
TÀI LIỆU THAM KHẢO ...........................................................................................56

GVHD: Thân Thị Ngọc Bích

SVTH: Nguyễn Thị Mỹ Sương


LVTN: Công tác thi hành án dân sự tại huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp – Bất cập và hướng
hoàn thiện

LỜI NÓI ĐẦU

không có điều kiện thi hành chiếm tỉ lệ lớn, nhiều vụ việc kéo dài đến nay vẫn chưa được
giải quyết dứt điểm đòi hỏi phải có giải pháp tháo gỡ những ách tắc trong hoạt động
THADS.
1

Điều 106 Hiến pháp 2013

GVHD: Thân Thị Ngọc Bích

1

SVTH: Nguyễn Thị Mỹ Sương


LVTN: Công tác thi hành án dân sự tại huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp – Bất cập và hướng
hoàn thiện

Từ những lý do trên, người viết đã lựa chọn đề tài: “ Công tác thi hành án dân sự
tại huyện Lấp Vò tỉnh Đồng Tháp” làm đề tài luận văn tốt nghiệp.
2. Mục đích nghiên cứu
Đề tài tập trung làm rõ thực tiễn công tác THADS ở huyện Lấp Vò tỉnh Đồng
Tháp, trên cơ sở đó góp phần đánh giá được thực trạng và tìm ra nguyên nhân dẫn đến án
tồn đọng để từ đó đưa ra một số giải pháp nhằm tháo gỡ những khó khăn vướng mắc hiện
nay.
3. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn chỉ tập trung nghiên cứu những vấn đề cơ bản về THA và thực tiễn công
tác THADS ở huyện Lấp Vò tỉnh Đồng Tháp hiện nay thông qua số liệu của cơ quan
THADS huyện và các cơ quan liên quan đến THADS ở huyện Lấp Vò từ năm 2011 đến
năm 2013.
4. Phương pháp nghiên cứu

tài sản, truy thu tiền- tài sản thu lợi bất chính, xử lý vật chứng, tài sản, án phí và quyết
định dân sự trong bản án, quyết định hình sự; phần tài sản trong bản án, quyết định hành
chính của Tòa án; quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh có liên quan đến tài sản của bên
phải thi hành của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh và quyết định của Trọng tài thương
mại (sau đây gọi chung là bản án, quyết định).2 Đây là công đoạn cuối cùng trong hoạt
động tư pháp nói chung và quá trình giải quyết vụ việc của Tòa án nói riêng. Thông qua
đã, bản án, quyết định của Tòa án được thi hành trên thực tế, quyền và lợi ích hợp pháp
của cá nhân, cơ quan, tổ chức và Nhà nước được bảo vệ, góp phần đảm bảo tính nghiêm
minh của pháp luật, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa. Có thể nói THA dân sự là một
giai đoạn nhằm thực hiện những bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Toà án
nhân dân trong cuộc sống, biến các quyết định của Tòa án trong những bản án trở thành
thực tế.
1.1.1. Khái niệm pháp luật thi hành án dân sự
Pháp luật THADS là tổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã
hội phát sinh trong quá trình tổ chức thi hành các bản án, quyết định về dân sự, bao gồm
các quy định về quyền, nghĩa vụ của người được THA, người phải THA, người có quyền
lợi nghĩa vụ liên quan… Được quy định cụ thể từ Hiến pháp 2013, Bộ luật Dân sự 2005,
Bộ luật Tố tụng dân sự 2004, Nghị định số 74/2009/NĐ-CP ngày 01/11 của Chính phủ về
hướng dẫn thi hành một số điều của Luật THADS… điều được coi là pháp luật THADS.
Quá trình hình thành và phát triển của pháp luật THADS tuy còn những tồn tại
nhất định, nhưng pháp luật THADS đã chuyển hóa được vai trò lãnh đạo của Đảng, hiệu
lực của chính quyền, ý chí của nhân dân và đồng thuận của xã hội để tạo ra những chuyển
biến tích cực về THADS.
Hiện nay, Bộ luật THADS đang được gấp rút soạn thảo để trình cơ quan có thẩm
quyền ban hành nhằm khắc phục những bất hợp lý, tháo gỡ khó khăn tồn tại trong công
tác THADS. Bộ luật THADS sau khi được thông qua sẽ là văn bản pháp luật vô cùng
2

