BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
CÔNG TRÌNH DỰ THI
GIẢI THƯỞNG “SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC”
NĂM 2011
TÊN CÔNG TRÌNH
SỰ VẬN DỤNG LÝ LUẬN HÌNH THÁI KINH TẾ -XÃ HỘI CỦA CHỦ NGHĨA
MÁC-LÊNIN TRONG QUÁ TRÌNH LÃNH ĐẠO CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI CỦA
ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
Mã số:LLCT
Thuộc nhóm nghành khoa học:khoa học xã hội 2b
Họ và tên sinh viên:1)Nguyễn Văn Dũng
2)Nguyễn Thúy Quỳnh
Nam/Nữ:Nam
Dân tộc : Kinh
Nam/Nữ:Nữ
Dân tộc: Kinh
Lớp :Bk3.13
Năm thứ :1/5
K55 nhóm ngành 03
Tel: 01649953103
thêm được về lý luận và sự vận dụng lý luận vào thực tiễn của đảng ta.Với tư
cách là thế hệ tiếp bước tương lai của đất nước,tiếp tục kế thừa và phát huy “tài
sản” của Ông cha đã để lại ,chèo lái con thuyền “đất nước” trên hành trình cập
bến “xã hội chủ nghĩa” chúng em muốn đóng góp cho đất nước với tất cả lòng
nhiệt huyết và kiến thức mà mình có được trong quá trình học tập,tích lũy vì sự
2
phát triển giàu mạnh của tổ quốc.Đề tài nghiên cứu lý luận trong phạm vi sự vận
dụng lý luận hình thái kinh tế-xã hội của chủ nghĩa Mác-Lênin trong quá trình lãnh
đạo công cuộc đổi mới của Đảng cộng sản Việt Nam.Để nghiên cứu làm rõ các
khía cạnh của đề tài,thì đề tài đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học
xã hội nhân văn như:Phương pháp thống kê,phương pháp lịch sử,logic,tổng
hợp.Đề tài đóng góp vào làm chứng minh tính đúng đắn của lý luận hình thái kinh
tế-xã hội chủ nghĩa và sự vận dụng hợp lý có hiệu quả vào thực tiễn của đảng
và nhà nước ta trong công cuộc đổi mới đất nước.Đề tài góp phần bổ trợ thêm
cho môn triết học ,từ đó giúp sinh viên hiểu rõ hơn về lý luận hình thái kinh tế -xã
hội và thực hiện tốt hơn những nhiệm vụ của mình đóng góp vào công cuộc công
nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước.
Đề tài gồn ba phần:Phần lời mở đầu ,phần nội dung ,phần kết luận.
Phần lời mở đầu gồm 2 trang
Phần nội dung gồm 2 chương:
Chương 1:Khái quát chung về hình thái kinh tế-xã hội.
Chương 2: Sự vận dụng lý luận hình thái kinh tế-xã hội của chủ nghĩa
Mác- -Lênin vào công cuộc đổi mới của đảng và nhà nước ta.
Phần kết luận :Gồm 2 trang
3
lực lượng sản xuất phát triển thì tính chất của nó cũng biến đổi theo . Trình độ của
lượng sản xuất là khái niệm nói lên khả năng của con người thực hiện quá trình
biến đổi và thích nghi với giới tự nhiên nhằm bảo đảm cho sự sinh tồn và phát
triển của mình thông qua công cụ lao động . Trình độ phát triển của lực lượng sản
xuất là sản phẩmcủa sự kết hợp giữa các nhân tố:
•Trình độ của công cụ lao động
•Trình độ tổ chức lao động xã hội
•Trình độ ứng dụng khoa học vào sản xuất
•Trình độ kinh nghiệm và kỹ năng lao động của con người
•Trình độ phân công lao động
Tính chất của lực lượng sản xuất là khái niệm nêu lên tính chất xã hội hoá của tư
liệu sản xuất và của lao động . Ứng dụng với sự phát triển của nền sản xuất xã
hội được thể hiện thông qua sự phát triển của công cụ lao động, thì tính chất xã
hội cũng biến đổi theo . Tuy vậy, trong nền sản xuất xã hội đôi khi trình độ phát
triển của lực lượng sản xuất không đi đôi với tính chất xã hội hoá của nó . Mặt
khác tinh chất của nó còn phản ánh khả năng chinh phục giới tự nhiên của con
người, và khả năng này chỉ đạt tới đỉnh cao khi quan hệ sản xuất phù hợp với
trình độ phát triển của lượng sản xuất . Sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất với
trình độ phát triển của lượng sản xuất là một trạng thái trong đó các yếu tố cấu
thành quan hệ sản xuất tạo điều kiện đầy đủ cho lực lượng sản xuất phát triển .
