MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU
3
PHẦN I: NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA CẠNH TRANH VÀ
NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DNNVV
4
1.1. ĐỊNH NGHĨA DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA
4
1.2 .KHÁI QUÁT LÝ LUẬN VỀ CẠNH TRANH
4
1.2.1. Các khái niệm và vai trò cạnh tranh
4
1.2.2. Khái niệm về năng lực cạnh trạnh
6
1.2.3. Phân loại cạnh tranh
7
1.2.4. Một số chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh tranh
12
DNNVV Ở VIỆT NAM
2.1. TỔNG QUAN VỀ CÁC DNNVV Ở VIỆT NAM
12
2.2. THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÁC DNNVV
14
2.2.1. Năng lực quản lý và điều hành
14
2.2.2. Nhân lực trong các DNNVV
15
2.2.3. Chiến lược kinh doanh, tiếp thị hình ảnh của DNNVV
16
2.3.4. Trình độ công nghệ
18
2.3. ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÁC
DNNVV Ở VIỆT NAM
khích các DN áp dụng
KẾT LUẬN
26
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
28
PHẦN MỞ ĐẦU
Cạnh tranh là một trong những quy luật cơ bản của nền kinh tế thị trường,
là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế. Đối với mỗi chủ thể kinh tế, cạnh tranh tạo
ra sức ép hoặc kích thích ứng dụng khoa học công nghệ tiên tiến trong sản xuất,
đổi mới công nghệ, thiết bị sản xuất và phương thức quản lý nhằm nâng cao chất
lượng sản phẩm, hạ giá thành và giá bán sản phẩm. Cạnh tranh với kết quả biểu
hiện qua chỉ tiêu cuối cùng là lợi nhuận sẽ hướng người kinh doanh chuyển nguồn
lực từ nơi có hiệu quả thấp sang nơi có hiệu quả cao hơn. Trong cạnh tranh doanh
nghiệp yếu kém sẽ bị đào thảo và phải nhường chỗ cho các doanh nghiệp làm ăn
có hiệu quả, nhờ đó mà nguồn lực xã hội được sử dụng hợp lý, tạo sự đa dạng của
sản phẩm và dịch vụ cũng chính là tạo ra nhiều sự lựa chọn cho khách hàng hay
người tiêu dùng.
Trong thời gian vừa qua các doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) của Việt
Nam đã phát triển mạnh mẽ, đóng góp đáng kể vào sự tăng trưởng kinh tế của
quốc gia. Trong điều kiện phát triển nền kinh tế nhiều thành phần và hoàn thiện
nền kinh tế thị trường hiện nay, sự cạnh tranh trên thị trường của các thành phần
kinh tế ngày càng gay gắt, khốc liệt. Vì vậy, nâng cao năng lực cạnh tranh cho các
DNNVV khu vực dân doanh là một nội dung cần được quan tâm và hỗ trợ từ
nhiều phía nhất là từ phía Nhà nước.
tranh là sự sống còn của mỗi doanh nghiệp. Chính vì thế mà khái luận về cạnh
tranh được nhiều học giả kinh tế quan tâm
Theo từ điển kinh doanh của Anh xuất bản năm 1992: “Cạnh tranh được xem
như sự ganh đua, sự kình địch giữa các nhà kinh doanh trên thị trường nhằm tranh
giành cùng một loại tài nguyên sản xuất hoặc cùng một loại khách hàng về phía
mình”.
Còn một số nhà khoa học Việt Nam cho rằng: “Cạnh tranh là vấn đề giành
lợi thế về giá cả hàng hoá, dịch vụ và đó là con đường, phương thức để giành được
lợi nhuận cao cho các chủ thể kinh tế”. Nói cách khác, mục đích trực tiếp của hoạt
động cạnh tranh trên thị trường của các chủ thể kinh tế là giành những lợi thế để
hạ thấp giá cả các yếu tố “đầu vào” của các quá trình sản xuất - kinh doanh và
nâng cao giá cả “đầu ra” sao cho mức chi phí thấp nhất nhưng có thể giành được
mức lợi nhuận cao nhất.