Trương Thanh Hùng, “Giáo trình Luật tố tụng dân sự” , Khoa Luật, Trường Đại học Cần Thơ, 2008, tr. 7


quan hệ.
- Chủ thể: cá nhân, tổ chức tham gia vào quan hệ pháp luật.
- Khách thể: là những gì các bên chủ thể mong muốn đạt được khi tham gia vào
quan hệ pháp luật này
- Nội dung quan hệ pháp luật: quyền và nghĩa vụ của từng bên chủ thể
- Về Chủ thể: chủ thể tham gia vào pháp luật quan hệ dân sự gồm có cá nhân, pháp
nhân và các chủ thể khác (hộ gia đình, tổ hợp tác).
- Về khách thể: khách thể của quan hệ pháp luật về thi hành án dân sự là mục đích
mà đương sự đã yêu cầu cơ quan thi hành án phải thi hành theo bản án, quyết định của
tòa án đã có hiệu lực pháp luật
- Về nội dung: nội dung quan hệ trong quan hệ pháp luật thi hành án dân sự là các
quyền và nghĩa vụ được nhà nước quy định cho các chủ thể khi họ tham gia vào các quan
hệ pháp luật đó.

GVHD: Thân Thị Ngọc Bích

4

SVTH: Nguyễn Thị Mỹ Sương


LVTN: Công tác thi hành án dân sự tại huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp – Bất cập và hướng
hoàn thiện

1.1.3. Khái niệm thi hành án dân sự
THADS là một giai đoạn nhằm thực hiện những Bản án, Quyết định có hiệu lực
pháp luật của Tòa án. Tuy nhiên, hiện nay trong các văn bản pháp lý vẫn chưa có điều
luật nào nêu lên khái niệm cụ thể thế nào là THADS. Để làm rõ khái niệm THADS, trước
tiên cần phải làm rõ khái niệm THA.
THA là một hoạt động tư pháp do cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền tiến

Xem, Th.s. Nguyễn Quan Thái,”Một số khái niệm về thi hành án và thi hành án dân sự ở Việt nam”, Dân chủ &
Pháp luật, số 5 (158)-2005.

GVHD: Thân Thị Ngọc Bích

5

SVTH: Nguyễn Thị Mỹ Sương


LVTN: Công tác thi hành án dân sự tại huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp – Bất cập và hướng
hoàn thiện

trong Bản án, Quyết định của Tòa án về hành chính, Bản án, Quyết định dân sự của Tòa
án nước ngoài, Quyết định của Trọng tài nước ngoài đã có Quyết định có hiệu lực pháp
luật của Tòa án Việt nam công nhận và cho thi hành tại Việt nam.
Căn cứ để đưa ra thi hành Bản án, Quyết định của Tòa án được quy định tại Điều
376 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004:
Điều 376. Căn cứ để đưa ra thi hành bản án, quyết định của Tòa án
Bản án, quyết định của Tòa án được đưa ra thi hành khi có các căn cứ sau đây:
1. Bản án, quyết định được thi hành quy định tại Điều 375 của Bộ luật này;
2. Quyết định thi hành án của cơ quan thi hành án có thẩm quyền.
Như vậy, những Bản án, Quyết định được đưa ra thi hành bao gồm hai loại, đó là:
Thứ nhất: những Bản án, Quyết định dân sự của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật.
Đó là Bản án, Quyết định hoặc phần Bản án, Quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm không
bị cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm; Bản án, Quyết định của Tòa án cấp phúc
thẩm; Quyết định giám đốc thẩm hoặc tái thẩm của Tòa án; Bản án, Quyết định dân sự
của Tòa án nước ngoài, Quyết định của Trọng tài nước ngoài đã có Quyết định có hiệu
lực pháp luật của Tòa án Việt nam công nhận và cho thi hành tại Việt nam.
Thứ hai: những Bản án, Quyết định dân sự của Tòa án chưa có hiệu lực pháp luật