Như vậy, lực lượng sản xuất quyết định đến sự hình thành và phát triển của quan
hệ sản xuất, một khi lực lượng sản xuất biến đổi dù sớm hay muộn thì quan hệ
sản xuất cũng phải biến đổi sao cho phù hợp với trình độ của lực lượng sản xuất
mới. Tuy vậy, quan hệ sản xuất cũng thể hiện tính độc lập tương đối với lượng
6
sản xuất . Quan hệ sản xuất tác động trở lại với lực lượng sản xuất, quy định mục
đích xã hội của sản xuất, tác động đến khuynh hướng phát triển của công nghệ .
sản xuất của xã hội.
Kiến trúc thượng tầng dùng để chỉ toàn bộ những quan điểm chính trị, pháp
quyền, đạo dức, tôn giáo, nghệ thuật,….. cùng với những thiết chế xã hội tương
ứng như nhà nước, đảng phái, giáo hội các đoàn thể xã hội, ….. được hình thành
trên một cơ sở hạ tầng nhất định. Nói một cách dễ hiểu thì kiến trúc thượng tầng
là khái niệm dùng để chỉ khái quát toàn bộ những phương diện còn lại của xã hội tức là phương diện về mối quan hệ giữa con người với con người trên các lĩnh
vực tư tưởng cùng với các tổ chức, thiết chế chính trị- xã hội.
Từ khái niệm về cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng, có thể thấy rằng
chúng là hai phương diện cơ bản của đời sống xã hội. Sự phân tích hai phương
diện này trong lí luận hình thái kinh tế- xã hội của chủ nghĩa Mác- Lênin đã cho ta
thấy không những cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng có mối quan hệ biện
chứng, đan xen vào nhau mà còn cho ta thấy nguyên lí về tính quyết định của cơ
sở hạ tầng đối với kiến trúc thượng tầng, và một nội dung hết sức cơ bản của
nguyên lí này đó là:" Kinh tế quyết định đến chính trị, mà chính trị lại là biểu hiện
tập trung của kinh tế ". Có thể nói đây là một trong những nguyên lí hết sức cơ
bản của chủ nghĩa duy vật lịch sử.
Khi phân tích mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc
thượng tầng của xã hội, ta có thể phân tích trên bốn phương diện cơ bản sau:
Thứ nhất: Cơ sơ hạ tầng và kiến trúc thượng tầng của xã hội tồn tại trong tính
quy định thống nhất với nhau. Kiến trúc thượng tầng là các hình thức chính trị,
pháp luật,….. của các quan hệ kinh tế và hoạt động kinh tế hiện thực của xã hội.
