Bảo hiểm xã hội là một chính sách lớn trong các chính sách an sinh xã hội của đảng và nhà nước ta - Pdf 30

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Sự cấp thiết của đề tài nghiên cứu:
Bảo hiểm xã hội (BHXH) là chính sách lớn của Đảng và Nhà nước góp
phần bảo đảm ổn định đời sống cho người lao động, ổn định chính trị, trật tự
an toàn xã hội, thúc đẩy sự nghiệp xây dựng đất nước, bảo vệ tổ quốc. Thực
hiện tốt chính sách BHXH trên nguyên tắc công bằng và tiến bộ xã hội trong
hệ thống chính sách xã hội, sẽ là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế, là yếu
tố quyết định cho sự ổn định và phát triển kinh tế, phát triển xã hội.
Xã hội ta là xã hội vì con người; đặt con người vào vị trí trung tâm của
phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội và lấy việc nâng cao chất lượng cuộc sống
con người làm mục tiêu phục vụ. Đảng ta luôn nhấn mạnh phát triển kinh tế
phải đi đôi với giải quyết tốt vấn đề xã hội. Từ ngày đầu thành lập nước Việt
Nam dân chủ cộng hoà đến nay Đảng và Nhà nước ta đã luôn quan tâm đến
ban hành, bố sung, sửa đổi các chính sách Xã hội trong đó có chính sách
BHXH phù hợp với từng thời kỳ.
Tuy nhiên, chính sách BHXH hiện hành còn còn có mặt hạn chế. Số
lao động tham gia bảo hiểm xã hội mới chỉ chiếm khoảng 15% lao động xã
hội, chủ yếu là cho đối tượng BHXH bắt buộc do Bộ Luật lao động điều
chỉnh (lao động trong khu vực Nhà nước và lao động làm việc trong các
doanh nghiệp ngoài quốc doanh có sử dụng từ 10 lao động trở lên).
Hiện nay, Đảng và Nhà nước ta chủ trương thực hiện nhất quán và lâu
dài chính sách phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận hành
theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội
chủ nghĩa lại càng đòi hỏi phải giải quyết tốt những vấn đề xã hội. Chủ
trương của Đảng và Nhà nước ta là từng bước mở rộng đối tượng tham gia
BHXH cho lao động toàn xã hội và trong tất cả mọi thành phần kinh tế là
một chủ trương đúng đắn và có tầm chiến lược. Nghị quyết Đại hội Đảng
toàn quốc lần thứ IX đã nêu rõ: “Khẩn trương mở rộng hệ thống bảo hiểm xã


hội và an sinh xã hội” và “thực hiện các chính sách xã hội bảo đảm an toàn

Bảo hiểm xã hội là một chính sách lớn trong các chính sách an sinh xã
hội của Đảng và Nhà nước ta. Những năm qua các cơ quan quản lý nhà nước
về kinh tế - xã hội, các nhà khoa học đã có nhiều đề tài nghiên cứu đề xuất
chính sách chế độ cho phù hợp với tình hình phát triển kinh tế - xã hội của
đất nước. BHXH Việt Nam từ khi thành lập đến nay đã có nhiều đề tài
nghiên cứu về BHXH trên cả lĩnh vực khoa học cơ bản và khoa học ứng
dụng, đã và đang là cơ sở để đề xuất với cơ quan quản lý nhà nước hoàn
thiện, bổ sung, sửa đổi về chính sách, chế độ và cơ chế quản lý BHXH.
Các khoá đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị cao cấp của Học viện
Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, nhiều học viên đã có những đề tài nghiên
cứu ở từng nội dung khác nhau liên quan đến bảo hiểm xã hội. Tuy nhiên các
đề tài mới chỉ tập trung phân tích sự bất cập của chính sách, chế độ và cơ chế
quản lý bảo hiểm xã hội đối với đối tượng hiện đã và đang tham gia BHXH
theo quy định hiện hành, chưa nghiên cứu để triển khai tổ chức thực hiện
BHXH đối với khu vực kinh tế tập thể, cụ thể là người lao động làm việc
trong các HTX phi nông nghiệp, trong đó có các HTX CNTTCN.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu:
4.1. Cơ sở lý luận:
- Lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về
chính sách xã hội.
- Các văn kiện của Đảng và Nhà nước về chính sách xã hội và chính
sách BHXH.
- Lý luận xã hội học về chính sách xã hội và chính sách BHXH.
- Các công trình nghiên cứu, hội thảo khoa học, giáo trình kinh tế bảo hiểm,
tài liệu tổng kết về hợp tác xã tiểu thủ công nghiệp và số liệu trong niên giám
thống kế qua một số năm...