hoàn thiện

rộng, đó không chỉ bao gồm các Bản án, Quyết định về giải quyết tranh chấp đối với các
loại hợp đồng dân sự, hôn nhân và gia đình, và một số loại án khác có tính chất dân sự
của Tòa án, mà còn bao gồm các Bản án, Quyết định khác do pháp luật quy định. Xung
quanh vấn đề này có thể thấy pháp luật của nhiều quốc gia trên thế giới, việc tổ chức thi
hành các Bản án có nguồn gốc pháp luật về nội dung là luật tư (dân sự, kinh doanh,
thương mại, lao động) được thực hiện theo một thủ tục chung mà không có sự tách bạch
căn bản về thực thi án dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh tế, thương mại, lao động 5.
Người viết đồng tình với quan điểm thứ hai, bởi lẽ: theo quy định của pháp luật
hiện hành, nhiều vụ việc có tính chất khác nhau, được giải quyết theo các trình tự khác
nhau, nhưng đến giai đoạn thi hành án đều được áp dụng theo trình tự, thủ tục thi hành án
dân sự đã nêu. Vì vậy, phạm vi thi hành án dân sự phải được hiểu theo nghĩa rộng bao
gồm: Bán án, Quyết định dân sự, kinh tế, lao động, hôn nhân và gia đình; quyết định về
tài sản trong Bản án, Quyết định hình sự về bồi thường thiệt hại; Quyết định về tài sản và
quyền tài sản trong Bản án, Quyết định hành chính; Bản án, Quyết định dân sự của Tòa
án nước ngoài, Quyết định của Trọng tài nước ngoài được Tòa án Việt nam công nhận và
cho thi hành ở Việt nam. Điều này cũng hoàn toàn phù hợp với pháp luật của nhiều nước
trên thế giới.
Từ những phân tích ở trên, có thể đưa ra khái niệm về thi hành án dân sự như sau:
Thi hành án dân sự là hoạt động tư pháp do Cơ quan thi hành án, Chấp hành viên
tiến hành theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định, để đưa Bản án, Quyết định dân sự
có hiệu lực pháp luật của Tòa án hoặc các Quyết định khác theo quy định của pháp luật
được thực hiện trên thực tế, nhằm đảm bảo lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp
của công dân, tổ chức, bảo vệ trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa6.
1.2. Đặc điểm của thi hành án dân sự
- Thi hành án dân sự là hoạt động mang tính tài sản. Bản chất của các quan hệ dân
sự là quan hệ mang tính tài sản chính vì thế mà quá trình thi hành án dân sự cũng mang
tính tài sản.
- Thi hành án dân sự là hoạt động mang tính định đoạt. Xuất phát từ quyền tự định

