áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng. thực tiễn tại huyện lấp vò tỉnh đồng tháp - Pdf 30

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
KHÓA 38 ( 2012-2015 )

Đề tài:

ÁP DỤNG BIỆN PHÁP ĐƯA VÀO TRƯỜNG GIÁO DƯỠNG.
THỰC TIỄN TẠI HUYỆN LẤP VÒ - TỈNH ĐỒNG THÁP

Giảng viên hướng dẫn:

Sinh viên thực hiện:

NGUYỄN HỮU LẠC

TRẦN THỊ MỸ CHÂU

Bộ môn Luật hành chính

MSSV: S120002
Lớp: Luật bằng 2- Đồng Tháp

Cần Thơ, tháng 11 năm 2015


Đề tài: “ Áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng đối với người chưa thành niên thực tiễn tại huyện Lấp Vò – tỉnh Đồng Tháp”

LỜI NÓI ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài

chế quyền tự do, dân chủ của công dân nên cấp Ủy, Chính quyền các cấp đều quan
tâm chỉ đạo sát sao, có nhiều biện pháp tích cực trong việc lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức
thực hiện. Xuất phát từ những lý do tồn tại nêu trên người viết chọn đề tài: “Áp dụng
GVHD: Nguyễn Hữu Lạc

-1-

SVTH: Trần Thị Mỹ Châu


Đề tài: “ Áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng đối với người chưa thành niên thực tiễn tại huyện Lấp Vò – tỉnh Đồng Tháp”

biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng. Thực tiển tại huyện Lấp Vò – tỉnh Đồng
Tháp”, làm luận văn tốt nghiệp cử nhân luật của mình.
2. Mục tiêu nghiên cứu chọn đề tài
Việc nghiên cứu đề tài là nhằm tìm ra nguyên nhân những khó khăn còn tồn tại
trong việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng, trên cơ sở
đó người viết đưa ra một số giải pháp nhằm hạn chế người chưa thành niên vi phạm
pháp luật và hoàn thiện pháp luật áp dụng biện pháp vào trường giáo dưỡng.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung vào các văn bản pháp luật xử lý hành chính đưa vào trường giáo
dưỡng hiện hành như: Luật xử lý vi phạm hành chính 2012; Nghị định 02/2014/NĐCP (ngày 10/01/2014); Nghị định 81/2013/NĐ-CP (ngày 19/7/2013); Pháp lệnh 09/
UBTVQH (hiệu lực ngày 01/7/2014) và thực tiễn áp dụng biện pháp này tại huyện Lấp
Vò, tỉnh Đồng Tháp.
4. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài được dựa trên cơ sở lý luận là quan điểm của chủ nghĩa Mác LêNin và tư
tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và nhà nước về nhà nước và pháp luật xây
dựng nhà nước pháp quyền, pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong giai đoạn
hiện nay. Trong quá trình thực hiện đề tài người viết còn sử dụng một số phương pháp
nghiên cứu cụ thể như: phương pháp phân tích, tổng hợp, phương pháp so sánh, và

mục đích và ý nghĩa trong việc áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng.
1.1 Khái niệm về vi phạm hành chính và dấu hiệu vi phạm hành chính
Vi phạm hành chính là một loại vi phạm xảy ra khá phổ biến trong đời sống xã
hội.Tuy mức độ nguy hiểm cho xã hội thấp hơn so với tội phạm hình sự nhưng vi
phạm hành chính đều là những vi phạm gây thiệt hại cho nhà nước, tập thể, lợi ích của
cá nhân cũng như lợi ích cộng đồng, là nguyên nhân dẫn đến tội phạm nảy sinh trên
toàn lĩnh vực của đời sống xã hội nếu không được ngăn chặn và xử lý kịp thời, đặc
biệt là xác định ranh giới giữa vi phạm hành chính và tội phạm, tạo cơ sở pháp lý cần
thiết cho việc xử lý đấu tranh, phòng chống một cách có hiệu quả đối với vi phạm
hành chính, cần thiết để xử lý vi phạm hành chính nói chung và xử phạt vi phạm hành
chính nói riêng ra đời là công cụ quan trọng trong hoạt động quản lý Nhà nước nhằm
duy trì trật, tự kỹ cương trong quản lý hành chính Nhà nước. Đây là một số định nghĩa
chính thức về vi phạm hành chính.
Trước khi Pháp lệnh Xử phạt vi phạm hành chính ban hành ngày 30/11/1989,
được hiểu là: “ tất cả những hành vi xâm phạm đến trật tự xã hội mà có tính chất đơn
giản, rõ ràng và hậu quả không nghiêm trọng, chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình
sự hoặc áp dụng các biện pháp hành chính khác là phạm pháp vi cảnh”.1
Từ sau ngày 30/11/1989, Pháp lệnh Xử phạt vi phạm hành chính quy định “ vi
phạm hành chính là hành vi do cá nhân, tổ chức thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý,
xâm phạm quy tắc quản lý Nhà nước mà không phải là tội phạm hình sự và theo quy
định của pháp luật phải bị xử phạt hành chính”.2 Định nghĩa này sau đó được áp dụng
rộng rãi trong thực tiễn thi hành pháp luật và đưa vào các giáo trình giảng dạy về pháp
luật.
1
2

Nghị định số 143 /CP của Hội Đồng Chính Phủ ngày 27/5/1977 v/v ban hành “Điều lệ xử phạt vi cảnh”.
Điều 1 của Pháp lệnh xử phạt vi phạm hành chính 1989.