Ngược lại,cơ sở hạ tầng lại là cơ sở kinh tế để hình thành nên những quan hệ và
hoạt động chính trị, pháp luật,.…..trong hiện thực đời sống của xã hội. Trong thực
tế xã hội những quan hệ và hoạt động kinh tế sẽ không thể thực hiện được nếu
như nó thiếu những hình thức chính trị, pháp luật nhất định. Chẳng hạn, quan hệ
sở hữu tư liệu sản xuất trong cơ sở hạ tầng sẽ không thể được đảm bảo trong
8
thực tế nếu như nó thiếu đi một hình thức pháp lí và thiết chế hoạt động của một
luôn luôn có khả năng diễn ra sự không phù hợp giữa chúng và nguyên tắc xử lí
sự không phù hợp ấy phải là làm cho kiến trúc thượng tầng phù hợp với cơ sở hạ
tầng và chỉ có nguyên tắc như vậy, thì mới có khả năng tạo ra tác động tích cực
của kiến trúc thượng tầng với cơ sở hạ tầng, nhờ đó khiến cho cơ sở hạ tầng có
được tác dụng tích cực đối với sự bảo tồn và phát triển các lực lượng sản xuất
của xã hội.
II.
HÌNH THÁI KINH TẾ - XÃ HỘI
1. Quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin về hình thái kinh tế xã
hội.
Hình thái kinh tế xã hội là một phạm trù của chủ nghĩa duy vật lich sử dùng để chỉ
xã hội ở những giai đoạn phát triển, những hình thái khác nhau và những hình
thái cụ thể của sự vận động xã hội, là một chỉnh thể thống nhất của cơ
sở kinh tế và kiến trúc thượng tầng, thích ứng với một giai đoạn nhất định của
sự phát triển của lượng sản xuất.
Hình thái kinh tế xã hội bao gồm hình thái kinh tế, hình thái chính trị và hình
thái ý thức, đó là sự thống nhất lịch sử cụ thể. Hình thái kinh tế là cơ sở của hình
thái xã hội, quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất có ý nghĩa quyết định đến sự phát
triển của xã hội từ thấp đến cao.
Mác và Lênin đã thường sử dụng phạm trù " hình thái xã hội" và hình thái "
kinh tế - xã hội " với ý nghĩa tương đồng, đồng thời cũng đã giải thích về " tổng
hòa quan hệ sản xuất ", đó là phương diện cơ bản của hình thái kinh tế xã hội. Và
kiến trúc thượng tầng được dựng trên cơ sở kinh tế là bộ phận không thể phân
cắt của một hình thái kinh tế - xã hội nhất định. Một hình thái xã hội nhất định nói
chung đều phải lấy hình thức chế độ xã hội để biểu hiện ra. Xã hội loài người ngày
10
khách quan chứ không phải theo một ý muốn chủ quan. Theo quan niệm của
V.I.Lênin thì :" Chỉ có đem những quan hệ xã hội vào những quan hệ sản xuất và
đem những quan hệ sản xuất vào hình thai kinh tế xã hội ".
Trong toàn bộ tiến trình lịch sử phát triển xã hội loài người, sự thay thế và
phát triển từ chế độ công xã nguyên thủy, qua chế độ chiếm hữu nô lệ, chế độ
phong kiến, chế độ tư bản chủ nghĩa và cuối cùng là đến xã hội cộng sản. Có
được sự phát triển như vậy là do sự tác động của hệ thống các quy luật xã hội,
trong đó quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng
sản xuất là quy luật cơ bản nhất. Đúng như C.Mác đã viết :" Toàn bộ những quan
hệ sản xuất ấy hợp thành cơ cấu kinh tế của xã hội, tức là cái cơ sở hiện thực
trên đó dựng lên một kiến trúc thượng tầng pháp lí về chính trị và những hình thái
ý thức xã hội nhất định tương ứng với cơ sở hiện thực đó.
Như vậy xét trong nội bộ phương thức sản xuất thì quan hệ sản xuất là hình
thức phát triển của lực lượng sản xuất, nhưng xét trong tổng thể các quan hệ xã
hội thì các quan hệ sản xuất hợp thành cơ sở kinh tế của xã hội, tức là cơ sở hiện
thực mà trên đó hình thành nên kiến trúc thượng tầng tương ứng.