- Trong quá trình thi hành án dân sự Chấp hành viên, cán bộ thi hành án độc lập và
chỉ tuân theo pháp luật.
1.3. Thành phần của quan hệ pháp luật về thi hành án dân sự
Khi nghiên cứu về khoa học pháp lý về nhà nước và pháp luật đã khẳng định
“quan hệ pháp luật là những quan hệ nảy sinh do tác động hữu cơ giữa quy phạm pháp
luật và sự kiện pháp lý tương ướng làm xuất hiện các quyền và nghĩa vụ pháp lý của các
chủ thể tham gia quan hệ đó”, từ đó có thể hiểu quan hệ pháp luật thi hành án dân sự là
những quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực thi hành án dân sự do các quy pháp pháp
luật thi hành án dân sự điều chỉnh trong đó các chủ thể có quyền và nghĩa vụ đối với
nhau và được Nhà nước đảm bảo thực hiện. Thành phần của quan hệ pháp luật về thi
hành án dân sự bao gồm các yếu tố cụ thể sau:
1.3.1. Chủ thể
Để hiểu rõ chủ thể trong thi hành án là gì thì trước tiên ta phải tìm hiểu chủ thể của
quan hệ pháp luật dân sự là gì, chủ thể tham gia pháp luật tố tụng dân sự là gì, để chúng
ta có cái nhìn tổng quát hơn cụ thể hơn về thành phần quan hệ pháp luật thi hành án dân
sư.
Theo Bộ luật dân sự năm 2005 thì chủ thể trong quan hệ pháp luật dân sự “là
những con người cụ thể tham gia làm nên quan hệ đó nhằm thực hiện các quyền và nghĩa
vụ pháp luật nhất định”, như vậy chủ thể tham gia vào pháp luật quan hệ dân sự gồm có
cá nhân, pháp nhân và các chủ thể khác (hộ gia đình, tổ hợp tác).
Theo Điều 4, Bộ Luật tố tụng dân sự 2004 (sửa đổi bổ sung năm 2011) thì “cá
nhân, cơ quan, tổ chức có quyền khởi kiện vụ án dân sự, yêu cầu giải quyết việc dân sự
tại Toà án có thẩm quyền để yêu cầu Toà án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình
hoặc của người khác”. Như vậy chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật tố tụng dân sự
bao gồm, cá nhân, cơ quan, tổ chức.
Theo quy định quyền yêu cầu thi hành án dân sự tại Điều 7, Luật Thi hành án dân
sư năm 2008 thì “người được thi hành án, người phải thi hành án căn cứ vào bản án,
quyết định có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự tổ chức thi hành án”. Như vậy
thì chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật về thi hành án dân sự bao gồm, người được thi
GVHD: Thân Thị Ngọc Bích

lợi ích được nhà nước bảo đảm thực hiện”. Như vậy khách thể của quan hệ pháp luật về
thi hành án dân sự là mục đích mà đương sự đã yêu cầu cơ quan thi hành án phải thi hành
theo bản án, quyết định của tòa án đã có hiệu lực pháp luật, khách thể này được thực hiện
thi hành theo bản án, quyết định của tòa án đã có hiệu luật pháp luật và được đảm bảo thi
hành bằng các biện pháp cưỡng chế của nhà nước khi các bên không tự nguyện thực hiện
nghĩa vụ của mình.
Đối với Người được thi hành án dân sự: Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 44
Luật Thi hành án dân sự và khoản 1, khoản 2 Điều 6 Nghị định số 58/2009/NĐ-CP ngày
13/7/2008 của Chính phủ thì người được thi hành án có quyền tự mình hoặc ủy quyền
cho người khác xác minh điều kiện thi hành án. Cơ quan, tổ chức, cá nhân đang nắm giữ
thông tin hoặc quản lý tài sản, tài khoản của người phải thi hành án có trách nhiệm cung
cấp thông tin khi người được thi hành án hoặc người đại diện theo ủy quyền của người
được thi hành án ủy quyền có yêu cầu. Trường hợp cơ quan, tổ chức, cá nhân đó từ chối
cung cấp thì phải có văn bản trả lời và nêu rõ lý do. Kết quả xác minh được công nhận và
làm căn cứ để tổ chức việc thi hành án, trừ trường hợp Chấp hành viên thấy cần thiết phải
GVHD: Thân Thị Ngọc Bích

9

SVTH: Nguyễn Thị Mỹ Sương


LVTN: Công tác thi hành án dân sự tại huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp – Bất cập và hướng
hoàn thiện

xác minh lại. Việc xác minh lại của Chấp hành viên được tiến hành trong thời hạn 10
ngày, kể từ ngày nhận được kết quả xác minh do đương sự cung cấp. Trường hợp người
được thi hành án, cơ quan, tổ chức, cá nhân cố tình cung cấp thông tin sai sự thật về điều
kiện thi hành án của người phải thi hành án thì phải chịu trách nhiệm trước pháp luật,
thanh toán các chi phí phát sinh, trường hợp gây ra thiệt hại thì phải bồi thường.

