Vai trò của nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với tăng trưởng kinh tế ở các nước đang phát triển - Pdf 30

LỜI NÓI ĐẦU
Một quốc gia, khi nói đến nguyên nhân phát triển không thể không nói đến
đầu tư và các nguồn vốn, trong đó vốn đầu tư trong nước là quyết định, vốn đầu
tư nước ngoài có vai trò quan trọng.
Ngày nay, chúng ta đều biết đến vai trò to lớn của vốn đầu tư đối với sự
tăng trưởng và phát triển kinh tế xã hội. Về nguyên tắc, muốn tích lũy vốn
chúng ta phải tăng cường sản xuất và thực hành tiết kiệm, nhưng ở các quốc gia
đang phát triển (LDCs) lại gặp phải sự hạn chế về nguồn vốn tích lũy nội bộ,
thu hút vốn đầu tư nước ngoài là một cách tạo vốn tích lũy nhanh mà các nước
đi sau có thể làm được. Trong xu thế liên kết và hoà nhập nền kinh tế thế giới
thành một chỉnh thể thống nhất, hầu hết các nước đều tham gia ngày càng tích
cực vào quá trình phân công lao động quốc tế. Đầu tư nước ngoài nói chung và
đầu tư trực tiếp nước ngoài nói riêng là một hoạt động kinh tế đối ngoại có vị trí
và vai trò ngày càng to lớn, nó đã và đang trở thành xu hướng của thời đại, được
nhiều quốc gia sử dụng, đặc biệt là các nước đang phát triển, như một chính sách
kinh tế quan trọng và lâu dài.
Trên cơ sở thực tiễn, Đảng cộng sản Việt Nam đã khẳng định, với thu nhập
bình quân đầu người thấp như hiện nay, sự tụt hậu về kinh tế và thu nhập sẽ
ngày càng gay gắt. Để rút ngắn khoảng cách này, đòi hỏi phải có sự hoạt động
đồng bộ, gắn kết trong tất cả các ngành, các lĩnh vực của nền kinh tế, chuyển
dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Năm 2009, tính
bình quân GDP/đầu người nước ta đạt khoảng 900 USD/người (trong khi Liên
Hợp Quốc quy định GDP/người của một quốc gia dưới 975 USD quốc gia đó
thuộc nhóm quốc gia có thu nhập thấp), thì khả năng tích luỹ vốn từ nội bộ nền
kinh tế nước ta dành cho đầu tư phát triển là hạn hẹp. Do vậy, với nhu cầu vốn
đầu tư cho phát triển trong những năm tới thì nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước
ngoài là một kênh giữ vị trí cực kỳ quan trọng và mang tính chiến lược. Nó là

1





kinh tế ở các nước đang phát triển. Thực trạng đầu tư trực tiếp nước ngoài
ở Việt Nam” làm chủ đề nghiên cứu Kinh tế phát triển, với mong muốn có một
cái nhìn toàn cảnh vai trò của FDI, về thực trạng đầu tư trực tiếp nước ngoài ở
nước ta những năm qua, đánh giá một cách sâu hơn những tác động của
ĐTTTNN đến nền kinh tế và thấy được những vấn đề đang đặt ra đối với hoạt
động đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam, từ đó đề nghị một số giải pháp
nhằm thu hút và sử dụng hiệu quả hơn nguồn vốn ĐTTTNN phục vụ sự nghiệp
phát triển kinh tế của đất nước.

3


CHƯƠNG 1
ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀ VAI TRÒ CỦA VỐN ĐẦU TƯ
TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VỚI TĂNG TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN KINH
TẾ - XÃ HỘI Ở CÁC ĐANG PHÁT TRIỂN
1.1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TĂNG TRƯỞNG VÀ PHÁT