Kiến trúc thượng tầng là toàn bộ những quan điểm về chính trị, pháp quyền,
triết học đạo đức, tôn giáo….. cùng với những thiết chế xã hội như nhà nước,
đảng phái, giáo hội, các đoàn thể xã hội được hình thành trên một cơ sở hạ tầng
nhất định. Như vậy, trong một xã hội có giai cấp thì kiến trúc thượng tầng cũng
mang tính giai cấp, trong đó nhà nước có vai trò cực kì quan trọng. Đó là tiêu biểu
cho chế độ chính trị của một xã hội nhất định. Nhờ có nhà nước mà giai cấp thống
trị mới thực hiện được sự thống trị của mình về tất cả các mặt trong đời sống xã
hội.
Giữa các mặt trong đời sống xã hội thống nhất biện chứng với nhau tạo
thành các xã hội cụ thể tồn tại trong từng giai đoạn lịch sử nhất định. Các xã hội
12
cụ thể đó được chủ nghĩa duy vật lịch sử dùng đẻ chỉ xã hội ở từng giai đoạn lịch
ý thức, tư tưởng từ ý chí chu quan của con người để giải thích các hiện tượng
trong đời sống xã hội mà phải xuất phát từ phương thức sản xuất
Học thuyết cũng chỉ ra rằng : Xã hội không phải là sự kết hợp một cách
ngẫu nhiên, máy móc giữa các cá nhân với nhau mà là một cơ thể sống động, các
mặt thống nhất chặt chẽ với nhau, tác động qua lại lẫn nhau. Trong đó quan hệ
sản xuất là quan hệ cơ bản quyết định đến các quan hệ xã hội khác, đó còn là tiêu
chuẩn khách quan để phân biệt các chế độ xã hội, để phân kì lịch sự một cách
đúng đắn và khoa học
Học thuyết còn chỉ ra : Sự phát triển của các hình thái kinh tế - xã hội là một
quá trình lịch sử - tự nhiên, tức là diễn ra theo các quy luật khách quan, chứ
không theo một ý muốn chủ quan nào cả. Vì thế cho nên V.I.Lênin đã quan niệm
rằng : " Xã hội là một cơ thể sống đang phát triển không ngừng, một cơ thể mà
muốn nghiên cứu thì cần phải phân tích một cách khách quan những quan hệ sản
xuất cấu thành một hình thái kinh tế - xã hội nhất định, và cũng cần phải nghiên
cứu những quy luật vận hành và phát triển của hình thái kinh tế - xã hội đó.
Ngày nay có quan điểm cho rằng cần thay thế lý luận đó bằn cách tiếp cận
khác ,nhất là cách tiếp cận theo nền văn minh.Ông Alvin Toffler ,nhà tương lai học
nổi tiếng người Mĩ,ông phân chia lịch sử nhân loại thành ba nền văn minh:Văn
minh nông nghiệp,văn minh công nghiệp,văn minh hậu công nghiệp .
+Nền văn minh nông nghiệp là nền văn minh có nền kinh tế khép kín,tự cung
tự cấp,dân cư sống thành làng mạc,chủ yếu làm nông nghiệp.
+Nền văn minh công nghiệp được bắt đầu từ năm 1650-1750,nó được thực
hiện bởi cuộc cách mạng khoa học kĩ thật.Nền văn minh này có sự phân công lao
động sâu sắc,công nghiệp giữ vai trò thống trị nền kinh tế.