- C¸c c«ng tr×nh nghiªn cøu, héi th¶o khoa



1.1.1. Khái niệm chính sách xã hội:
Các Mác là người sáng lập ra chủ nghĩa duy vật lịch sử làm cơ sở lý
luận và phương pháp luận cho mọi khoa học xã hội, trong đó có xã hội học.
Sự tồn tại xã hội là nhân tố quyết định ý thức xã hội, phương thức sản xuất là
yếu tố quyết định sự vận động và phát triển của xã hội nói chung. Xã hội
biến đổi theo quy luật từ hình thái kinh tế - xã hội này sang hình thái kinh tế
- xã hội khác. Sự phát triển của xã hội loài người được xem là quá trình lịch
sử tự nhiên. Chủ nghĩa duy vật lịch sử đã vạch ra bé khung lý luận cơ bản
làm nền tảng cho xã hội học mác xít đi sâu nghiên cứu chính sách xã hội, coi
chính sách xã hội là bộ phận không thể tách rời khỏi đối tượng nghiên cứu
của nó.
Chính sách xã hội là công cụ tác động vào những quan hệ xã hội
nhằm giải quyết những vấn đề xã hội đang dặt ra, góp phần thực hiện công
bằng, bình đẳng, tiến bộ xã hội và phát triển toàn diện con người.
Mét trong những luận điểm trọng tâm trong lý thuyết xã hội học của
Mác là con người đóng vai trò vừa là chủ thể của xã hội, vừa là khách thể
chịu sự chi phối của xã hội. Nghiên cứu xã hội học về chính sách xã hội là
nghiên cứu những nguyên nhân, đặc điểm và tính chất của những khác biệt
xã hội nhằm điều chỉnh hoặc làm giảm bớt những hậu quả của chúng, tạo
điều kiện tối ưu cho các hoạt động lao động, môi trường lao động và môi
trường sống của con người.
Chính sách xã hội sẽ nhằm đạt tới những mục tiêu sau:


Một là: góp phần giải quyết những hậu quả xã hội có tính lịch sử nh:
tàn dư chiến tranh, hậu quả của chủ nghĩa thực dân, tàn dư của phong tục tập
quán lạc hậu, bảo thủ...
Hai là: Xác định và góp phần giải quyết những vấn đề xã hội nảy sinh
do chính tình trạng lạc hậu về kinh tế, văn hoá, xã hội và những hệ quả của
ngay sự phát triển tạo ra, làm sao tạo được môi trường tự nhiên và xã hội tốt

