hiệu quả của phân vi sinh trong canh tác rau xanh được trồng trên đất phù sa tại huyện lấp vò – tỉnh đồng tháp - Pdf 30

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
VIỆN NGHIÊN CỨU VÀ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHỆ SINH HỌC LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
NGÀNH CÔNG NGHỆ SINH HỌC HIỆU QUẢ CỦA PHÂN VI SINH TRONG CANH TÁC
RAU XANH ĐƯỢC TRỒNG TRÊN ĐẤT PHÙ SA TẠI
HUYỆN LẤP VÒ – TỈNH ĐỒNG THÁP
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN SINH VIÊN THỰC HIỆN
GS. TS. CAO NGỌC ĐIỆP NGUYỄN TẤN PHÁT TÀI
MSSV: 3096852
LỚP: CNSH TT K35


Cần Thơ, ngày 04 tháng 12 năm 2013
CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG
(ký tên)

LỜI CẢM TẠ Đầu tiên, tôi xin chân thành cảm ơn cha mẹ và gia đình, những người đã sinh
thành, nuôi dưỡng, động viên và hổ trợ tôi về mọi mặt trong suốt quá trình học tập,
giúp tôi thực hiện và hoàn thành luận văn này.
Tôi xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến:
PGs.Ts. Cao Ngọc Điệp đã tận tình hướng dẫn, truyền đạt kinh nghiệm và
đóng góp ý kiến quý báu trong suốt quá trình tôi thực hiện và hoàn thành luận văn
tốt
nghiệp.
Thầy Võ Văn Song Toàn – Cán bộ phòng thí nghiệm Phân tích vô cơ; Chị Trần
Thị Giang – Cán bộ phòng thí nghiệm Vi sinh vật môi trường; Viện Nghiên cứu và
Phát triển Công nghệ Sinh học, trường Đại học Cần Thơ đã giúp đỡ và tạo điều
kiện thuận lợi trong suốt quá trình tôi thực hiện đề tài.
Tất cả quý thầy cô đã tận tình dạy dỗ tôi trong suốt thời gian học tập tại
trường Đại học Cần Thơ, cám ơn các thầy cô của Viện NC&PT Công nghệ Sinh
học đã truyền đạt cho tôi nhiều kiến thức bổ ích trong quá trình theo học tại
trường.

5
+ 80K
2
O kg/ha) mà năng suất tương đương với nghiệm thức bón
100% phân hóa học cho rau ăn lá (100N + 80P
2
O
5
+ 40K
2
O kg/ha), còn trên cà tím là
(100N + 80P
2
O
5
+ 160K
2
O kg/ha). Bón phân vi sinh còn giúp cải thiện độ phì trong
đất đồng thời chất lượng sản phẩm từ các nghiệm thức sử dụng phân bón vi sinh được
cải thiện thông qua hàm lượng nitrate trong rau thấp hơn nghiệm thức bón 100%
phân hóa học nhưng vẫn còn trong mức tiêu chuẩn cho phép (mg/kg sản phẩm) của tổ
chức Y tế thế giới (WHO).

Từ khóa: cà tím, độ phì trong đất, hàm lượng nitrate, rau ăn lá, phân vi sinh

Luận văn tốt nghiệp Đại học Khóa 35 Trường ĐHCT Chuyên ngành Công nghệ Sinh học ii Viện NC&PT Công nghệ Sinh học
TỪ VIẾT TẮT

2.1.2. Tại Việt Nam 3
2.2. Vấn đề phát triển nông nghiệp sạch 4
2.3. Vai trò của phân bón đối với rau xanh 5
2.3.1. Phân Đạm 5
2.3.2. Phân Lân 6
2.3.3. Phân Kali 7
2.4. Giới thiệu chung về phân vi sinh 7
2.4.1. Khái niệm về phân vi sinh 7
2.4.2. Nguồn phân vi sinh 7
2.4.3. Vai trò của phân vi sinh trong canh tác rau an toàn 7
2.4.4. Phương pháp bón phân cho rau an toàn 9
2.5. Sản xuất rau an toàn 9
2.5.1. Một số khái niệm về rau an toàn 9
2.5.2. Điều kiện sản xuất rau an toàn 10
2.5.3. Nguyên nhân làm rau chưa sạch 11
Luận văn tốt nghiệp Đại học Khóa 35 Trường ĐHCT Chuyên ngành Công nghệ Sinh học iv Viện NC&PT Công nghệ Sinh học
2.5.4. Vấn đề dư lượng của đạm (nitrate) trong rau 11
2.6. Đặc tính sinh học và kỹ thuật trồng rau xanh 15
2.6.1. Mồng tơi 15
2.6.2. Cải xanh 18
2.6.3. Cà tím 21
CHƯƠNG III. PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP 26
3.1. Phương tiện 26
3.1.1. Nguyên vật liệu 26
3.1.2. Hóa chất, dụng cụ và thiết bị 26
3.1.3. Địa điểm, thời gian thí nghiệm 26
3.1.4. Xử lý số liệu 26