14
lựa chọn và xác định ấy luôn đúngvới mọi sự biến động của đất nước.trong sách
lược vắn tắt và luận văn chính trị của đảng ta năm 1930 đã ghi rõ cánh mạng Việt
Nam sẽ đi theo con đường tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để
đi tới chủ nghĩa cộng sản ,bỏ qua giai đoạn của chủ nghĩa tư bản.Chúng ta lựa
chọn con đường xã hội chủ nghĩa không qua giai đoạn không qua giai đoạn của
chủ nghĩa tư bản không có nghĩa là chúng ta gạt bỏ tất cả quan hệ sở hữu cá thể
tư nhân chỉ còn lại chế độ công hữu và tập thể mà trái lại là tất cả những gì thuộc
về sở hữu tư nhân góp phần nào vào sản xuất kinh doanh thì chấp nhận nó như
một bộ phận tự nhiên của quá trình xây dựng kinh tế xây dựng chủ nghĩa xã
hội.Nhưng cái mà chúng ta phải bỏ qua đó là măt chính trị của chế độ tư bản,tức
không thể hình thành một hệ thống giai cấp tư sản trong xã hội nước ta .Một chế
độ mà trong đó đa số phải phụ thuộc vào thiểu số đây là cái mà chúng ta đang
muốn gạt bỏ nó khỏi xã hội Việt Nam, bởi chế độ đó mang lại không biết bao
nhiêu sự áp bức bóc lột một cách dã man đối với nhân dân ta.Sự lựa chọn này là
kết quả trưc tiếp nảy sinh từ sự giác ngộ chủ nghĩa Mác-Lênin,chủ nghĩa xã hội
khoa học ở Bác sau một thập niên (1911-1920).Khi Bác trở thành một người cộng
sản và những năm sau này Bác luôn nhất quán khẳng định rằng giải phóng giai
cấp ,giải phóng dân tộc chỉ có thể thưc hiện được bằng con đường cách mạng vô
sản,bằng công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa ,xã hội cộng sản chủ nghĩa.Việt
Nam sẽ trở thành một nước tự do, độc lập,nhân dân được hưởng một cuộc sống
ấm no hạnh phúc thực sự chứ không phải là sự tự do,hạnh phúc ,độc lập giả dối
như những nước thực dân,đế quốc đã nói trong các bản tuyên ngôn độc lập của
họ.
16
Khi miền Bắc được giải phóng,trong khi đó miền Nam ruột thịt vẫn còn đang
chìm trong khói lửa của bọn đế quốc,khi đó đặt ra một câu hỏi đặt ra một câu hỏi
cho đảng và nhan dân ta:Miền Bắc có nên thực hiện ngay vào thời kì quá độ lên
Có thể nói rằng những quyết sách của đảng ta ở trong thời kì này đã thể hiện
sự năng động sáng tạo về tư duy lý luận gắn liền với sự mẫn cảm về thực tiễn
cùng bản lĩnh chính trị vững vàng kiên định.Đổi mới để phát triển ,để thoát khỏi
tình trạng khủng hoảng ,để vượt qua sự kìm hãm của mô hình cũ-mô hình kinh tế
bao cấp.Chúng ta không chỉ đổi mới về mô hình kinh tế mà còn đổi mới về
phương pháp quản lý xóa bỏ tệ quan liêu tham nhũng , cơ chế cứng nhắc.Sự đổi
mới đó đã giải phóng và khai thác mọi tiềm năng phát triển của xã hội nhằm thực
hiện mục tiêu dân giàu nước mạnh ,xã hội công bằng dân chủ văn minh,đúng với
quy luật khách quan ,phù hợp với quang cảnh ,điều kiện thực tế của đất nước với
xu thế,đặc điểm của thế giới hiện đại.Đổi mới là để xây dựng một xã hội chủ nghĩa
hiệu quả hơn,làm cho chủ nghĩa xã hội bộc lộ và khẳng định bản chất của nó từng
bước định hình và phát triển trong thực tế,làm cho đời sống vật chất ngày càng
tăng ,đời sống tinh thần ngày càng tốt,xã hội ngày càng văn minh tiến bộ.Nhân
dân có một cuộc sống ấm no hạnh phúc,được học hành phát triển hết những khả
năng của bản thân cống hiến cho đất nước,nhân dân thực sự làm chủ cuộc sống
của mình và xã hội.