+ Chính sách xã hội tác động vào những nhóm xã hội đặc thù.
- Hệ thống chính sách xã hội tác động vào các mối quan hệ xã hội
trong quá trình sản xuất và tái sản xuất xã hội. Hệ thống này được phân chia
thành một số nhóm sau:
+ Nhóm các chính sách xã hội tác động điều chỉnh quá trình sản xuất
vật chất và tái tạo chính con người. Bao gồm: chính sách dân số, chính sách
việc làm, chính sách bảo hộ lao động.
+ Nhóm chính sách xã hội tác động vào quá trình phân phối và phân
phối lại thu nhập. Bao gồm: chính sách tiền lương, chính sách phóc lợi xã
hội, chính sách BHXH, chính sách ưu đãi xã hội, chính sách cứu trợ xã hội.
+ Nhóm chính sách xã hội tác động đến lĩnh vực hoạt động văn hoá
tinh thần. Bao gồm: chính sách giáo dục, chính sách khuyến khích phát triển
văn hoá, nghệ thuật.
1.1.3. Bảo hiểm xã hội là một bộ phận quan trọng của chính sách xã
hội:
Nh phần trên đã trình bày, trong hệ thống chính sách xã hội, BHXH
thuộc nhóm chính sách xã hội tác động vào quá trình phân phối và phân phối
lại thu nhập. BHXH cần cho tất cả mọi người trong mọi giai tầng xã hội bất
luận giầu hay nghèo, địa vị xã hội cao hay thấp. Thực tế tai nạn rủi ro không
trừ một ai. Do đó đảm bảo sự cân bằng thu nhập cho người lao động khi họ
mất hoặc giảm sút khả năng lao động là hết sức cần thiết. Xã hội nào hệ
thống BHXH càng tốt thì xã hội càng phát triển ổn định, người lao động càng
yên tâm, tha thiết với sản xuất.


Tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa
ở nước ta là" Không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân
dân, trước hết là nhân dân lao động". ở từng giai đoạn, từng thời kỳ Đảng và
Nhà nước ta luôn chú trọng đến các vấn đề thuộc chính sách xã hội trong đó
có BHXH.Trong Hiến pháp được Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng

ngừng hoặc giảm thu nhập, gây ra bởi ốm đau, mất khả năng lao động, tuổi
già, chết; thêm vào đó, BHXH còn chăm sóc y tế, sức khoẻ và trợ cấp cho
các gia đình đông con."
Song có thể hiểu một cách khái quát nhất theo Từ điển bách khoa Việt
nam thì: "BHXH là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho
người lao động khi họ bị mất hoặc giảm thu nhập do bị ốm đau, thai sản, tai
nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, tàn tật, thất nghiệp, tuổi già, tử tuất, dùa
trên cơ sở một quỹ tài chính do sự đóng góp của các bên tham gia BHXH, có
sự bảo hộ của Nhà nước theo Pháp luật, nhằm đảm bảo an toàn đời sống cho
ngưòi lao dộng và gia đình họ, đồng thời góp phần bảo đảm an toàn xã hội."
Bảo hiểm xã hội cần cho tất cả mọi người trong mọi giai tầng xã hội
bất luận giầu hay nghèo, địa vị xã hội cao hay thấp. Do đó đảm bảo sự cân
bằng thu nhập cho người lao động khi họ mất hoặc giảm sút khả năng lao
động là hết sức cần thiết. Xã hội nào hệ thống BHXH càng tốt thì xã hội
càng phát triển ổn định, người lao động càng yên tâm, tha thiết với sản xuất.
1.2.2. Chính sách Bảo hiểm xã hội:
Chính sách Bảo hiểm xã hội là những chủ trương, quan điểm, nguyên
tắc BHXH để giải quyết các vấn đề xã hội liên quan đến một tầng líp đông
đảo người lao động và các vấn đề kích thích phát triển kinh tế của từng thời
kỳ. Chính sách BHXH nằm trong hệ thống chính sách xã hội. Trong mỗi giai
đoạn phát triển kinh tế khác nhau, chính sách BHXH được Nhà nước đề ra
và thực hiện phù hợp với mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của
từng giai đoạn.
1.2.3. Chế độ Bảo hiểm xã hội :


Chế độ BHXH là sự cụ thể hoá chính sách BHXH. Bao gồm các chế độ
trợ cấp như: chăm sóc y tế, trợ cấp ốm đau, trợ cấp thất nghiệp, trợ cấp tuổi
già, trợ cấp tai nạn lao động, trợ cấp gia đình, trợ cấp thai sản, trợ cấp tàn tật,
trợ cấp mất người nuôi dưỡng.