4.3.5.2. Hàm lượng đạm tổng số 48
4.3.5.3. Hàm lượng lân dễ tiêu 49
4.3.5.4. Hàm lượng kali trao đổi 49
4.3.5.5. Hàm lượng chất hữu cơ 50
4.4. Kết quả khảo nghiệm trên cà tím 51
4.4.1. Trọng lượng trung bình trái 51
4.4.2. Năng suất tổng 52
4.4.3. Tính chất của đất sau khi kết thúc thí nghiệm 53
4.4.3.1. pH 53
4.4.3.2. Hàm lượng đạm tổng số 54
4.4.3.3. Hàm lượng lân dễ tiêu 55
4.4.3.4. Hàm lượng kali trao đổi 56
4.4.3.5. Hàm lượng chất hữu cơ 57
4.5. Đánh giá hiệu quả kinh tế sử dụng phân vi sinh 58
CHƯƠNG V. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 60
5.1. Kết luận 60
5.2. Kiến nghị 60
TÀI LIỆU THAM KHẢO 61
PHỤ LỤC Luận văn tốt nghiệp Đại học Khóa 35 Trường ĐHCT
phẩm (tấn/ha) của cải xanh 46
Bảng 14: Hiệu quả của phân vi sinh và phân hóa học lên dư lượng nitrate
(mg/kg) của cải xanh 46
Bảng 15: Hiệu quả của phân vi sinh và phân hóa học lên tính chất đất thí nghiệm
sau khi trồng cải xanh 47
Bảng 16: Ảnh hưởng của phân vi sinh và phân hóa học lên hàm lượng đạm tổng
số trong đất sau khi trồng cải xanh 49
Luận văn tốt nghiệp Đại học Khóa 35 Trường ĐHCT Chuyên ngành Công nghệ Sinh học vii Viện NC&PT Công nghệ Sinh học
Bảng 17: Hàm lượng kali trao đổi trong đất sau khi kết thúc thí nghiệm
trồng cải xanh 50
Bảng 18: Hiệu quả của phân vi sinh và phân hóa học lên trọng lượng trung bình
trái (g/trái) của cà tím 52
Bảng 19: Hiệu quả của phân vi sinh và hóa học lên tính chất đất thí nghiệm sau
khi trồng cà tím 55
Bảng 20: Ảnh hưởng của phân vi sinh và phân hóa học lên hàm lượng đạm tổng
số trồng cà tím 55
Bảng 21: Hàm lượng kali trong đất khi kết thúc thí nghiệm trồng cà tím 56
Bảng 22: Hiệu quả kinh tế của mô hình trồng mồng tơi (x1.000 đồng) 59
Bảng 23: Hiệu quả kinh tế của mô hình trồng cải xanh (x1.000 đồng) 59
Bảng 24: Hiệu quả kinh tế của mô hình trồng cà tím (x1.000 đồng) 60
Luận văn tốt nghiệp Đại học Khóa 35 Trường ĐHCT Chuyên ngành Công nghệ Sinh học viii Viện NC&PT Công nghệ Sinh học
DANH SÁCH HÌNH