Nhìn chung ở mỗi thời kỳ lịch sử khác nhau thì quan niệm và nhận thức về
cạnh tranh là không giống nhau ở phạm vi và các cấp độ áp dụng khác nhau. Tuy
nhiên theo quan điểm tổng hợp thì: “Cạnh tranh là quá trình trong đó các chủ thể
kinh tế ganh đua nhau, tìm mọi biện pháp (cả nghệ thuật kinh doanh lẫn thủ đoạn)
để đạt được mục tiêu kinh tế chủ yếu của mình như chiếm lĩnh thị trường, tối đa
hoá lợi ích, nâng cao vị thế trên thị trường. Mục tiêu cạnh tranh xét trên tầm vĩ mô
còn phải kể đến khả năng tạo thêm thu nhập, việc làm và nâng cao phúc lợi cho
người dân”. Mục đích chủ thể cuối cùng của các chủ thể kinh tế trong quá trình
cạnh tranh là tối đa hoá lợi ích, đối với nhà kinh doanh là lợi nhuận còn đối với
người là tiêu dùng thì đó là lợi ích tiêu dùng.
1.2.1.2. Vai trò cạnh tranh:
Trên mọi phương diện cạnh tranh đều có vai trò rất lớn để mọi hoạt động
kinh tế diễn ra một cách hiệu quả, qua đó thúc đẩy tiến bộ xã hội.
Trên bình diện quốc tế: Cạnh tranh kích thích các doanh nghiệp mở rộng qui
mô hoạt động và thị trường. Thông qua cạnh tranh giao thương quốc tế ngày càng
Một định nghĩa tương tự trong Từ điển thuật ngữ kinh tế học thì năng lực
cạnh tranh là “Khả năng giành được thị phần lớn trước các đối thủ cạnh tranh trên
thị trường, kể cả khả năng giành lại một phần hay toàn bộ thị phần đồng nghiệp”.
Nhưng định nghĩa này vẫn chưa nếu rõ được chủ thể cạnh tranh.
Diễn đàn cao cấp về cạnh tranh công nghiệp của Tổ chức Hợp tác và Phát
triển kinh tế (OECD) (The OECD High Level Forum on Industrial
Competiveness) đã lựa chọn một định nghĩa cố gắng kết hợp cho cả doanh
nghiệp/ngành và quốc gia như sau: “Năng lực cạnh tranh là khả năng của doanh
nghiệp, ngành, quốc gia trong việc tạo ra việc làm và thu nhập cao hơn trong điều
kiện cạnh tranh quốc tế”.
Trong đề án này muốn đề cập đến năng lực cạnh tranh xem xét trên giác độ
doanh nghiệp vì vậy xin được sử dụng khái niệm về năng lực cạnh tranh trong đề
án như sau: “Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng doanh nghiệp tạo
ra được lợi thế cạnh tranh, có khả năng tạo ra năng suất và chất lượng cao hơn đối
thủ cạnh tranh, chiếm lĩnh thị phần lớn, tạo ra thu nhập cao và phát triển bền
vững”.
1.2.3. Phân loại cạnh tranh:
Dựa vào các căn cứ khác nhau người ta phân ra các loại cạnh tranh chủ yếu
sau:
Theo chủ thể cạnh tranh có cạnh tranh giữa người sản xuất hay người bán,
cạnh tranh giữa người mua với người bán, cạnh tranh giữa người mua với nhau.
Theo mục tiêu kinh tế của các chủ thể trong cạnh tranh có cạnh tranh trong
nội bộ ngành và cạnh tranh giữa các ngành.
Theo hình thái của cạnh tranh có cạnh tranh hoàn hảo và cạnh tranh không
hoàn hảo.
Theo tính chất của phương thức cạnh tranh có thể phân ra hai hình thức là
cạnh tranh lành mạnh và cạnh tranh không lành mạnh
+ Chỉ tiêu lợi nhuận trên toàn bộ vốn kinh doanh (ROI):
Lợi nhuận sau thuế
ROI = —————————————— x 100%
Tổng số vốn sản xuất kinh doanh
Chỉ tiêu này cho thấy cứ 100 đồng vốn bỏ vào sản xuất thì thu được bao nhiêu
đồng lợi nhuận.