đa dạng cơ quan, tổ chức nơi có người phải THA cư trú, công tác; Trong thực tiễn cũng
GVHD: Thân Thị Ngọc Bích

10

SVTH: Nguyễn Thị Mỹ Sương


LVTN: Công tác thi hành án dân sự tại huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp – Bất cập và hướng
hoàn thiện

có một số cơ quan, tổ chức nơi có người phải thi hành cư trú công tác, tôn trọng bản án
quyết định của Toà án, mặc dù không có qui định về nhiệm vụ, quyền hạn trong THA
dân sự, nhưng vẫn tích cực tác động giáo dục thuyết phục người phải THA tự nguyện thi
hành, có hiệu quả. Ngược lại cũng có một số cơ quan, tổ chức nơi có người phải thi hành
không quan tâm hoặc tác động ngược, giúp người phải THA trốn tránh việc thi hành án,
làm cho việc THA thêm phức tạp, khó thi hành. s
-

Đối với Cơ quan thi hành án dân sự
1.3.3. Nội dung
Nội dung của một quan hệ pháp luật là các quyền và nghĩa vụ được nhà nước quy

định cho các chủ thể khi họ tham gia vào các quan hệ pháp luật đó. Do vậy nội dung của
quan hệ pháp luật về thi hành án dân sự là quyền và nghĩa vụ mà các chủ thể trong quan
hệ về pháp luật thi hành án phải thực hiện theo đúng quy định pháp luậ khi bản án, quyết
định của tòa án đã có hiệu luật pháp luật. Quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong quan
hệ pháp luật về thi hành án dân sự được pháp luật quy định cụ thể trong Luật thi hành án
dân sự năm 2008, văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn thi hành án dân sự và các văn
bản quy phạm pháp luật có liên quan có liên quan, cụ thể một số quy định như: Điều 6,

vậy, việc thi hành án dân sự là nhằm mục đích làm cho các bản án, quyết định dân sự của
Tòa án nhân dân được thực hiện trên thực tế và đúng quy định, nhằm đảm bảo quyền lợi
của Nhà nước, tổ chức và cá nhân, mọi hành vi thi hành chậm bản án, thi hành không
đúng nội dung hoặc không thi hành điều xâm phạm và ảnh hưởng đến lợi ích của Nhà
nước, tổ chức và cá nhân đồng nghĩa với việc bản án, quyết định của Tòa án nhân dân có
hiệu lực thi hành không được tôn trọng, pháp luật của nhà nước bị xem thường, vì vậy,
việc thực hiện đúng quy định về thi hành án dân sự không những dảm bảo tính nghiêm
minh của pháp luật mà còn bảo đảm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của
tổ chức và cá nhân.
Để việc thi hành án dân sự đạt hiệu quả, đúng mục đích của quy định pháp luật về
thi hành án dân sự thì đòi hỏi toàn hệ thống tổ chức cơ quan thi hành án dân sự, từ hoạt
động bộ máy đến hoạt động của chấp hành viên và của công chức, viên chức làm công
tác thi hành án dân sự phải được vận hành một cách nhip nhàng thống nhất, đúng pháp
luật và bản án, quyết định của Tòa án nhân dân có hiệu lực pháp luật hoặc của trọng tài
Thương mại phải được các cơ quan, tổ chức, cá nhân tôn trọng và thi hành đúng quy định
pháp luật có như vậy thì việc thi hành án dân sự mới đảm bảo được quyền lợi của Nhà
nước, tổ chức và cá nhân.
1.4.2. Đẩy mạnh hội nhập quốc tế
Hiện nay quá trình hội nhập kinh tế, xã hội, văn hóa quốc tế của nước ta diễn ra rất
mạnh mẽ, sâu rộng và trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có lĩnh vưc
thi hành án dân sự, do thời kỳ mở cửa phát triển kinh tế nên có rất nhiều tổ chức, cá nhân
nước ngoài vào đầu tư, làm ăn trên lãnh thổ nước ta, do đó việc tranh chấp về dân sự và
khiếu kiện về dân sự là không tránh khỏi, trong thực tế có rất nhiều trường hợp thi hành
án dân sự nói chung và án tồn động nói riêng có liên quan đến yếu tố nước ngoài. Việc
thi hành án dân sự có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ các quan hệ dân sự, thương
mại, kinh tế trong điều kiện hội nhập, tạo niềm tin và thúc đẩy sự phát triển các quan hệ
quốc tế ngày càng sâu rộng. Vì vậy để góp phần thúc đẩy quá trình hội nhập kinh tế quốc
tế, thì phải tổ chức thi hành án dân sự có hiệu quả dứt điểm các bản án, quyết định có yếu
tố nước ngoài của Tòa ná nhân dân và các bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước
ngoài được Tòa án Việt Nam công nhận và cho thi hành tại Việt Nam góp phần đẩy mạnh