GVHD: Nguyễn Hữu Lạc

d) Biện pháp thay thế và xử lý hành chính là biện pháp mang tính giáo dục
được áp dụng để thay thế cho hình thức xử phạt vi phạm hành chính hoặc biện pháp
xử lý đối với người chưa thành niên vi phạm hành chính, bao gồm biện pháp nhắc nhở
và biện pháp quản lý tại gia đình .
e) Vi phạm hành chính nhiều lần là trường hợp cá nhân, tổ chức thực hiện hành
vi vi phạm hành chính mà trước đó đã thực hiện hành vi vi phạm hành chính này
nhưng chưa bị xử lý và chưa hết thời hiệu xử lý”.
Theo nguyên tắc hành vi, Luật hành chính Việt Nam không đặt vấn đề trách
nhiệm hành chính đối với những khuynh hướng tư tưởng của con người, không đặt
vấn đề trách nhiệm hành chính đối với cả biểu hiện ra bên ngoài mà không phải hành
vi.
Hành vi vi phạm được xác định thông qua bốn đặc điểm: Tính xâm hại nguyên tắc
3

Khoản 1 Điều 2 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012.

GVHD: Nguyễn Hữu Lạc

-4-

SVTH: Trần Thị Mỹ Châu


Đề tài: “ Áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng đối với người chưa thành niên thực tiễn tại huyện Lấp Vò – tỉnh Đồng Tháp”

quản lý nhà nước; tính có lỗi; tính trái pháp luật hành chính; tính chịu xử phạt vi phạm
hành chính.
Dấu hiệu vi phạm hành chính:
- Khách thể:
+ Khách thể ở đây là những quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ và bị xâm


SVTH: Trần Thị Mỹ Châu


Đề tài: “ Áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng đối với người chưa thành niên thực tiễn tại huyện Lấp Vò – tỉnh Đồng Tháp”

Lỗi cố ý: người vi phạm nhận thức rõ được tính chất nguy hiểm, mong muốn hay
để mặc cho hậu quả xảy ra.
Lỗi vô ý: người vi phạm không biết hoặc không nhận thức được hậu quả mà đáng
lẽ ra phải biết hoặc nhận thức được. Hoặc nhận thức được nhưng cho rằng có thể ngăn
ngừa được hậu quả xảy ra nên vẫn vi phạm.
1.2 Các hình thức xử lý vi phạm hành chính
1.2.1 Xử phạt vi phạm hành chính
“Xử phạt vi phạm hành chính” là việc người có thẩm quyền xử phạt áp dụng các
hình thức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả đối với cá nhân, tổ chức thực hiện
hành vi vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật về xử phạt vi phạm hành
chính.4
Xử phạt vi phạm hành chính đối với người chưa thành niên là hoạt động áp dụng
các hình thức xử phạt với người chưa thành niên từ đủ 14 đến dưới 18 tuổi thực hiện
vi phạm hành chính. “người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chỉ bị xử phạt hành chính
về vi phạm hành chính do cố ý; người từ đủ 16 tuổi trở lên bị xử phạt hành chính về
mọi vi phạm hành chính” .5
Theo Luật hiện hành, các hình thức xử lý vi phạm hành chính vẫn không thay đổi
so với Pháp lệnh xử phạt hành chính năm 2002 (đã được sửa đổi bổ sung các năm
2007, 2008). Bên cạnh đó, Luật xử lý vi phạm hành chính cũng có một số điểm mới
về các hình thức xử phạt vi phạm hành chính gồm có:
a) Phạt cảnh cáo
“Cảnh cáo được áp dụng đối với cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính không
nghiêm trọng, có tình tiết giảm nhẹ và theo quy định thì áp dụng hình thức xử phạt
cảnh cáo đối với mọi hành vi vi phạm hành chính do người chưa thành niên từ đủ 14