Bao nhiêu khó khăn gian khổ mà đất nước chúng ta ,đất nước Việt Nam đã
trải qua đã cho chúng ta được đi lên chủ nghĩa xã hội là tất yếu khách quan .Công
cuộc đổi mới của đảng ta đã xác lập một sự bình ổn mới làm cho đất nước đạt tới
sự phát triển bền vững.Chúng ta cần phải xây dựng chủ nghĩa xã hội với sự năng
động hơn nữa ,tích cực hơn nữa,sáng tạo và phù hợp hơn nữa với tình hình kinh
tế -xã hội hiện nay.Chế độ xã hội chủ nghĩa mà chúng ta đang xây dựng sẽ là chế
độ phát triển và sử dụng tốt nhất những nguồn lực của chính mình ,trong đó sức
mạnh quyết định chính là nguồn lực con người.Đó là mục tiêu quan trọng nhất của
chủ nghĩa xã hội.
2. Những nhiệm vụ của thời kì đầu trong thời kì quá độ lên chủ
nghĩa xã hội ở nước ta.
ra vật liệu mới,sản phẩm mới từ nguyên liệu trong nước..” “sắp xếp ,bố trí lại cơ
cấu và bước đi trước mắt ,phù hợp với khả năng thực tế của đất nước…”. Đại hội
đảng lần thứ VI chú trọng tới vấn đề thiết yếu đó là “ Lương thực -thực phẩm”
“Hàng tiêu dùng “ “Hàng xuất khẩu” cùng nhiều vấn đề khác như khoa học kĩ
19
thuật ,đời sống của nhân dân .Với quá trình mới về sự nghiệp công nghiệp hóa
hiện đại hóa đất nước còn nhiều thách thức khó khăn trước mắt đảng và nhà
nước đã đề ra những nội dung cần thực hiện để thực hiện mục tiêu đó:
+ Tăng thêm tốc độ và tỉ trọng sản xuất công nghiệp trong nền kinh tế
quốc dân.Đầu tư cho nền nông nghiệp để luôn đảm bảo về an ninh lương trong
nước.
+ Dựa trên sự thay đổi về công nghệ chúng ta phải chuyển dich cơ cấu
kinh tế để dần tới sự tăng trưởng nhanh và bền .
+ Khuyến khích và đào tạo những tài năng trẻ nhằm tạo ra nguồn nhân
lực có chất lượng cao cho đất nước .
+ Thực hiện chuyển giao công nghệ kết hợp với năng lực sáng tạo của
quần chúng.Muốn vậy cần phải nắm bắt đầy đủ chính xác các thông tin cần thiết
thông qua các công ty tư vấn trong và ngoài nước để đảm bảo công nghệ lựa
chọn là chính xác và phù hợp.Mở rông liên kết kinh doanh với nước ngoài với sự
giám sát chặt chẽ của nhà nước ta,để có thể khai thác công nghệ một cách trực
tiếp.
+ Xây dựng và phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định
hướng xã hội chủ nghĩa. Như vậy, cần phải chấn chỉnh, đổi mới và có hiệu quả
khu vực doanh nghiệp nhà nước làm tốt vai trò hỗ trợ và thúc đẩy các thành phần
kinh tế khác phát triển .
+ Thận trọng trong sự phát triển xã hội,mở rộng giao lưu văn hóa với các
nước trên thế giới,cần có biện pháp ngăn chặn sự thâm nhập của những văn hóa
không tốt kết hợp với giữ gìn bảo vệ và phát triển văn hóa dân tộc.
công nghiệp,trung tâm kinh tế của cả nước.Xây dựng cơ sở hạ tầng vững
chắc,đẩy mạnh quá trình đô thị hóa,nhưng tránh xây dựng đô thị ồ ạt thiếu chất
lượng gây hậu quả nghiêm trọng.Cải tạo ,nâng cấp và xây mới các hạng mục
công trình giao thông,cơ sở hạ tầng đô thị tạo điều kiện cho kinh tế phát triển
Đảng và nhà nước luôn cố gắng đưa ra các chính sách và tạo điều kiện cho
mọi công dân tham gia hoạt động sản xuất đóng góp cho sự phát triển của đất
nước.Chăm lo cho đời sống ,an sinh xã hội cho nhân dân đặc biệt là cho những
trẻ em mồ côi lang thang cơ nhỡ,những người cô độc có hoàn cảnh khó
khăn.Quan tâm tới đời sống ,sức khỏe của các cựa chiến binh ,gia đình các liệt
21
sĩ ,gia đình có công với cách mạng ,họ là những người đóng góp tuổi thanh xuân
thậm chí là mạng sống của mình để mang lại cho chúng ta cuộc sống ấm no hạnh
phúc ngày hôm nay.