Trang

Chuyên ngành Công nghệ Sinh học Viện NC&PT Công nghệ Sinh học
CHƯƠNG I. GIỚI THIỆU
1.1. Đặt vấn đề
Ngày nay, cùng với xu hướng toàn cầu hóa của xã hội, nhu cầu về vật chất cũng
như tinh thần của con người đang ngày được nâng cao hơn. Đặc biệt là nhu cầu về
chăm sóc sức khỏe. Trong đó, phải kể đến dinh dưỡng trong bữa ăn hàng ngày, là một
trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sức khỏe con người. Theo nghiên cứu
của Tạ Thu Cúc (2005), rau có ý nghĩa quan trọng trong dinh dưỡng con người, rau là
loại thực phẩm không thể thay thế, ngoài hàm lượng carbohydrate chiếm chủ yếu còn
có đạm, vitamin, acid hữu cơ, Bên cạnh đó rau còn chứa nhiều thành phần giúp cải
thiện sức khỏe con người, tăng sức đề kháng và giảm nguy cơ mắc các bệnh về tim
mạch, cao huyết áp, ung thư, đường tiêu hóa, thị lực,
Tuy nhiên, trong khuynh hướng của một nền sản xuất thâm canh bên cạnh mức
gia tăng về khối lượng và chủng loại thì ngành trồng rau hiện đang bộc lộ những mặt
trái của nó. Việc ứng dụng ồ ạt và thiếu chọn lọc các tiến bộ kỹ thuật về khoa học,
nông hóa, thổ nhưỡng, công nghệ sinh học mà nhất là việc sử dụng phân hóa học ngày
càng phổ biến đã làm cho đất ngày càng trở nên thoái hóa dẫn đến sự suy giảm về mặt
năng suất cây trồng. Đồng thời, việc sử dụng phân hóa học quá mức cũng đã làm gia
tăng mức độ ô nhiễm cho các sản phẩm rau xanh. Theo thống kê của tổ chức lao động
thế giới (ILO), hằng năm trên thế giới có khoảng 2 triệu người bị ngộ độc do rau và
ngày càng có nhiều vụ ngộ độc do rau gây ra. Đặc biệt ở Việt Nam, năm 2011 vừa qua
có hơn 142 vụ ngộ độc thực phẩm với hơn 4.500 người mắc, trong đó hơn 80% phải đi
viện (Bộ Y tế). Người bị ngộ độc do rau có thể mắc các bệnh cấp tính và mãn tính,…
Đây là một trong các tác nhân gây ra bệnh ung thư nguy hiểm như ung thư dạ dày,
thực quản, từ đó gây tâm lý lo ngại cho người tiêu dùng.
Hiện nay, đa số nông dân điều sử dụng phân bón hóa học để phục vụ cho sản
xuất nông nghiệp, tuy nhiên giá thành của loại phân này lại ngày càng tăng cao đồng
thời còn ảnh hưởng không tốt đến môi trường và chất lượng nông sản nếu sử dụng
không hợp lý. Đồng thời, những năm gần đây, thế giới rất quan tâm đến một nền nông
nghiệp hữu cơ hay nền nông nghiệp bền vững. Vì vậy, mà nhà nước đang khuyến cáo

lần, phân lân tăng 3,5 lần, phân kali tăng 2,5 lần. Năm 1996 thế giới sản xuất 129 triệu
tấn phân hóa học; năm 1990 tăng lên 138 triệu tấn; năm 2000 – 2002 lên gần 144 triệu
tấn; năm 2005 lên đến 150 triệu tấn. Năm 2008, sản lượng urê toàn cầu tăng trong khi
đó sản lượng phân lân và kali giảm so với năm 2007 và dự báo đến năm 2015 lên tới
167 – 169 triệu tấn phân hóa học. Năm 2009, lượng phân Nitơ thừa 6,6 triệu tấn (vượt
5% nguồn cung toàn cầu), dự báo mức thừa này sẽ tăng đến 13 triệu tấn nitơ (vượt 8%
nguồn cung toàn cầu) vào năm 2013. Theo đánh giá của IFA, trong thời gian năm
2009 – 2013 khoảng 50 nhà máy urê mới sẽ đi vào vận hành trên toàn thế giới, trong
đó có 20 nhà máy ở Đông Á. Dự báo, công suất urê toàn cầu sẽ tăng 46,8 triệu tấn
(2008 – 2013), đạt 210,3 triệu tấn (2013).
Theo hiệp hội phân bón quốc tế (IFA), tổng công suất ammoniac toàn cầu dự
kiến sẽ tăng 20% từ 180,9 triệu tấn NH
3
năm 2008 lên đến 217,8 triệu tấn NH
3
năm
2013. Phân NPK và phân hai thành phần đã chiếm 38% tổng lượng phân các loại.
Phân đơn chiếm 54% và phân lỏng chiếm 8%. (Nguồn:
, ngày 12/07/2013)
2.1.2. Ở Việt Nam
Thị trường sản xuất phân bón ở các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam,
chiều hướng sử dụng phân bón lại tăng mạnh, mỗi năm Việt Nam sẽ phải nhập khoảng
trên 500 nghìn tấn phân bón (DAP, lân và kali) do khả năng của các nhà máy chưa đáp
ứng đủ nhu cầu.
Trước tình hình này, ngành nông nghiệp Việt Nam đang nghiên cứu ứng dụng
các loại phân bón thay thế phân hóa học như NEB 26, phân bón vi sinh vật cố định
đạm, phân hữu cơ - vi sinh, nhằm giảm sử dụng phân hóa học (phân đạm) trong sản
xuất. So với các nước sử dụng nhiều phân bón trên thế giới, Việt Nam mới sử dụng
Luận văn tốt nghiệp Đại học Khóa 35 Trường ĐHCT