pháp luật để thực hiện hành vi sai phạm của mình. Bởi vậy, biện pháp này chỉ áp dụng
đối với vi phạm mà tính chất, mức độ gây hại của hành vi đó là chưa cao hoặc chưa
nghiêm trọng, gây ảnh hưởng chưa lớn cho xã hội và đặc biệt là có thể khắc phục
được. Thủ tục áp dụng hình thức xử phạt cảnh cáo là thủ tục đơn giản (chỉ ra quyết
định xử phạt, không lập biên bản).
Theo đó người chưa thành niên dưới 14 tuổi không bị áp dụng hình thức phạt
cảnh cáo trong mọi trường hợp.
b) Phạt tiền
Phạt tiền là hình thức xử phạt mang tính chất “tài sản”. Trong hình thức phạt tiền
tính chất phạt thể hiện rất rõ. Đó chính là việc tước bỏ ở người có hành vi trái pháp
luật một khoản tiền nhất định thuộc về sở hữu của người vi phạm, tức là thể hiện một
sự hạn chế về mặt pháp luật đối với người đó, sự hạn chế này chứng tỏ phạt tiền là
biện pháp tác động có độ nghiêm khắc hơn biện pháp cảnh cáo. Hình thức phạt tiền
cũng là vi phạm có mức độ nguy hiểm cho xã hội cao hơn các vi phạm áp dụng hình
thức cảnh cáo.
Trong các hình thức xử phạt hành chính thì phạt tiền là một biện pháp đã, đang
và sẽ mang lại hiệu quả to lớn đối với việc đấu tranh phòng chống vi phạm hành
chính.
Mức phạt tiền trong xử phạt vi phạm hành chính từ 50.000 đồng đến
1.000.000.000 đồng đối với cá nhân, từ 100.000 đồng đến 2.000.000.000 đồng đối với
tổ chức, trừ trường hợp mức phạt tiền tối đa trong lĩnh vực thuế; đo lường; sở hữu trí
tuệ; an toàn thực phẩm; chất lượng sản phẩm; hàng hóa; chứn khoán; hạn chế cạnh
tranh theo các luật tương ứng.7
Tuỳ theo tính chất mức độ của hành vi vi phạm và tính chất của các quan hệ xã
hội bị hành vi vi phạm xâm hại tới, nhà làm luật xác định mức phạt tiền tối đa cho mỗi
lĩnh vực cho phù hợp.

7

Điều 23 Luật xử lý vi phạm hành chính 2012.

tục hành chính và quản lý người nước ngoài vi phạm pháp luật Việt Nam trong thời
gian làm thủ tục trục xuất: Người nước ngoài bị áp dụng hình thức xử phạt trục xuất
quy định tại các Nghị định xử phạt vi phạm hành chính; Người có thẩm quyền xử phạt
trục xuất, người có thẩm quyền áp dụng các biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử lý vi
phạm hành chính; Các cơ quan, tổ chức khác có liên quan đến việc áp dụng hình thức
xử phạt trục xuất và các biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử lý vi phạm hành chính.
Thẩm quyền quyết định áp dụng hình thức trục xuất thuộc về Giám đốc Công an cấp
tỉnh và Cục trưởng Cục quản lý xuất nhập cảnh có thẩm quyền xử phạt theo quy định
tại khoản 6 Điều 39 Luật xử lý vi phạm hành chính và có quyền quyết định hình thức
xử phạt trục xuất. Về Trình tự, thủ tục lập hồ sơ đề nghị áp dụng hình thức xử phạt
trục xuất;Quyết định xử phạt trục xuất; Hoãn thi hành quyết định xử phạt trục xuất; Hồ
sơ thi hành quyết định xử phạt trục xuất quy định cụ thể ở các Điều 6, Điều 7, Điều 9,
Điều 10 Nghị định 112/2013/NĐ-CP quy định hình thức xử phạt trục xuất, biện pháp
8

Điều 27 Luật xử lý vi phạm hành chính 2012.
Điều 11 Nghị định 112/2013/NĐ- CP quy định hình thức trục xuất, biện pháp tạm giữ người theo thủ tục hành
chính và quản lý người nước ngoài trong thời gian làm thủ tục trục xuất.
9

GVHD: Nguyễn Hữu Lạc

-8-

SVTH: Trần Thị Mỹ Châu


Đề tài: “ Áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng đối với người chưa thành niên thực tiễn tại huyện Lấp Vò – tỉnh Đồng Tháp”

tạm giữ người, áp giải người vi phạm theo thủ tục hành chính và quản lý người nước

tế không áp dụng với người chưa thành niên. Bởi các hoạt động theo quy định của
pháp luật phải được tiến hành trên cơ sở và trong phạm vi của giấy phép, hoặc chứng
10

Điều 25 Luật xử lý vi phạm hành chính 2012.