hoặc theo từng trường hợp người bệnh cụ thể.
2.2. Chế độ trợ cấp ốm đau:
Người tham gia BHXH, nếu có đủ điều kiện quy đinh, khi bị ốm đau phải
nghỉ làm việc để khám, chữa bệnh, không có thu nhập trong những ngày này, nên
được cơ quan BHXH trả trợ cấp ốm đau để hỗ trợ cho đời sống của họ và gia đình
trong những ngày nghỉ ốm không có thu nhập này. Ngoài ra đối với người LĐ khi
có con còn nhỏ bị ốm, người mẹ (hoặc bố) cũng được nghỉ theo để chăm sóc con
cái bị đau ốm (con ốm, mẹ nghỉ). Những ngày nghỉ này cũng được BHXH trả trợ
cấp ốm đau như chính bản thân mình bị ốm.
2.3. Chế độ trợ cấp thất nghiệp:
Người lao đông tham gia BHXH, nếu có đủ điều kiện quy đinh, khi bị thất
nghiệp (mất việc làm và chưa tìm được việc làm), được BHXH trả một khoản trợ
cấp thất nghiệp để ổn định tạm thời cuộc sống của bản thân và gia đình họ trong
thời gian thất nghiệp.
2.4. Trợ cấp hưu trí (hay còn gọi là trợ cấp tuổi già):
Người lao động khi hết tuổi lao động, có tham gia BHXH và có đủ các điều
kiện quy định, sẽ được BHXH trả trợ cấp hưu trí để sống và nghỉ ngơi trong những
năm cuối đời.
2.5. Chế độ tử, tuất: gồm hai loại trợ cấp:


- Người lao động khi tham gia BHXH, không may bị chết (do ốm đau,
tai nạn, già cả...) đều được BHXH trợ cấp một khoản tiền để làm các thủ tục
mai táng, chôn cất cho người đã quá cố. Khoản trợ cấp này gọi là “tiền mai
táng” được trả cho người đứng ra làm việc này.
- Người lao động có tham gia BHXH, không may bị từ trần, thì ngoài
trợ cấp khi chết (như đã nêu ở phần trên), những người thân sống dùa vào
nguồn thu nhập của người đã chết còn được BHXH trợ cấp một khoản tiền từ
quỹ BHXH gọi là trợ cấp mất người nuôi dưỡng (hay trợ cấp tuất, trợ cấp cô
nhi, quả phụ).

kê từ năm 1954 đến nay.
Từ năm 1954 - 1985, kinh tế ngoài quốc doanh chủ yếu bao gồm thành
phần kinh tế tập thể (các HTX và các tổ hợp tác), thành phần kinh tế tư bản
nhà nước (các xí nghiệp công tư hợp doanh), thành phần kinh tế cá thể (các
xí nghiệp tư nhân, các hộ gia đình...)
Sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, kinh tế ngoài quốc doanh đã
ngày càng giữ vững được vai trò và vị trí của mình trong nền kinh tế quốc
dân, cả trong nhận thức tư tưởng lẫn hoạt động thực tiễn. Đảng và Nhà nước
ta đã khẳng định thực hiện nhất quán, lâu dài chính sách phát triển kinh tế
nhiều thành phần. Điều này đã được nêu rõ bằng những chủ trương, chính
sách và quy định cụ thể trong các văn bản sau: Nghị quyết 16 của Bộ Chính
trị (15/7/1988) về phát triển kinh tế ngoài quốc doanh; Nghị định 221/HĐBT
và 222/HĐBT ngày 23/7/1991 của Hội đồng Bộ trưởng ban hành những quy
định cụ thể hoá một số điều trong Luật doanh nghiệp tư nhân và Luật công
ty. Đặc biệt, nhà nước đã ban hành Nghị định số 27/HĐBT và Nghị định
28/HĐBT ngày 9/3/1988 về sản xuất công nghiệp, dịch vụ công nghiệp, xây
dựng, vận tải, trong đó có quy định cụ thể việc thực hiện các chính sách lao
động và xã hội đối với người lao động làm thuê ở các thành phần kinh tế
ngoài quốc doanh.