TRIỂN

KINH TẾ
Ngày nay các quốc gia độc lập, có chủ quyền đều đề ra những mục tiêu
phấn đấu cho sự tiến bộ của quốc gia mình. Sự tiến bộ của một đất nước trong
một giai đoạn nào đó thường được đánh giá trên hai mặt sự gia tăng về kinh tế
và sự tăng tiến về mặt xã hội. Trên thực tế người ta dùng hai thuật ngữ tăng
trưởng và phát triển để phản ánh sự tiến bộ đó.
Tăng trưởng kinh tế thường được quan niệm là tăng thêm về mặt lượng của
nền kinh tế trong một thời kỳ. Đó là kết quả của tất cả các hoạt động sản xuất,

thức của đầu tư của tư nhân nước ngoài đầu tư cho sản xuất kinh doanh và dịch
vụ nhằm mục đích thu lợi nhuận. Sự ra đời và phát triển của nó là kết quả tất yếu
của quá trình quốc tế hóa và phân công lao động quốc tế. Trên thực tế có nhiều
cách nhìn nhận khác nhau về đầu tư trực tiếp nước ngoài. Nhìn chung đầu tư
trực tiếp nước ngoài được xem xét như một hoạt động kinh doanh ở đó có yếu tố
di chuyển vốn quốc tế và kèm theo sự di chuyển vốn là chuyển giao công nghệ,
kỹ năng quản lý và cỏc ảnh hưởng kinh tế xã hội khác đối với nước nhận đầu tư.
Theo Luật đầu tư nước ngoài Việt Nam, đầu tư trực tiếp nước ngoài có thể được
hiểu như là việc các tổ chức, các cá nhân nước ngoài trực tiếp đưa vào Việt Nam
vốn bằng tiền hoặc bất cứ tài sản nào được Chính phủ Việt Nam chấp nhận để

5


hợp tác với bên Việt Nam hoặc tự mình tổ chức các hoạt động sản xuất kinh
doanh trên lãnh thổ Việt Nam.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài có một số đặc điểm chủ yếu sau :
- Chủ đầu tư tự quyết định đầu tư, quyết định sản xuất kinh doanh và tự chịu
trách nhiệm về lỗ lãi. Hình thức này mang tính khả thi và hiệu quả kinh tế cao,
không có những ràng buộc về chính trị, không để lại gánh nặng nợ nần cho nền
kinh tế.
- Chủ đầu tư nước ngoài điều hành toàn bộ mọi hoạt động đầu tư nếu là
doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài hoặc tham gia điều hành doanh nghiệp liên
doanh tùy theo tỷ lệ góp vốn của mình.
- Thông qua hình thức này, nước chủ nhà có thể tiếp nhận được công nghệ,
kỹ thuật tiên tiến, học hỏi kinh nghiệm quản lý...là những mục tiêu mà các
hình thức đầu tư khác không giải quyết được.
- Nguồn vốn này không chỉ bao gồm vốn đầu tư ban đầu của chủ đầu tư dưới
hình thức vốn pháp định, nó còn bao gồm cả vốn vay của doanh nghiệp để triển
khai hoặc mở rộng dự án cũng như vốn đầu tư từ nguồn lợi nhuận thu được.

hình thức hấp dẫn để thu hút vốn.
Vào giữa thế kỉ XX, khi việc xuất khẩu tư bản, nhất là FDI phát triển nhanh
chóng, các nhà kinh tế học nổi tiếng như Paul.A.Samuelson và R.Nurkse đều
cho rằng: muốn phát triển kinh tế, các nước đang phát triển phải có biện pháp
thu hút FDI. Trong cuốn kinh tế học (Economics), Pau.A.Samuelson đó lí luận
rằng: các nước đang phát triển (LDCs) có nguồn nhân lực bị hạn chế bởi tuổi thọ
và dân trí thấp, kĩ thuật lạc hậu và gặp trở ngại trong việc kết hợp những nhân tố
đó. Do đó các nước đang phát triển ngày càng khó khăn và lún sâu vào cái
“vòng luẩn quẩn”.

7


Sơ đồ 2- Cái vòng luẩn quẩn của các nước đang phát triển:
Tiết kiệm thấp.
Đầu tư thấp.

Tốc độ tich luỹ
vốn thấp

Thu nhập thấp.

Năng suất lao
động thấp.