GVHD: Nguyễn Hữu Lạc

-9-

SVTH: Trần Thị Mỹ Châu


Đề tài: “ Áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng đối với người chưa thành niên thực tiễn tại huyện Lấp Vò – tỉnh Đồng Tháp”

chỉ là những hoạt động xã hội có tính phức tạp và Nhà nước kiểm sát. Để đảm bảo chủ
thể có thể thực hiện được hoạt động theo đòi hỏi của pháp luật và có khả năng chịu
trách nhiệm độc lập về hoạt động của mình độ tuổi ít nhất là tuổi thành niên.
e) Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính (tịch thu tang vật vi phạm
hành chính, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính)
“Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính là việc sung vào ngân sách
nhà nước vật, tiền, hàng hóa, phương tiện có liên quan trực tiếp đến vi phạm hành
chính, được áp dụng đối với vi phạm hành chính nghiêm trọng do lỗi cố ý của cá nhân,
tổ chức. Việc xử lý tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tịch thu được thực
hiện theo quy định tại Điều 82 của Luật xử lý vi phạm hành chính”.11
Thực chất hình thức này là tước bỏ quyền sở hữu của người vi phạm và chuyển
sang quyền sở hữu Nhà nước những vật, tiền, phương tiện ấy. Đối với các tang vật,
phương tiện sử dụng để vi phạm hành chính mà không thuộc quyền sở hữu hợp pháp
của tổ chức, cá nhân vi phạm thì không áp dụng biện pháp này mà phải trả lại cho chủ
sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp, bởi vì chủ sở hữu hợp pháp những tài sản đó


Xử phạt vi phạm hành chính thông thường, áp dụng đối với chủ thể là cá nhân, tổ
chức có hành vi vi phạm hành chính bao gồm:
Hình thức xử phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền chỉ quy định và áp dụng là hình thức
xử phạt chính.
Hình thức xử phạt như: Tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có
thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn; Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm
hành chính; Trục xuất có thể được quy định là hình thức xử phạt bổ sung hoặc hình
thức xử phạt chính.
Đối với mỗi vi phạm hành chính, cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính chỉ bị áp
dụng một hình thức xử phạt chính; có thể bị áp dụng một hoặc nhiều hình thức xử phạt
bổ sung. Hình thức phạt bổ sung chỉ được áp dụng kèm theo hình phạt chính.12
So với Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002 (đã được sửa đổi bổ sung
các năm 2007, 2008), xử phạt của Luật xử lý vi phạm hành chính 2012 đã bổ sung
thêm 02 hình thức xử phạt chính là:Tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành
nghề có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn; Tịch thu tang vật, phương tiện
vi phạm hành chính.
Điểm mới của Luật đã bổ sung hình thức xử phạt mới ( đình chỉ hoạt động có
thời hạn)
1.2.2 Các biện pháp khắc phục hậu quả 13
+ Buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu;
+ Buộc tháo dỡ công trình, phần công trình xây dựng không có giấy phép hoặc
xây dựng không đúng với giấy phép;
+ Buộc thực hiện biện pháp khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường, lây lan
dịch bệnh;
+ Buộc đưa ra khỏi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hoặc tái
sản xuất hàng hóa, vật phẩm, phương tiện;
+ Buộc tiêu hủy hàng hóa, vật phẩm gây hại cho sức khỏe con người, vật nuôi,
cây trồng và môi trường, văn hóa phẩm có nội dung độc hại;
+ Buộc cải chính thông tin sai sự thật hoặc nhằm lẫn;

quyền địa phương cùng -gia đình phải có trách nhiệm áp dụng những biện pháp cho phù
hợp, hiệu quả, nhằm giúp đỡ người vi phạm để họ có thể nhận thức đúng đắn hơn về
những việc sai lầm mình làm, để có ý thức tuân thủ pháp luật. Về trình tự thủ tục, xem
xét, quyết định, thi hành quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn
được quy định cụ thể ở các “Điều 97, Điều 98, Điều 108, Điều 109 của Luật xử lý vi
phạm hành chính và các văn bản hướng dẫn chi tiết kèm theo Luật về việc áp dụng biện
pháp này”.
b) Đưa vào trường giáo dưỡng
Đưa vào trường giáo dưỡng là biện pháp xử lý hành chính áp dụng đối với người có
hành vi vi phạm pháp luật quy định tại Điều 92 của luật này nhằm mục đích giúp họ học
văn hóa, học nghề, lao động, sinh hoạt dưới sự quản lý, giáo dục của nhà trường. Thời hạn
áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng từ 06 tháng đến 24 tháng.16 Đối với các
quy định của pháp luật về đối tượng áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo; Trình tự,
thủ tục thực hiện biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng; Trình tự, thủ tục xem xét
quyết định áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng; Thẩm quyền áp dụng biện
pháp đưa vào trường giáo dưỡng; Gửi và thi hành quyết định biện pháp đưa vào
trường giáo dưỡng. Người viết nghiên cứu và phân tích sâu vào các quy định của pháp
luật ở Chương 2 của luận văn này.
c) Đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc

14

Điều 28 Luật xử lý vi phạm hành chính 2012.
Điều 89, 90 Luật xử lý vi phạm hành chính 2012.
16
Điều 93, 94 luật xử lý vi phạm hành chính 2012.
15