quyết định có được thi hành đúng quy định hay không phụ thuộc vào nhiều yếu tố trong
đó, các cơ quan nhà nước, tổ chức và cá nhân tuân theo quy định pháp luật là yếu tố cơ
bản nhất. Do đó, việc chấp hành đúng quy định pháp luật về thi hành án dân sự nhất là
các bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân về dân sự và quyết định
của Trọng tài Thương mại không những đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật mà còn
góp phần tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa ở nước nước hiện nay.
1.4.4. Góp phần giữ gìn trật tự, kỹ cương, an toàn xã hội
Việc thi hành án dân sự là làm cho bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của
Tòa án dân nhân được thực hiện trong thực tế, nếu không được tổ chức thi hành thì toàn
bộ kết quả của quá trình tố tụng trước đó trở thành vô nghĩa và kỹ cương, phép nước bị
xem thường vì Tòa án nhân dân là cơ quan duy nhất nhân danh Nhà nước trong hoạt
động xét xử và nhân danh Nhà nước phán quyết ác vụ việc dân sự. Vì vậy, việc phán
quyết của Tòa án nhân dân tuyệt đối với được tôn trọng và được thi hành đúng quy định.
Việc thi hành án dân sự đsng quy định sẽ làm cho quan hệ xã hội bị xâm hại được khôi
phục lại tình trạng ban đầu, trật tự xã họi được lập lại. Bản án, quyết định được thi hành
một cách triệt để sẽ tác động rất lớn đến ý thức, nhận thức chấp hành pháp luật của
nguwoif thi hành án, người được thi hành án, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan và
của toàn xã hội, từ đó nâng cao ý thức chấp hành pháp luật trong nhân dân và làm cho
mọi người hiểu biết thêm về pháp luật để tuân thủ và làm theo quy dịnh của pháp luật góp
phần gìn giử trật tự kỹ cương và ổn định xã hội. Nội dung của các bản án là bảo vệ quyền
GVHD: Thân Thị Ngọc Bích

13

SVTH: Nguyễn Thị Mỹ Sương


LVTN: Công tác thi hành án dân sự tại huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp – Bất cập và hướng
hoàn thiện


CHƯƠNG 2: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT
VỀ CÔNG TÁC THI HÀNH ÁN DÂN SỰ

2.1. Hệ thống tổ chức thi hành án dân sự
Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tố tụng hình sự, nhằm
đưa bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án ra thi hành trên thực tế theo trình
tự thủ tục đã được quy định nhằm thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ mà tố tụng hình sự
đặt ra. Trong đó, việc thi hành án hình phạt tiền cũng là một mặt, một bộ phận trong công
tác thi hành án dân sự.
Theo Điều 13 Luật Thi hành án năm 2008 quy định về Hệ thống tổ chức thi hành
án dân sự thì: Hệ thống tổ chức thi hành án dân sự bao gồm:
1. Cơ quan quản lý thi hành án dân sự:
a) Cơ quan quản lý thi hành án dân sự thuộc Bộ Tư pháp;
b) Cơ quan quản lý thi hành án thuộc Bộ Quốc phòng.
2. Cơ quan thi hành án dân sự:
a) Cơ quan thi hành án dân sự tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung
là cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh);
b) Cơ quan thi hành án dân sự huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi
chung là cơ quan thi hành án dân sự cấp huyện);
c) Cơ quan thi hành án quân khu và tương đương (sau đây gọi chung là cơ quan thi hành
án cấp quân khu).
Chính phủ quy định nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan quản lý thi hành án dân sự; tên
gọi, cơ cấu, tổ chức cụ thể của cơ quan thi hành án dân sự.
2.1.1. Các cơ quan quản lý nhà nước về thi hành án dân sự
Về các cơ quan quản lý nhà nước tong THADS chia làm hai nhóm. Nhóm quản lý
theo lãnh thổ và nhóm quản lý theo ngành.
Quản lý theo lãnh thổ: Chính phủ; Bộ Tư pháp; Bộ Quốc phòng; Ủy ban nhân dân
7
các cấp . Theo đó, nhiệm vụ và quyền hạn của từng cơ quan được phân cấp theo từng cấp
cơ quan. Em cần trình bày rõ từng cấp cơ quan này có nhiệm vụ như thế nào.