Thực hiện công tác xóa đói giảm nghèo ,tích cực giúp đỡ các gia đình gặp khó
khăn tạo điều kiện cho họ làm ăn kinh tế,giúp đỡ vốn hoặc cho vay dài hạn với lãi
suất thấp.Tạo điều kiện cho những người đã từng lầm đường lạc lối để họ làm lại
cuộc đời và hòa nhập với đời sống cộng đồng,không phạm lại sai lầm.Quan tâm
tới đời sống của các đồng bào dân tộc thiểu số,tạo điều kiện giúp đỡ cho họ làm
ăn,tuyên truyền phổ biến chủ trương của đảng cho họ.
3. Những thành tựu của đảng và nhân dân ta đã đạt được sau
hơn hai mươi năm đổi mới canh tân đất nước.
Sau hơn hai mươi năm kể từ nghị quyết của đảng và nhà nước ta tại đại hội lần
thứ VI,sự đồng lòng quyết tâm của nhân dân cùng đảng ,nhà nước chúng ta đã
đạt được nhiều thành tựu lớn về nhiều mặt.
*Về thưc hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế đất nước đạt được nhiều kết quả quan
trọng.
triển văn hóa ,xây dựng nếp sống văn minh , lành mạnh toàn dân.Công tác chăm
sóc sức khỏe cho nhân dân được chú trọng, quan tâm hơn rất nhiều,các cơ sở y
tế được xây mới với các trang thiết bị hiện đại.Lực lượng y bác sĩ được đào tạo
bài bản,có trình độ chuyên môn cao.Phong trào toàn dân tích cực luyện tập thể
23
dục thể thao được nhân dân hưởng ứng và tham gia tích cực.Công tác xóa đói
giảm nghèo tiếp tục đạt dược nhiều kết quả ,số hộ nghèo đã giảm từ 31,1% vào
năm 2006 xuống 23,43% vào cuối năm 2008.Khoa học công nghệ phát triển mạnh
ở nhiều lĩnh vực như :Công nghệ thông tin ,viễn thông với các tập đoàn nổi tiếng
như tập đoàn FPT tập đoàn Bưa Chính Viễn Thông ViệtNam,Viettell,Mobifone đây
là các tập đoàn các công ty đi đầu trong lĩnh vực công nghệ thông tin ở Việt nam.
Điện thoại di động thuần việt
Vệ tinh nhân tạo đầu tiên của nước ta
(sản phẩm của FPT)
(tập đoàn VNPT)
Chúng ta đã xây dựng thành công và đưa vào sử dụng nhà máy lọc dầu Dung
Quất vào 6/1/2011,nhà máy lọc dầu Dung Quất giúp chúng ta giảm sức ép về tình
trạng giá xăng dầu tăng cao hiện nay và sự phụ thuộc vào nhập khẩu xăng dầu từ
nước ngoài ,tận dụng được nguồn tài nguyên có sẵn.Gần đây nhất đó là chúng ta
đã khánh thành đưa vào sử dụng nhà máy ethanol Đại Tân đay là nhà máy
ethanol lớn nhất Đông Nam Á .Ngoài việc giảm thiểu sức ép giá cả xăng dầu
đang leo thang nhà máy ethanol Đại Tân nói riêng và các nhà máy ethanol trên cả
nước nói chung góp phần lờn vào việc giảm thiểu các khí độc hại do động cơ của