GVHD: Nguyễn Hữu Lạc


Thời hạn áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc từ 12 tháng đến 24
tháng.17 Đối tượng áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là người nghiện
ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tai xã, phường, thị trấn mà
vẫn còn nghiện hoặc chưa bị áp dụng biện pháp này không có nơi cư trú ổn định. Thẩm
quyền xem xét, quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thuộc về
Tòa án nhân dân cấp huyện. Về trình tự thủ tục từ khâu đề nghị đến thi hành quyết định
áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc được quy định trong Luật xử lý vi
phạm hành chính ở các Điều 103, Điều 104, Điều 107, Điều 110, Điều 118 và từ Điều
110 đến Điều 114,18 và có các văn bản hướng dẫn chi tiết kèm theo Luật xử lý vi phạm
hành chính.
17

Điều 95, Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính 2012.
Điều 103, Điều 104, Điều 107, Điều 110, Điều118 và từ Điều 110 đến Điều 114 Luật xử lý vi phạm hành chính
2012.
18

GVHD: Nguyễn Hữu Lạc

-13-

SVTH: Trần Thị Mỹ Châu


Đề tài: “ Áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng đối với người chưa thành niên thực tiễn tại huyện Lấp Vò – tỉnh Đồng Tháp”

 Như vậy:
So với Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính 2002, thì các biện pháp xử lý hành
chính có sự thay đổi như:
- Biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục thay thế là biện pháp đưa vào trường giáo dục

Điều 91 Luật xử lý vi phạm hành chính 2012.
21
Điều 105 Luật xử lý vi phạm hành chính 2012.
22
Điều 92 Luật xử lý vi phạm hành chính 2012.
23
Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính 1995.
24
Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính 2002 và Pháp lệnh năm 2002 được sửa đổi bổ sung năm 2007, 2008.
20

GVHD: Nguyễn Hữu Lạc

-14-

SVTH: Trần Thị Mỹ Châu


Đề tài: “ Áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng đối với người chưa thành niên thực tiễn tại huyện Lấp Vò – tỉnh Đồng Tháp”

Nghị định số 142/2003/NĐ-CP quy định việc áp dụng biện pháp xử lý hành
chính đưa vào trường giáo dưỡng ban hành ngày 24/11/2003.25
Nghị định số 66/2009/NĐ-CP sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định 142
quy định việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng ban
hành ngày 01/08/2009.26
Nghị định số 118/2010/NĐ-CP quy định sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị
định về việc áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục, giáo dưỡng ban hành ngày
29/12/2010.27 Các văn bản này là văn bản có giá trị pháp lý cao giữ gìn, bảo vệ an
ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội mấy chục năm qua, Việt Nam đã từng sử dụng
một số biện pháp xử lý người vi phạm pháp luật có nội dung, mục đích giống biện

Pháp lệnh số 09/2014/ UBTVQH13 Pháp lệnh quy định trình tự thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện
pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân có hiệu lực ngày 01/7/2014.
30
Nghị định 81/2013/NĐ-CP quy địnhchi tiết một số điều và biện pháp xử lý hành chính ban hành ngày
19/7/2013.
31
Nghị định 02/2014/NĐ-CP quy định chế độ áp dụng, thi hành biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo
dưỡng và cơ sở giáo dục bắt buộc ban hành ngày 10/01/2014.

GVHD: Nguyễn Hữu Lạc

-15-

SVTH: Trần Thị Mỹ Châu


Đề tài: “ Áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng đối với người chưa thành niên thực tiễn tại huyện Lấp Vò – tỉnh Đồng Tháp”

trường xã hội trong một thời gian nhất định để quản lý, giáo dục và tạo dựng môi
trường mới, giúp các em sửa chữa những sai phạm của mình và có điều kiện học văn
hoá, giáo dục pháp luật, hướng nghiệp, dạy nghề, sinh hoạt lành mạnh, giúp các em
rèn luyện khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình để trở thành công dân có
ích cho xã hội.
Mặc dù vậy, đưa vào trường giáo dưỡng vẫn là một biện pháp hạn chế quyền tự
do con người và quyền công dân. Trong khi đó, theo Công ước của Liên hợp quốc về
Quyền trẻ em,32 tước tự do là loại chế tài nghiêm khắc nhất có thể áp dụng đối với
người chưa thành niên vi phạm pháp luật, do đó chỉ được phép áp dụng sau cùng, đối
với người chưa thành niên thực hiện các vi phạm pháp luật nghiêm trọng mang tính
bạo lực hoặc tái phạm nhiều lần. Qua hơn 20 năm thực hiện Công ước của Liên hợp
quốc về Quyền trẻ em, trong bối cảnh tình hình kinh tế, xã hội của Việt Nam có nhiều