+ Chỉ tiêu lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE):
Lợi nhuận sau thuế
ROE = ————————— x 100%
Tổng vốn chủ sở hữu
1.2.4.2 Chỉ tiêu định tính:
- Chất lượng và khả năng cung ứng, mức độ chuyên môn hoá đầu vào: Chất lượng
sản phẩm là một tập hợp thuộc tính tạo ra cho sản phẩm đó có khả năng thoả mãn
nhu cầu đã nêu hoặc tiềm ẩn. Chất lượng là sự đảm bảo vững chắc nhất sự trung
thành của khách hàng. Vì vậy cải tiến chất lượng làm tăng khả năng cạnh tranh
của sản phẩm và thường làm tăng khả năng sinh lời cho công ty.
- Công nghiệp và dịch vụ hỗ trợ
- Nhu cầu đối với sản phẩm, dịch vụ và yêu cầu của khách hàng về chất lượng sản
phầm, dịch vụ
- Mức độ cạnh tranh trên lĩnh vực của doanh nghiệp và vị thế của doanh nghiệp so
với các doanh nghiệp khác
1.3. CÁC CÔNG CỤ CẠNH TRANH CHỦ YẾU:
1.3.1. Cạnh tranh bằng chất lượng sản phẩm:
Trên thị trường nếu có nhiều hàng hoá có công dụng như nhau, giá cả bằng
nhau thì người tiêu dùng sẽ sẵn sàng mua hàng hoá nào có chất lượng cao hơn. Do
đó, đây là công cụ đầu tiên và quan trọng mà các doanh nghiệp sử dụng để thắng
các đối thủ cạnh tranh.
1.3.2. Cạnh tranh bằng giá cả sản phẩm:
thắng trong cạnh tranh, nhà tư bản cũng phải đầu tư ngày càng nhiều tư bản để mở
rộng sản xuất, áp dụng kỹ thuật mới, giảm chi phí sản xuất, năng cao năng suất lao
động. Mà năng suất lao động thì trực tiếp do trình độ kỹ thuật sản xuất, qui mô sản
xuất, và việc gia tăng , mức độ mở rộng sản xuất . Kết quả cạnh tranh làm cho tư
bản, sức lao động không ngừng chuyển dịch từ ngành này ( ngành có lợi nhuận
thấp) sang ngành khác ( có lợi nhuận cao hơn), cạnh tranh cũng phát triển từ cạnh
tranh nội bộ ngành đến cạnh tranh giữa các ngành. Theo đà phát triển và nâng cấp
cạnh tranh thì tài nguyên xã hội, tài nguyên tự nhiên cũng không ngừng được phân
phối lại giữa các ngành khác nhau, không ngừng điều chỉnh và tối ưu hoá kết cấu
ngành, kết cấu sức lao động, qua đó thúc đẩy tập trung hoá sản xuất và tích luỹ tư
bản. Do vậy nâng cao năng lực cạnh tranh sẽ:
- Sử dụng tài nguyên một cách hiệu quả
- Thúc đẩy tập trung hoá sản xuất và tích luỹ vốn
- Góp phần tái cơ cấu thu nhập
- Nâng cao hiệu quả sản xuất, giảm chi phí sản xuất, tăng năng suất lao
động, thúc đẩy sáng tạo...
Thứ hai trong tiến trình tự do hoá thương mại và quá trình hội nhập kinh
tế quốc tế của Việt Nam, các rào cản thương mại dần dần bị cắt giảm và xoá bỏ,
một mặt tạo điều kiện thuận lợi cho việc mở rộng thị trường cho các doanh nghiệp
trong nước ra phạm vi toàn cầu nhưng áp lực cạnh tranh sẽ tăng khi các doanh
nghiệp nước ngoài vào thị trường nội địa ngày càng nhiều buộc các DNNVV phải
tự biến đổi nếu như muốn sống sót trên thị trường.