yêu cầu.
2.1.2.2. Cơ quan Thi hành án dân sự cấp tỉnh
Thực hiện việc quản lý, chỉ đạo về THA dân sự trên địa bàn tỉnh, thành phố trực
thuộc trung ương, bao gồm: Bảo đảm việc áp dụng thống nhất các quy định của pháp luật
trong hoạt động THA dân sự. Chỉ đạo hoạt động THA dân sự đối với cơ quan THA dân
sự cấp huyện; hướng dẫn nghiệp vụ THA dân sự cho Chấp hành viên, công chức khác
của cơ quan THA dân sự trên địa bàn. Kiểm tra công tác THA dân sự đối với cơ quan
THA dân sự cấp huyện. Tổng kết thực tiễn THA dân sự; thực hiện chế độ thống kê, báo
cáo công tác tổ chức, hoạt động THA dân sự theo hướng dẫn của cơ quan quản lý THA
dân sự thuộc Bộ Tư pháp.
Trực tiếp tổ chức thi hành bản án, quyết định theo quy định của pháp luật.
Lập hồ sơ đề nghị xét miễn, giảm nghĩa vụ THA dân sự; phối hợp với cơ quan Công
an trong việc lập hồ sơ đề nghị xét miễn, giảm chấp hành hình phạt tù và đặc xá cho
người có nghĩa vụ THA dân sự đang chấp hành hình phạt tù.
Giải quyết khiếu nại, tố cáo về THA dân sự thuộc thẩm quyền theo quy định của
Luật này.
Thực hiện quản lý công chức, cơ sở vật chất, kinh phí, phương tiện hoạt động của cơ
quan THA dân sự tại địa phương theo hướng dẫn, chỉ đạo của cơ quan quản lý THA dân
sự thuộc Bộ Tư pháp.
Giúp Ủy ban nhân dân cùng cấp thực hiện trách nhiệm, quyền hạn theo quy định và báo
cáo công tác THA dân sự trước Hội đồng nhân dân cùng cấp khi có yêu cầu.
2.1.3. Chấp hành viên
Theo quy định tại điều 17 Luật Thi hành án dân sự thì Chấp hành viên là người
được Nhà nước giao nhiệm vụ thi hành các bản án, quyết định theo quy định tại Điều 2
của Luật Thi hành án dân sự 2008. Chấp hành viên có ba ngạch là Chấp hành viên sơ cấp,
Chấp hành viên trung cấp và Chấp hành viên cao cấp. Chấp hành viên do Bộ trưởng Bộ
Tư pháp bổ nhiệm.
GVHD: Thân Thị Ngọc Bích