SVTH: Trần Thị Mỹ Châu


Đề tài: “ Áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng đối với người chưa thành niên thực tiễn tại huyện Lấp Vò – tỉnh Đồng Tháp”

đồng và bình đẳng về cơ hội phát triển. Đồng thời nhằm giữ gìn kỷ luật, kỷ cương tính
nghiêm minh của pháp luật trong mọi trường hợp phải xử lý.
Tóm lại: Đưa vào trường giáo dưỡng là biện pháp xử lý hành chính áp dụng với
người có hành vi vi phạm pháp luật quy định tại Điều 92 của Luật xử lý vi phạm hành
chính nhằm mục đích giúp họ học văn hóa, học nghề, lao động, sinh hoạt dưới sự quản
lý, giáo dục của nhà trường. Thời hạn áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng
từ 06 tháng đến 24 tháng.34
Cần lưu ý: Chủ thể bị áp các biện pháp xử lý hành chính nói chung và biện pháp
đưa vào trường giáo dưỡng nói riêng chỉ có thể là công dân Việt Nam.
1.4 Khái niệm và đặc điểm người chưa thành niên
1.4.1 Khái niệm
Hiện nay đối với khái niệm người chưa thành niên ở nước ta được quy định tại
nhiều văn bản pháp luật khác nhau, với những tên gọi khác chủ yếu là “ người chưa
thành niên ” , “ trẻ em” và “ vị thành niên”. Để làm rõ thêm những khái niệm này giống
và khác nhau như thế nào người viết xin đưa ra một số dẫn chứng như:
Từ điển tiếng việt ( Viện ngôn ngữ học, 2014 ) ghi nhận “ thanh niên’’ là người ở
độ tuổi được pháp luật công nhận với đầy đủ các quyền và nghĩa vụ, “vị thành niên’’ là
chưa đến tuổi được pháp luật công nhận với đầy đủ các quyền và nghĩa vụ.
Theo từ điển luật học (nhà xuất bản Bách khoa, Hà nội 1999),35 không đưa ra khái
niệm “thành niên” trước mà đưa ra khái niệm “vị thành niên” và chú giải người chưa
thành niên là người chưa đến tuổi được pháp luật coi là có đủ khả năng để sử dụng
quyền, làm nghĩa vụ và chịu trách nhiệm. Theo đó người chưa đủ 18 tuổi là “vị thành
niên”. Từ điển luật học đưa ra định nghĩa cụ thể hơn, theo đó “người chưa thành niên” là
người dưới 18 tuổi. Tuy nhiên theo định nghĩa này thì chưa thành niên sẽ không được

Bộ luật Dân sự Nước Cộng Hòa xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam cũng quy định rằng:
“… Người chưa đủ 18 tuổi là người chưa thành niên” : Điều 20 quy định năng luật hành
vi dân sự của người chưa thành niên là người từ đủ 6 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi và đồng
thời cũng lại quy định trường hợp người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi có tài sản
riêng đủ để bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ.38
Bộ Luật Hình sự 1999, được sửa đổi bổ sung năm 2009 của Nước Cộng Hòa Xã
Hội Chủ Nghĩa Việt Nam được Quốc hội , tại chương X quy định “người chưa thành
niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của
chung này…”, tiếp đó Điều 69 khoản 5 lại có sự phân biệt trách nhiệm hình sự của
người chưa thành niên đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi và đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi.39
Trong khi đó, trên khía cạnh về những vấn đề lao động và việc làm, Bộ luật lao
động của Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam lại có quy định như sau: Người
lao động là người từ đủ 15 tuổi trở lên, làm việc theo hợp đồng lao động, được trả lương
và chịu sự điều hành quản lý của người sử dụng lao động ( Điều 3 ); Người chưa thành
niên là người dưới 18 tuổi (Điều 161).40
Như vậy, có thể thấy rằng việc xác định độ tuổi người chưa thành niên là rất khó ,
việc đồng nhất khái niệm “chưa thành niên”, “vị thành niên” và “trẻ em” là không hợp
lý. Nhìn chung, các ý kiến đều thống nhất cho rằng không nhất thiết phải có một khái
niệm cụ thể về người chưa thành niên, chỉ cần xác định người chưa thành niên bao gồm
những người ở lứa tuổi nào, hợp lý nhất là những người ở độ tuổi từ 12 đến dưới 18 tuổi
bởi đây là giai đoạn mà theo tâm lý học là giai đoạn có những biến đổi cơ bản nhất, ở độ
tuổi này người chưa thành niên chưa phát triển hoàn thiện về thể chất và tinh thần, chưa
có đầy đủ các quyền và nghĩa vụ pháp lý như người đã thành niên. Mặc khác, khi
nghiên cứu về các biện pháp xử lý vi phạm hành chính đối với người chưa thành niên
theo Luật xử lý vi phạm hành chính thì trẻ em và người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi có
thể bị áp dụng các biện pháp xử lý hành chính.
Tóm lại, khái niệm người chưa thành niên được xây dựng dựa trên sự phát triển về
mặt thể chất và tinh thần của con người và được cụ thể hóa bằng giới hạng độ tuổi trong
các văn bản pháp luật của từng quốc gia. Theo đó, người ta quy định cụ thể những
quyền và nghĩa vụ cụ thể của người chưa thành niên. Như vậy, trong pháp luật Việt