Ngày 18/4/1989 Bé Lao động - Thương binh và Xã hội đã ra Thông tư
số 09/LĐTBXH-TT hướng dẫn thực hiện các chính sách lao động và xã hội
theo tinh thần nghị định số 27 và 28 /HĐBT.
Thông tư này có một số nội dung quy định cụ thể việc thực hiện các
chế độ BHXH đối với người lao động làm việc ở khu vực kinh tế ngoài quốc
doanh như sau:
Người lao động làm việc trong các HTX được hưởng các quyền lợi
BHXH khi ốm đau, thai sản, tai nạn lao động (TNLĐ), hưu trí hoặc chấm dứt
hợp đồng lao động, chết. Người chủ sử dụng lao động có trách nhiệm thực

1 lần theo quy định sau:

Hạng thương tật

K. hạng

Tỷ lệ MSLĐ (%)

5 – 20

Số tháng trợ cấp theo tiền công

1–2

4

3

21 - 40 41 - 60
3-5

6-8

2

1

61 - 80

Trên 80

để thực hiện BHXH cho người lao động.
+ Gửi vào 1 tài khoản riêng tại Ngân hàng cho từng người lao động
nếu được người lao động thoả thuận.
+ Chi trả trực tiếp hàng tháng cho người lao động, cùng lúc trả tiền
công để người lao động tự về BHXH khi nghỉ hưu trí, mất sức hoặc chấm dứt
hợp đồng lao động.
II. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN
BHXH TRONG CÁC HTX CNTTCN

1. Đặc điểm các hợp tác xã công nghiệp, tiểu, thủ công nghiệp ở Việt
nam.
Hợp tác xã là một hình thức biểu hiện của kinh tế tập thể, là sản phẩm
tất yếu của quá trình hợp tác. Ngày nay có thể coi HTX là một đơn vị kinh tế,
một “tế bào” của nền kinh tế.
Đối với nước ta, từ khi đổi mới cải tiến quản lý HTX, thì khái niệm về
HTX đã được hiểu rõ ràng hơn. Theo Luật HTX được Quốc hội nước Cộng
hoà XHCN Việt Nam Khoá IX, kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 20/03/1996, (có
hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/1997), thì :


“Hợp tác xã là một tổ chức kinh tế tự chủ do những người lao động có
nhu cầu, lợi Ých chung, tự nguyện cùng góp vốn, góp sức lập ra theo quy
định của Pháp luật để phát huy sức mạnh của tập thể và của từng xã viên
nhằm giúp nhau thực hiện có hiệu quả hơn các hoạt động sản xuất, kinh
doanh, dịch vụ và cải thiện đời sống góp phần phát triển kinh tế - xã hội của
đất nước ”, [6, trang 7].
HTX có thể phân loại theo những tiêu thức khác nhau:
+ Theo trình độ hợp tác: có các loại sau:
- Hợp tác từng khâu, từng việc, từng thời gian. Đây là loại hình hợp tác
“lỏng”, không định hình hoặc phi hình thể.

thuế, nghĩa vụ tài chính theo quy định của pháp luật; bảo toàn và phát triển
vốn hoạt động của HTX, quản lý và sử dụng đất được Nhà nước giao quyền
sử dụng theo quy định của pháp luật; chịu trách nhiệm đối với các khoản nợ
và các nghĩa vụ khác; bảo vệ môi trường; bảo đảm các quyền lợi của xã viên
và thực hiện các cam kết kinh tế đối với xã viên; đóng BHXH cho xã viên
theo quy định của pháp luật; chăm lo giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao
trình độ, cung cấp thông tin để mọi xã viên tích cực tham gia xây dựng HTX
và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho các tổ chức chính trị - xã hội (được pháp
luật công nhận) hoạt động trong HTX.
Theo điều lệ mẫu HTX CNTTCN và HTX xây dựng được ban hành
kèm theo Nghị định số 44/CP ngày 29/4/1997 thì “HTX CNTTCN là tổ chức
kinh tế tự chủ, do những người lao động có nhu cầu lợi Ých chung, tự nguyện
cùng góp vốn, góp sức lập ra theo quy định của pháp luật, để sản xuất kinh
doanh trong lĩnh vực công nghiệp, tiểu công nghiệp, thủ công nghiệp và dịch
vụ CNTTCN” [6, trang 235]
Đặc điểm cơ bản của các HTX nói chung và HTX CNTTCN nói riêng
ảnh hưởng đến hoạt động của BHXH đó là:
1. Hợp tác xã là một tổ chức kinh tế không phải là một tổ chức xã hội
hoặc hành chính, vì vậy HTX trước hết phải tổ chức các hoạt động sản xuất