- Giảm đến mức tối thiểu các loại ô nhiễm do kết quả của sản xuất nông nghiệp
gây ra.
Luận văn tốt nghiệp Đại học Khóa 35 Trường ĐHCT 5
Chuyên ngành Công nghệ Sinh học Viện NC&PT Công nghệ Sinh học
- Duy trì đa dạng hóa gene trong hệ thống nông nghiệp hữu cơ và khu vực
quanh nó, bao gồm cả việc bảo vệ thực vật và nơi cư ngụ của cuộc sống thiên
nhiên hoang dã (www.sokhcn.angiang.gov.vn, 13/07/2013).
2.3. Vai trò của phân bón đối với rau xanh
2.3.1. Phân Đạm
Đạm là cơ cấu của protein, nhất là của protein nhân chiếm khoảng 40 – 75% chất
khô của nguyên sinh chất, đạm còn là cơ cấu của diệp lục tố, pyrimidine và purine,
Nên đạm là chất có vai trò rất quan trọng trong đời sống của thực vật (Lê Văn Hòa và
Nguyễn Bảo Toàn, 2004). Thực vật trong đó có rau xanh hấp thu đạm chủ yếu từ đất
dưới hai dạng là NH
4
+
và NO
3
-
, trong đó cây trồng hấp thu NO
3
-
nhiều hơn NH
4
+
. Các
dạng đạm dễ tiêu này chủ yếu do quá trình phân giải chất hữu cơ trong đất hoặc do bón

-
làm tích lũy NO
3
-

trong rau cao hơn dạng đạm NH
4
+
và sử dụng phân bón CaCN
2
thì hàm lượng NO
3
-

Luận văn tốt nghiệp Đại học Khóa 35 Trường ĐHCT 6
Chuyên ngành Công nghệ Sinh học Viện NC&PT Công nghệ Sinh học
trong rau đạt thấp nhất. Hầu hết các loại rau có hàm lượng NO
3
-
đạt cao nhất sau khi
bón thúc đạm lần cuối từ 3 – 10 ngày (Phan Thị Thu Hằng, 2008). Hàm lượng nitrate
trong rau ở mức độ ô nhiễm là do bón quá nhiều lượng đạm, bón không đúng cách.
Giảm lượng đạm bón sẽ làm giảm sự tích lũy NO
3
-
trong rau (Eustix, 1991). Thời gian
bón thúc đạm lần cuối trước thu hoạch đối với hầu hết các loại rau là 14 – 20 ngày vẫn