người viết chỉ nghiên cứu dựa trên những quy định của Luật xử lý vi phạm hành chính
có hiệu lực ngày 1 tháng 7 năm 2013.
1.4.2 Đặc điểm
Dưới góc độ tâm lí học, con người phải trải qua rất nhiều giai đoạn phát triển
khác nhau, mà mỗi giai đoạn lại có những đặc điểm tâm sinh lí riêng, đặc trưng cùng
với tác động bên ngoài làm hình thành những những hành vi ứng xử khác nhau. Giai
đoạn chưa thành niên là giai đoạn có vị trí đặc biệt quan trọng trong cả quá trình phát
triển và hoàn thiện ấy. Nghiên cứu người chưa thành niên qua các đặc điểm về tâm lí,
sinh lí sẽ giúp chúng ta lí giải được cơ sở khoa học của những quy định pháp luật nói
chung và của Luật xử lí vi phạm hành chính nói riêng đối với đối tượng này. Sau đây
là một vài đặc điểm đặc trưng về tâm sinh lí của người chưa thành niên:
a) Đặc điểm sinh lí
Thời kì này, cơ thể phát triển mạnh mẽ nhưng không đồng đều, biểu hiện bên
ngoài là các em lớn lên trông thấy. Tuỳ thuộc vào độ tuổi, ngay trong cùng giai đoạn
mà sự phát triển giữa nam và nữ là khác nhau, như cùng trong giai đoạn chưa thành
niên nhưng ở độ tuổi 12-13, các em nữ phát triển hơn các em nam về hình dáng thì ở
độ tuổi 14-15, cơ thể các em nam lại phát triển hơn. Tuy nhiên ở cả nam và nữ đều có
những đặc điểm chung của lứa tuổi.
Trọng lượng cơ thể phát triển nhanh cân nặng. Các chất tố thể lực như sức khỏe,
sức bền dự dẻo dai được tăng cường.
Cơ bắp sức lực phát triển mạnh dễ đạt thành tích trong mọi hoạt động.
GVHD: Nguyễn Hữu Lạc

-19-

SVTH: Trần Thị Mỹ Châu


Đề tài: “ Áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng đối với người chưa thành niên thực tiễn tại huyện Lấp Vò – tỉnh Đồng Tháp”


đã xúc phạm đến lòng tự trọng của các em và khi trẻ bị xúc phạm sẽ dẫn đến tâm lý
tiêu cực và thường có hành vi lệch chuẩn về mặt đạo đức và vi phạm pháp luật. Các
em biết những việc nào thì được phép làm, những việc nào không nhưng vẫn làm theo
cách của mình với những lý do rất riêng. Do đó, khi mắc lỗi, thay vì nhìn nhận thẳng
41

Giáo trình Tâm lý học, Trường Đại học sư phạm Hà Nội .NXB 2006.

GVHD: Nguyễn Hữu Lạc

-20-

SVTH: Trần Thị Mỹ Châu


Đề tài: “ Áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng đối với người chưa thành niên thực tiễn tại huyện Lấp Vò – tỉnh Đồng Tháp”

vào vấn đề để sửa chữa khắc phục thì các em lại cố che dấu, thể hiện ra cử chỉ điệu bộ
ở bên ngoài không tự nhiên, các em mới chỉ phát triển khá hoàn thiện về mặt sinh lí,
còn quá trình nhận thức vẫn chưa đầy đủ. Nhận thức về xã hội, đạo đức, pháp luật…
còn hạn chế, đặc biệt là nhận thức về pháp luật.
Các em muốn sống độc lập hơn và muốn tỏ ra mình là người lớn nhưng các em ở
độ tuổi này vẫn cần có sự quan tâm, chăm sóc của cha mẹ, bởi những khó khăn, rắc rối
về mặt tâm lí, sinh lí là không tránh khỏi. Cha mẹ phải là người hiểu rõ điều đó để
quan tâm cho đúng mức, sao cho các em vẫn có thể phát huy được tính độc lập của
mình nhưng không thể tách rời sự quản lý chặt chẽ cần thiết của cha mẹ.
Đặc điểm nổi bật trong thời kỳ này là, trẻ có nhu cầu được vừa lòng trong sự
quan tâm của gia đình bố mẹ, do vậy mà chúng sẳn sàng dối trá là phương thức biểu
hiện để thích nghi với môi trường gia đình và xã hội.
Do phát triển ở giai đoạn này đòi hỏi đứa trẻ về mặt ứng xử rất cao cho nên