kinh doanh có hiệu quả trên cơ sở đó thông qua các nguyên tắc cơ bản như tự
nguyện, cùng có lợi, dân chủ và bình đẳng mà HTX thực hiện các chức năng
xã hội khác, trước hết là đối với các xã viên của mình. Nguyên tắc dân chủ ở
đây thể hiện ở chỗ mỗi xã viên một phiếu bầu, không lấy cơ sở vốn góp cổ
phần nhiều hay Ýt để quy định phiếu bầu và làm nguyên tắc quản lý. Đây là
điểm khác biệt cơ bản giữa HTX (kể cả các HTX cổ phần) với công ty cổ
phần, công ty đối vốn khác.
2. Về sở hữu và phân phối trong HTX: Trong HTX có thể có các loại sở
hữu đan xen nhau bao gồm sở hữu tập thể và sở hữu cá nhân xã viên (bao

xã viên HTX là hộ gia đình phải cử người đại diện cho mình có đủ tiêu chuẩn
xã viên, làm đơn xin vào HTX và chỉ có quyền lợi và nghĩa vụ như một xã
viên khác.
8. Về quyền lợi và nghĩa vô : Quyền lợi và nghĩa vụ của xã viên được
ghi rõ trong điều lệ mẫu HTX công nghiệp và xây dựng (ban hành kèm theo
Nghị định số 44/CP, ngày 29/4/1998), nhưng ở đây cần lưu ý một số điểm sau
:
+ Về quyền lợi :
- Xã viên được ưu tiên làm việc cho HTX và được HTX trả công lao
động theo quy định trong Điều lệ của HTX. Thu nhập (tiền công) của xã viên
là tuỳ thuộc vào tình hình sản xuất, kinh doanh của các HTX mà họ tham gia
và khả năng lao động của họ, nên thường không ổn định.
- Xã viên được hưởng lãi chia theo vốn góp, công sức đóng góp của xã
viên và theo mức độ sử dụng dịch vụ của HTX.
- Được hưởng thụ các phóc lợi xã hội chung của HTX, được HTX thực
hiện các cam kết kinh tế; được tham gia BHXH theo quy định của pháp luật.
- Được chuyển nhượng vốn góp và các quyền lợi, nghĩa vụ của mình
cho người khác nếu người đó có đủ điều kiện và tự nguyện làm đơn xin vào


HTX và được Đại hội xã viên chấp thuận. Tuy nhiên, không được phép
chuyển nhượng quyền thụ hưởng các chế độ BHXH loại hình bắt buộc.
- Được tham gia các HTX khác không cùng ngành, nghề với điều kiện
phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ theo điều lệ của HTX mà mình tham gia.
- Được thừa kế tài sản và các quyền lợi (trừ thừa kế hưởng thụ chế độ
BHXH bắt buộc), nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật và điều lệ HTX.
+ Về nghĩa vụ :
- Góp vốn theo quy định của điều lệ HTX.
- Thực hiện các cam kết kinh tế với HTX, chịu trách nhiệm về các
khoản nợ; chia sẻ rủi ro thiệt hại, thua lỗ của HTX trong phạm vi phần vốn