3-
, HPO
4
2-
và H
2
PO
4
-
)
và lân hữu cơ phosphate, nucleotide, acid nhân, phospholipids, Trong đó hoạt tính
của lân trong đất phụ thuộc vào nhiều yếu tố (pH đất, trao đổi ion, vi sinh vật đất, ).
Nhiều lân được chuyển hóa thành các dạng hữu cơ trong khi xâm nhập vào rễ hoặc sau
khi vận chuyển qua mô gỗ vào thân lá. Lân không xảy ra sự khử trong cây mà tồn tại ở
dạng phosphate tự do hoặc kết hợp với các dạng hữu cơ khác dưới các dạng ester
(Lê Văn Hòa và Nguyễn Bảo Toàn, 2004).
Phân lân có quan hệ mật thiết với phân đạm, đạm vô cơ được hấp thu và tích lũy
trong mô cây nhanh khi hàm lượng lân giảm và ngược lại khi hàm lượng lân nhiều ở
vùng rễ, sự hấp thu đạm vô cơ giảm. Sự già hóa của cây sớm hơn thường xảy ra khi
hàm lượng lân cao. P trong cây có nhiệm vụ kích thích sự tổng hợp acid nhân, ATP,
NADPH, tăng cường chuyển hóa đạm khoáng thành đạm protide làm giảm sự tích lũy
NO
3
-
trong rau, cần cho hoạt động biến dưỡng và hô hấp cho cây. Trong cây tỷ lệ P
biến động từ 0,1 – 0,4% chất khô, trong đó P ở dạng hữu cơ là chính. P có vai trò tăng
chất lượng rau xanh về thành phần dưỡng chất, tăng năng suất. Nên thiếu lân lá cây có
màu nâu sậm (lá già), cây ít phân nhánh, ít chồi, thân gầy sinh trưởng kém. Trường
hợp ở rau như cà tím nếu thiếu lân thân mọc rất thấp, quả kém chất lượng. Trong canh
tác sản xuất rau nếu sử dụng phân lân ít trong khi đó phân đạm sử dụng với mức cao

của một hoặc nhiều nhóm vi sinh vật, chúng được nhân lên từ các chế phẩm vi sinh vật
và tồn tại trong các chất mang không vô trùng, hàm lượng các vi sinh vật hữu ích phải
đạt được từ 1,0 x 10
6
CFU/gam (Lê Văn Tri, 2001).
2.4.2. Nguồn phân vi sinh.
Bảng 1: Khả năng cố định đạm, hòa tan lân và kali của phân vi sinh.
Dòng vi
khuẩn
Hàm lượng
nitrogenase
Hàm lượng
NH
4
+
(µmol)
Hàm lượng Lân
(mg P
2
O
5
/l)
Hàm lượng
Kali (mgK
2
O/l)
CA10
12,39
6,432
16,40

- Tự chủ được chu trình dinh dưỡng hữu hiệu bởi sự hoạt động mạnh mẽ của vi
sinh vật. Những thuận lợi này chứng tỏ bản thân chúng có vai trò làm giảm
rủi ro thu hoạch, nâng cao thu nhập, giảm chi phí phân bón vô cơ cho nông
dân (Misra et al., 2003).
Phân vi sinh giúp duy trì thế cân bằng vi sinh vật có lợi trong đất, chủ yếu là bảo
vệ và cân bằng vi sinh vật có ích, cũng như các loại thiên địch có lợi trên đồng ruộng.
Do đó, thường xuyên bổ sung chất hữu cơ cho đất cũng như các nguồn vi sinh vật có
lợi để tạo điều kiện thuận lợi cho bộ rễ phát triển hạn chế mầm bệnh (Nguyễn Minh
Nghĩa, 2005).
Nguyễn Thanh Hiền (2003) cho rằng, phân vi sinh bio – Gro có khả năng cải tạo
đất, làm tăng năng suất trung bình của cây trồng lên 10%, cây khỏe có khả năng chống
chịu bệnh cao, giảm lượng sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, giảm chi phí sản xuất và tác
dụng càng rõ khi bón phối hợp với các loại phân hữu cơ khác, có khả năng thay thế ít
nhất 50% phân đạm và lân hóa học do đó giảm dư lượng nitrate trong nông sản. Bởi vì
bón nhiều đạm năng suất rau có tăng, nhưng rau sẽ chứa nhiều nước, lượng đường và
vitamin trong rau giảm xuống, đồng thời rau tích lũy nhiều nitrate hơn (Võ Minh Kha,
2003). Một trong những biện pháp nâng cao độ phì nhiêu cho đất là tăng cường bón
Luận văn tốt nghiệp Đại học Khóa 35 Trường ĐHCT 9
Chuyên ngành Công nghệ Sinh học Viện NC&PT Công nghệ Sinh học
phân vi sinh và bón phân N – P – K vừa phải, vi sinh vật hữu ích trong phân sẽ cung
cấp cho cây trồng các hoạt chất có tác dụng kích thích sinh trưởng (Gibberellin, Indole
acetic acid, Auxin…), các enzyme, vitamin; nâng cao khả năng chống chịu của cây
trồng do các chất kháng sinh mà vi sinh vật tiết ra hay nhờ khả năng cạnh tranh cao mà
mật độ vi sinh vật gây bệnh trong vùng rễ của cây trồng giảm đi (Lê Văn Tri, 2001).
Sử dụng phân vi sinh hợp lý và các chế phẩm phân sinh học sẽ làm tăng năng
suất cây trồng và đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm, nâng cao chất lượng và khả
năng cạnh tranh của nông sản Việt Nam (Lê Văn Hưng, 2004).

Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, rau an toàn là những sản phẩm tươi
(bao gồm tất cả các loại rau ăn: lá, thân, củ, hoa, quả, hạt, các loại nấm thực
phẩm…) được sản xuất, thu hoạch, sơ chế, bao gói, bảo quản theo quy trình kỹ
thuật bảo đảm tồn dư về vi sinh vật, hóa chất độc hại dưới mức giới hạn tối đa
cho phép theo quy định.
- Để đảm bảo chất lượng rau an toàn cần lưu ý các chỉ tiêu sau: Dư lượng
thuốc bảo vệ thực vật trong rau phải thấp hơn mức cho phép, biện pháp căn bản
để làm cho thuốc bảo vệ thực vật trong rau thấp hơn mức cho phép là áp dụng
chương trình phòng trừ tổng hợp và sử dụng thuốc hóa học một cách hợp lý nhất;
dư lượng nitrate trong rau thấp hơn mức cho phép, để đạt được chỉ tiêu này thì
phải canh tác hợp lý và đặc biệt sử dụng phân đạm vô cơ và hữu cơ thích hợp;
Sản phẩm rau có hàm lượng kim loại nặng thấp hơn mức cho phép, thực hiện
bằng cách chọn đất, chọn nguồn nước thích hợp, sử dụng phân bón hợp lý; vi
sinh vật tồn tại trong rau cà các độc tố do chúng gây ra phải thấp hơn mưc
cho phép.
2.5.2. Điều kiện sản xuất rau an toàn
- Đất trồng: cao, dễ thoát nước, có tầng canh tác dày (20 – 30 cm) và không
chịu ảnh hưởng của chất thải công nghiệp, bệnh viện và chất thải sinh hoạt của
thành phố Đất không bị nhiễm hóa chất độc hại cho con người và môi trường.
- Nước tưới: sử dụng nước giếng khoan, nhất là đối với vùng trồng rau xà
lách và các loại rau gia vị. Nếu nước sông, ao hồ thì phải sạch, lưu thông tốt,
không dùng nước thải từ khu công nghiệp, thành phố, bệnh viện, ao tù
nước đọng.
- Giống: gieo những hạt tốt và trồng cây con khỏe mạnh không có mầm bệnh,
biết rõ lý lịch nơi sản xuất hạt giống. Giống nhập nội phải qua kiểm dịch thực vật.
Hạt giống trước khi gieo trồng cần được xử lý hoá chất hoặc nhiệt.
- Phân bón: phân hữu cơ (phân chuồng, rơm rạ mục, ) được ủ hoai mục và
phân hữu cơ – vi sinh. Sử dụng hợp lý và cân đối các loại phân hóa học, đảm bảo
Luận văn tốt nghiệp Đại học Khóa 35 Trường ĐHCT


 Hấp thu nitrate
- Trong quá trình sinh trưởng và phát triển của cây trồng, nitơ là một trong
những yếu tố dinh dưỡng cơ bản cần thiết. Để có thể tạo được các amino
Luận văn tốt nghiệp Đại học Khóa 35 Trường ĐHCT 12
Chuyên ngành Công nghệ Sinh học Viện NC&PT Công nghệ Sinh học
acide, cần có nitơ ở dạng NO
3
-
và NO
2
-
. Khi cây có đủ lượng glucide thì phần
lớn NO
3
-
sẽ được chuyển hóa thành NH
3
ở bộ rễ. Quá trình chuyển hóa này
cần hàng loạt các enzyme flavoprotein xúc tác với sự tham gia của kim loại
như Mo, Cu, Fe, Mn, trong đó Mo có ý nghĩa đặc biệt đối với sự tăng
cường quá trình khử NO
3
-
.
- Quá trình trao đổi nitơ xảy ra trong toàn bộ đời sống cây trồng nhưng thay
đổi tùy thuộc vào từng giai đoạn sinh trưởng và phát triển khác nhau. Trong
điều kiện dinh dưỡng nitơ tối ưu, tốc độ sinh trưởng của cây trồng được thúc