thành niên thường theo hướng không tuân thủ pháp luật hoặc chống đối hoặc ý thức
chấp hành pháp luật kém.42
Sự tự chủ ở mức độ thấp ảnh hưởng của bạn đồng trang lứa (người chưa thành niên
mà sự phát triển cản trở họ đóng những vai trò được xã hội chấp nhận, hoặc khiến họ
thấy rằng mình không thể đáp ứng được yêu cầu đặt lên vai họ, thì họ sẽ chọn lấy một
cái chân giá trị tiêu cực theo quan điểm của Erik Erik Son).
Các em muốn chứng tỏ bản thân mình, rằng để không bị lệ thuộc vào bạn bè, rằng
mình phải hành động bằng cách của mình mà không phải theo cách của bạn bè mách
bảo.
Trong mối quan hệ bạn bè người chưa thành niên thường thể hiện nhu cầu độc lập
của mình bằng cách luôn nghĩ rằng mình đã lớn, cách suy nghĩ như thế cùng với việc
các em không được định hướng và giáo dục một cách thấu đáo về lối sống, về ý thức
trách nhiệm đối với bản thân và người khác thì nguy cơ vi phạm pháp luật rất cao.
Đối với trong quan hệ bạn bè là những mong muốn, đòi hỏi được hành động, suy
nghĩ theo cách riêng của mình mà không phụ thuộc gia đình.
Trẻ em vi phạm hành chính không cảm nhận được sự thương hại của cha, mẹ, chán
nản về gia đình, nghĩ gia đình là nơi trầm trọng, nảy sinh ra những xung đột bạn bè.
1.5 Mục đích và ý nghĩa của việc áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng
Mục đích áp dụng biện pháp này là mang tính cưỡng chế hành chính của Nhà
nước đối với chủ thể có hành vi vi phạm hành chính, có tính đặc thù và tính cưỡng chế
cao hơn các hình thức xử phạt hành chính thông thường, chỉ áp dụng đối với chủ thể vi
phạm là cá nhân, căn cứ vào nhân thân và quá trình vi phạm pháp luật của đối tượng
xuất phát từ lợi ích của người chưa thành niên có hành vi vi phạm pháp luật nhằm
cách ly các em khỏi môi trường xã hội trong một thời gian nhất định để quản lý, giáo
dục và tạo dựng môi trường mới, giúp các em được học tập và giáo dục trong môi
trường tốt nhất để các em có thể sửa chữa những sai phạm của mình và có điều kiện
học văn hoá, giáo dục pháp luật, hướng nghiệp, dạy nghề, sinh hoạt lành mạnh, giúp
các em rèn luyện khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình để phát triển
lành mạnh và trở thành người công dân có ích cho xã hội.43
Ý nghĩa áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng là giáo dục cải tạo này

.

SVTH: Trần Thị Mỹ Châu


Đề tài: “ Áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng đối với người chưa thành niên thực tiễn tại huyện Lấp Vò – tỉnh Đồng Tháp”

CHƯƠNG 2
QUY ĐỊNH HIỆN HÀNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ BIỆN PHÁP ĐƯA VÀO
TRƯỜNG GIÁO DƯỠNG
Dưới gốc độ của Đảng và Nhà nước cũng như các cơ quan chức năng đã tạo điều
kiện để giảm tình hình vi phạm của người chưa thành niên, hiệu quả nhất là sử dụng
công cụ giáo dục và răng đe của pháp luật. Hiện nay, người chưa thành niên đưa vào
trường giáo dưỡng rất nhiều. Người viết xin nêu các quy định hiện hành của pháp luật
về đối tượng áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng; Trình tự, thủ tục thực
hiện áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng; Trình tự, thủ tục xem xét quyết
định áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng; Thẩm quyền xem xét, quyết định
áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng; Gửi và thi hành quyết định áp dụng
biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng; Truy tìm người đã có quyết định đưa vào
trường giáo dưỡng bỏ trốn.
2.1 Đối tượng áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng
Biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng là một trong những biện pháp xử lý hành
chính cùng với các biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn; biện pháp đưa vào cơ
sở giáo dục bắt buộc; và biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Tuy nhiên, do
các đối tượng chịu áp dụng biện pháp xử lý hành chính khác nhau nên pháp luật quy
định cụ thể để phù hợp, theo đó đối tượng buộc phải chịu áp dụng biện pháp đưa vào
trường giáo dưỡng được pháp luật quy định như sau:
Theo quy định tại Điều 92 Luật xử lý vi phạm hành chính 2012 đối tượng áp
dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng:44
- Người từ đủ 12 tuổi đến dưới 14 tuổi thực hiện hành vi có dấu hiệu của một tội


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status