Thứ ba nâng cao năng lực cạnh tranh các DNNVV sẽ đem về cho đất nước
một lượng ngoại tệ đáng kể để phát triển đất nước, góp phần tăng trưởng kinh tế,
tạo công ăn việc làm cho người lao động, nâng cao mức sống cho nhân dân... đồng
thời còn nâng cao uy tín của hàng Việt Nam, nâng cao uy tín và tạo dựng hình ảnh
của Việt Nam trên thị trường quốc tế.
Cuối cùng DNNVV là trụ cột của kinh tế địa phương: nếu như doanh
14.457
16
0
14.441
2001
19.800
27
0
19.773
2002
21.535
12
59
21.464
2003
46.663
7
902
45.754
2007
58.908
1
8404
50.504
97
9.880
Tổng số
266.323
1 Thành viên
DNDD
Số lượng cơ sở
Siêu nhỏ Nhỏ
Số lượng cơ sở sản xuất kinh doanh (1,000)
lớn Tổng số
Vừa Tổng
2,660
46.7
11 2,718
2.5
2,720
97.8
1.7
0.4 99.9
0.09
100
773
3
Quy mô lao động trung bình
Quy mô trung bình một cơ sở
2.4
Nguồn: Kết quả Tổng điều tra cơ sở kinh tế, hành chính, sự nghiệp năm 2002,
chia theo quy mô như đã dự kiến
Các DNNVV dân doanh thu hút nguồn vốn tiềm ẩn trong dân cư đầu tư
trực tiếp cho kinh doanh. Trong tổng số vốn đầu tư trực tiếp toàn xã hội khu vực
dân doanh chiếm 28,5% và 24,5% về giá trị sản xuất công nghiệp... tính đến năm
2002, đuợc thể hiện qua bảng sau:
Vốn đầu tư toàn xã hội
Đơn vị: tỉ đồng
TT
Khu vực
Tổng số
1995
72.447
1999
131.1707
34.594
38.152
46.500
3
FDI
22.000
22.670
27.173
30.011
34.000
Nguồn: Kết quả Tổng điều tra cơ sở kinh tế, hành chính, sự nghiệp năm 2002,
chia theo quy mô như đã dự kiến
2.2.THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÁC DNNVV
2.2.1. Năng lực quản lý và điều hành:
Theo kết quả điều tra, có 40,6% doanh nghiệp đã áp dụng thành tựu khoa
học kỹ thuật trong quản lý, giảm tối đa biên chế quản lý là 48,4%, tiết kiệm các
chi phí gây lãng phí 73,7%, việc xây dựng và áp dụng hệ thống quản lý chất lượng
theo tiêu chuẩn ISO: 9000 sẽ giúp cho doanh nghiệp chủ động trong việc xây dựng
dạng sản phẩm và đa thương hiệu.
Các doanh nghiệp có quy mô nhỏ và vừa là chủ yếu (xét về tổng thể thì
90% các doanh nghiệp Việt Nam có quy mô nhỏ). Hơn nữa, có quá nhiều doanh
nghiệp cùng hoạt động kinh doanh một mặt hàng trên cùng một thị trường đã dẫn
đến tình trạng năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp giảm sút. Tình trạng các
doanh nghiệp trong nước cạnh tranh với nhau, làm giảm giá một cách không cần
thiết, đặc biệt là với các mặt hàng xuất khẩu đã làm giảm đáng kể năng lực cạnh
tranh của các doanh nghiệp.
Tiềm lực về tài chính (đặc biệt là các doanh nghiệp tư nhân) hầu như rất
hạn chế, vốn đầu tư ban đầu ít, vốn lưu động lại càng ít. Thiếu vốn dẫn đến tình
trạng các doanh nghiệp không có điều kiện để lựa chọn các mặt hàng có chất
lượng cao trong kinh doanh, đầu tư vào đổi mới các thiết bị, công nghệ kinh
doanh.
Nhận thức về tầm quan trọng của kênh phân phối của nhiều doanh nghiệp
còn hạn chế. Phần lớn các doanh nghiệp không xây dựng được mạng lưới phân
phối trực tiếp ở nước ngoài.