16

hợp nghỉ hưu hoặc chuyển đến cơ quan khác thì Bộ trưởng Bộ Tư pháp xem xét, miễn
nhiệm Chấp hành viên trong trường hợp do hoàn cảnh gia đình hoặc sức khỏe mà xét
thấy không thể bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ Chấp hành viên hoặc do năng lực chuyên
môn, nghiệp vụ không bảo đảm thực hiện nhiệm vụ Chấp hành viên hoặc vì lý do khác
mà không còn đủ tiêu chuẩn làm Chấp hành viên. (Điều 19 Luật Thi hành án dân sự).
Về nhiệm vụ, quyền hạn của Chấp hành viên: Luật Thi hành án dân sự đã bổ
sung nhiều quy định mới so với pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 2004, nhằm đáp ứng
yêu cầu tác nghiệp của Chấp hành viên. Để thực hiện chức năng “thi hành đúng nội dung
bản án, quyết định; áp dụng đúng các quy định của pháp luật về trình tự, thủ tục thi hành
án, bảo đảm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự, người có quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan...”, Chấp hành viên có các quyền năng, nhiệm vụ cụ thể như: triệu
tập đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan để giải quyết việc thi hành án; xác
minh tài sản, điều kiện thi hành án của người phải thi hành án; yêu cầu các cơ quan, tổ
GVHD: Thân Thị Ngọc Bích

17

SVTH: Nguyễn Thị Mỹ Sương


LVTN: Công tác thi hành án dân sự tại huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp – Bất cập và hướng
hoàn thiện

chức, cá nhân có liên quan cung cấp tài liệu để xác minh địa chỉ, tài sản của người phải
thi hành án hoặc phối hợp với cơ quan có liên quan xử lý vật chứng, tài sản và những
việc khác liên quan đến việc thi hành án. Đặc biệt, Chấp hành viên còn có quyền yêu cầu
cơ quan Công an tạm giữ người chống đối việc thi hành án theo quy định của pháp luật
và được sử dụng công cụ hỗ trợ trong khi thi hành công vụ theo quy định. (Điều 20 Luật
Thi hành án dân sự).
Để nâng cao trách nhiệm, đồng thời để bảo đảm tính công minh khách quan của

18

SVTH: Nguyễn Thị Mỹ Sương


LVTN: Công tác thi hành án dân sự tại huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp – Bất cập và hướng
hoàn thiện

đương sự, vừa tạo điều kiện cho đương sự nhận thức về quyền, nghĩa vụ và thời hiệu yêu
cầu THA dân sự. Mặt khác, Toà án đã ra bản án, quyết định phải cấp cho đương sự bản
án, quyết định có ghi “Để thi hành”.
Đối với bản án, quyết định thuộc diện Thủ trưởng cơ quan THA dân sự chủ động ra
quyết định THA dân sự, Luật THA dân sự quy định Toà án chuyển giao cho cơ quan
THA dân sự trong thời hạn cụ thể đối với từng trường hợp như sau:
Đối với bản án, quyết định, phần bản án, quyết định của Toà án cấp sơ thẩm không
bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm; bản án, quyết định của Toà án cấp phúc
thẩm; quyết định giám đốc thẩm hoặc tái thẩm của Toà án; bản án, quyết định dân sự của
Toà án nước ngoài, quyết định của Trọng tài nước ngoài đã được Toà án Việt Nam công
nhận và cho thi hành tại Việt Nam, thì Tòa án đã ra bản án, quyết định phải chuyển giao
cho cơ quan THA dân sự có thẩm quyền trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày bản án, quyết
định có hiệu lực pháp luật.
Đối với bản án, quyết định về cấp dưỡng, trả lương, trả công lao động, trợ cấp thôi
việc, trợ cấp mất việc làm, trợ cấp mất sức lao động hoặc bồi thường thiệt hại về tính
mạng, sức khoẻ, tổn thất về tinh thần, nhận người lao động trở lại làm việc, thì Tòa án đã
ra bản án, quyết định phải chuyển giao cho cơ quan THA dân sự trong thời hạn 15 ngày,
kể từ ngày ra bản án, quyết định.
Đối với quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời thì Toà án đã ra quyết định
phải chuyển giao cho cơ quan THA dân sự ngay sau khi ra quyết định.
Trường hợp cơ quan có thẩm quyền đã kê biên tài sản, tạm giữ tài sản, thu giữ vật
chứng hoặc thu giữ các tài liệu khác có liên quan đến việc THA dân sự thì khi chuyển


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status