dù tình trạng thiếu tác phong công nghiệp của người xã viên là khá phổ biến,
đặc biệt là đối với các HTX chưa chuyển đổi.
2. Cơ sở lý luận về tổ chức thực hiện các chế độ BHXH trong các
HTX CNTTCN.
2.1. Cơ sở chủ yếu để tổ chức thực hiện các chế độ BHXH:
Điều 140 của Bộ Luật Lao động đã nêu rõ:
1. Nhà nước quy định chính sách về BHXH nhằm từng bước mở rộng
và nâng cao việc bảo đảm vật chất, góp phần ổn định đời sống cho người lao
động và gia đình trong các trường hợp người lao động ốm đau, thai sản, hết
tuổi lao động, chết, bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, mất việc làm, gặp
rủi ro và các khó khăn khác.
2. Các loại hình BHXH Bắt buộc hoặc tự nguyện được áp dụng đối với
từng loại đối tượng và từng loại doanh nghiệp để bảo đảm cho người lao
động được hưởng các chế độ BHXH thích hợp”.
Riêng đối với các HTX, việc thực hiện BHXH đã được ghi rõ trong
nghĩa vụ thứ 9, Điều 9, Luật HTX được Quốc hội Khoá IX, kỳ họp thứ 9
thông qua ngày 20/3/1996 như sau: “Đóng bảo hiểm xã hội cho xã viên theo


quy định của pháp luật”, [6, trang 11]. Người xã viên HTX cũng có nghĩa vụ
và quyền lợi tham gia BHXH.
Điều 23: Quyền của xã viên ghi: “Tham gia BHXH theo quy định của
pháp luật” [6, trang 17]
Điều 24. Nghĩa vụ của xã viên ghi: “Tham gia đóng BHXH theo quy
định của pháp luật”[6, trang 18]
Ngoài ra khi tổ chức thực hiện các chế độ BHXH đối với người lao
động cần dùa trên các cơ sở chủ yếu sau đây:
+ Bản chất của chế độ xã hội, thể chế chính trị, truyền thống và bản
sắc dân téc của mỗi nước.
+ Mục tiêu của sự nghiệp BHXH thực hiện tại mỗi quốc gia;

Để lùa chọn các chế độ BHXH sẽ thực hiện trong các HTX CNTTCN,
trước hết, cần phải căn cứ vào chính sách BHXH và các chế độ BHXH mà
Đảng và Nhà nước ta đã ban hành. Sau đó có thể dùa vào các cơ sở chủ yếu
sau để điều chỉnh cho phù hợp.
Như đã biết, chế độ BHXH là những biểu hiện cụ thể, những phương
tiện thực hiện các mục tiêu của chính sách BHXH của một quốc gia nào đó.
Chế độ BHXH nêu lên sự bố trí, sắp xếp nhất định về các phương tiện (khả
năng tài chính, điều kiện kinh tế - xã hội), phù hợp với những quy luật của
từng nước trong các giai đoạn phát triển khác nhau.
Một chế độ BHXH thường được xác định bởi các yếu tố sau: Đối tượng
được hưởng BHXH; các trường hợp được BHXH; điều kiện hưởng; mức trợ
cấp và thời hạn hưởng trợ cấp BHXH.
Những yếu tố này lại dùa trên cơ sở những căn cứ sau :
- Các nhu cầu tối thiểu và nhu cầu mở rộng của đối tượng được thụ
hưởng BHXH.


- Các chi phí bắt buộc để có thể trang trải những “rủi ro” xã hội được
bảo hiểm.
- Mức độ giảm sút thu nhập khi rủi ro xã hội xảy ra.
- Khả năng, mức độ và thời hạn đóng góp BHXH.
- Khả năng thanh toán của quỹ BHXH.
Ngoài ra, còn phải xem xét đến thể chất của con người, điều kiện sống
và điều kiện lao động của con người, chức năng tổ chức và trình độ quản lý
xã hội của quốc gia.
Mét trong những vấn đề để lùa chọn chế độ BHXH trong các HTX
TTCN là cơ sở xác định các điều kiện hưởng BHXH của đối tượng tham gia
BHXH thuộc khu vực HTX CNTTCN cũng tương tự như với người lao động
thuộc khu vực khác. Trong hệ thống các điều kiện có thể nêu một số điều
kiện chủ yếu sau :


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status