Văn hóa doanh nghiệp, văn minh thương mại, hệ thống dịch vụ của các
doanh nghiệp Việt Nam còn thiếu và yếu.
Việc tạo lập thương hiệu sản phẩm và doanh nghiệp còn bị xem nhẹ, chưa
thực sự coi thương hiệu là tài sản của doanh nghiệp. Số lượng doanh nghiệp xây
dựng được hệ thống quản lý chất lượng còn ít.
Khả năng liên doanh liên kết giữa các doanh nghiệp chưa chặt chẽ, điều đó
phần nào làm giảm bớt sức mạnh của cả cộng đồng doanh nghiệp.
Chi phí kinh doanh còn cao, năng lực và bộ máy quản lý điều hành chưa
tốt, cơ cấu tổ chức và cơ chế quản lý của hệ thống doanh nghiệp Nhà nước còn
nhiều bất cập, chưa đáp ứng được yêu cầu đổi mới, công nghệ kinh doanh và khả
năng tiếp cận đổi mới công nghệ kinh doanh còn lạc hậu,...
Môi trường kinh doanh của doanh nghiệp còn chưa hoàn chỉnh, đồng bộ,
nước có nền kinh tế phát triển, vai trò của các hiệp hội chuyên ngành, các câu lạc
bộ... ở nước ta trong việc giao lưu, xúc tiến thương mại, trao đổi thông tin và hỗ
trợ phát triển chuyên môn còn hạn chế, mờ nhạt cả về số lượng, quy mô và nội
dung hoạt động. Vì vậy cần chú trọng hơn nữa việc tổ chức các buổi trao đổi sinh
hoạt, giới thiệu kinh nghiệm trong nước và quốc tế, cập nhật thông tin về ngành và
về hoạt động kinh doanh. Những hoạt động đó tuy đơn giản nhưng rất bổ ích, tạo
điều kiện phát triển và hoàn thiện năng lực của các giám đốc và cán bộ quản lý
kinh doanh.
3.2. Hỗ trợ kỹ thuật và tạo điều kiện cho các DNNVV áp dụng chỉ tiêu đánh
giá chất lượng quốc tế :
Theo đường lời chủ trương của Nhà nước hiện nay tại hầu hết các tỉnh các
doanh nghiệp đều có thể tiếp cận các hoạt động đào tạo và các khoản trợ cấp để
triển khai các chương trình quản lý chất lượng như ISO 9000, HCAAP.v..v... tuy
nhiên các doanh nghiệp vẫn gặp khó khăn trong việc áp dụng Hệ thống tiêu chuẩn
quản lý chất lượng này do thiếu cơ sở vật chất, kỹ năng quản lý và vốn vì vậy
chúng ta cần tăng cường các hoạt động khuyến khích hỗ trợ hỗ trợ tư vấn về thiết
bị, công nghệ mới hiện đại, thích hợp và cung cấp thông tin công nghệ, thị trường
cho các DNNVV, tạo lập và phát triển thị trường công nghệ, tạo điều kiện để các
doah nghiệp này tăng cường cạnh tranh trong sản xuất, chế biến sản phẩm. Chính
phủ cần thành lập một số tổ chức hỗ trợ tư vấn (bằng những hình thức đa dạng)
trong các lĩnh vực, ngành nghề khác nhau, giúp các DNNVV nâng cao năng suất
lao động, hạ giá thành sản phẩm, có thêm một tiềm lực mới trong công cuộc hội
nhập quốc tế. Khó khăn là không thể tránh khỏi, điểm mấu chốt là các doanh
nghiệp vừa và nhỏ cần có một chiến lược "dài hơi" trong sản xuất kinh doanh, từ
đó có điều kiện họ mới mạnh dạn áp dụng hệ thống quản lý chất lượng để nâng
cao chất lượng cho chính mình và xã hội.
Ngoài ra cần sửa đổi chính sách về công nghệ, xây dựng các cơ chế khuyến
khích và tạo dễ dàng cho các doanh nghiệp tiếp cận và áp dụng công nghệ mới, kể