- Việc tích lũy nitrate trong cây trồng do nhiều yếu tố tác động. Người ta đã
nhận thấy có gần 20 yếu tố ảnh hưởng đến việc tích lũy nitrate trong cây
trồng, từ sự can thiệp của người sản xuất bằng chế độ dinh dưỡng cho đến tác
động của các yếu tố môi trường. Khi trời râm và độ ẩm cao, lượng nitrate
tích lũy trong cây cao gấp 3 lần bình thường. Lượng nitrate cũng tăng cao khi
trời nắng và nhiệt độ cao. Nhưng trong điều kiện trời nắng và nhiệt độ thấp
thì lượng tích lũy nitrate trong cây giảm đi rất nhiều. Khả năng tích lũy
nitrate trong nông phẩm còn phụ thuộc vào từng chủng loại cây trồng và từng
bộ phận khác nhau của nông phẩm.
Luận văn tốt nghiệp Đại học Khóa 35 Trường ĐHCT 13
Chuyên ngành Công nghệ Sinh học Viện NC&PT Công nghệ Sinh học
- Phân hóa học được sử dụng chủ yếu là phân đạm dạng urê với lượng rất cao
gấp 1,5 – 2 lần so với yêu cầu của từng loại rau (Trần Thị Ba và Trần Văn
Hai, 1999). Làm gia tăng ô nhiễm đất trồng, nguồn nước cũng như dư lượng
nitrate trong nông sản (Nguyễn Minh Đông và Ngô Ngọc Hưng, 2006).
- Theo Nguyễn Minh Nghĩa (2005), sau khi cây hút đạm sẽ được một số loại
men làm nhiệm vụ khử tạo ra dạng đạm amon (NH
4
+
), chất này được cây sử
dụng để tạo ra các acid amin và protein. Khi bón quá nhiều đạm cho cây rau
sẽ gặp phải 2 trường hợp: (i) cây hút nitrate quá dư thừa nên không thể loại
bỏ được hết nitrate, (ii) trong đất còn lượng nitrate thừa sẽ di chuyển vào
nguồn nước ngầm hay chảy xuống giếng, vào sông suối,
- Những nguyên nhân làm cho quá trình khử nitrate không thực hiện được:
nhiệt độ, đất đai, ánh sáng, diện tích dinh dưỡng và giống.
 Tác hại của nitrate

đối NPK như phân đạm sử dụng từ 200 – 400 kg/ha trên cải bắp, cà chua,
dưa hấu, trong khi yêu cầu chỉ khoảng 150 – 200 kg/ha. Điều này làm sản
phẩm rau có dư lượng nitrate rất cao (Trần thị Ba, 1998).
- Kết quả nghiên cứu Ngô Ngọc Hưng và Nguyễn Minh Đông (2007) trong
nhóm rau ăn trái thì dưa leo có hàm lượng NO
3
-
dao động 196 – 421 mg/kg
tươi, vượt ngưỡng cho phép 1 – 3 lần với mức sử dụng phân đạm khá cao so
với khuyến cáo. Hàm lượng nitrate trong cải ngọt (1840 – 2980 mg/kg) và
xà lách (1037 – 2442 mg/kg), cao so với quy định cho phép từ 1,5 lần do sự
thâm canh liên tục của nhóm rau này với mức phân bón cao hơn khuyến
cáo. Hàm lượng nitrate trong thịt trái dưa leo trong thí nghiệm của Lâm
Minh Chiến và Nguyễn Đồng Tâm (2006) dao động từ 9,7 – 35 mg/kg.
Ngoài ra kết quả nghiên cứu cũng cho thấy sự tích lũy nitrate trong cả trái
(còn vỏ) thường cao hơn trong thịt trái.
 Mức chỉ tiêu cho phép hàm lượng nitrate trong rau
Theo qui định của FAO/WHO và Bộ Y tế Việt Nam về hàm lượng nitrate trong
rau xanh và cải ngọt không quá 1000 mg/kg.
Bảng 2: Hàm lượng Nitrate cho phép trong một số loại rau quả theo tiêu chuẩn
của Tổ chức Y tế thế giới WHO (mg/kg sản phẩm).
Loại cây
Hàm lượng
NO
3
-
(mg/kg)
Loại cây
Hàm lượng NO
3


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status