Nguồn: P.A.Samuelson & W.D.Nordhaus: Kinh tế học – NXB CTQG
Hà Nội 1997, tập II, trang 655.
Trong cuốn “Những vấn đề chung về hình thành vốn ở LDCs”, R. Nurkse
đã đưa ra các giải pháp để giải quyết vấn đề về vốn. Thông qua việc phân
tích mô hình “vòng luẩn quẩn” nói trên, ông cho rằng: nguyên nhân cơ bản

đang là một mục tiêu được ưu tiên hàng đầu ở nhiều nước trên thế giới, nhất là
đối với các nước đang phát triển, nơi có nhu cầu rất lớn về vốn đầu tư cho phát
triển kinh tế. Chúng ta cùng xem xét những tác động tích cực của FDI tới nền
kinh tế các nước đang phát triển .
• Tạo nguồn vốn bổ sung quan trọng
Trong giai đoạn đầu phát triển kinh tế, các nước đang phát triển đều gặp phải
vấn đề nan giải là thiếu vốn đầu tư do tích lũy nội bộ thấp hoặc không có tích
lũy. Điều đó đó hạn chế đến quy mô đầu tư và đổi mới kỹ thuật gây ra tình trạng
mất cân đối trong xuất nhập khẩu, cán cân thanh toán thường xuyên bị thiếu hụt,

9


đất nước thiếu ngoại tệ. Vốn đầu tư là cơ sở để tạo ra công ăn việc làm trong
nước, đổi mới công nghệ, kỹ thuật, tăng năng suất lao động...từ đó tạo tiền đề để
tăng thu nhập, tăng tích luỹ cho sự phát triển của xã hội. Do đó để có thể phát
triển bắt buộc phải tranh thủ nguồn vốn từ nước ngoài. Nó được coi là “cái kích”
đột phá vào cái vòng luẩn quẩn của nghèo đói, tạo điều kiện cho nền kinh tế cất
cánh.
Việc thu hút FDI có thể giải quyết được khó khăn về khả năng tích lũy
vốn thấp và bù đắp các khoản thiếu hụt ngoại tệ trong cán cân thanh toán,
tức là có thể khắc phục được “lỗ hổng tiết kiệm” và “lỗ hổng thương mại”
như trong lý thuyết “hai lỗ hổng” của Cherery và Strout, bởi vì FDI góp phần
làm tăng khả năng cạnh tranh và mở rộng khả năng xuất khẩu của nước nhận
đầu tư, thu một phần lợi nhuận từ các công ty nước ngoài, thu ngoại tệ từ các
hoạt động dịch vụ phục vụ cho FDI.
Trong hơn 30 năm qua, bằng chính sách năng động và hiệu quả, các nước
Nics đã nhận được hơn 50 tỷ USD - đây là nguồn vốn đặc biệt quan trọng giúp
các nước này trở thành những con rồng của Châu á. Tỷ lệ mà tư bản nước ngoài
đóng góp vào việc xuất khẩu cũng khá lớn đối với những nước đang phát triển

công ăn việc làm đang đặt ra ngày càng bức xúc và do đó những tỷ lệ 54,46%;
23%; 21% số người làm việc cho các xí nghiệp có vốn nước ngoài so với tổng
số người có việc làm của các nước Singapore, Braxin, Mêhicô là những con số
có ý nghĩa rất lớn.
• FDI giúp các nước đang phát triển tiếp thu được công nghệ tiên tiến, học
hỏi được kinh nghiệm quản lý của các nhà đầu tư nước ngoài, nâng cao trình
độ tay nghề cho đội ngũ lao động
Do trình độ phát triển kinh tế xã hội, giáo dục, khoa học kém, các nước
đang phát triển có rất ít khả năng phát triển công nghệ mới, hiện đại và tiên tiến.
Khả năng tự nhập khẩu công nghệ của các nước này cũng rất hạn chế, thường
11


dưới 1% so với GDP. Trong điều kiện đó, phần lớn công nghệ mới, hiện đại có
được ở các nước đang phát triển là đưa từ ngoài vào qua hợp tác đầu tư quốc tế
hoặc viện trợ. Thông qua tiếp nhận FDI, các nước đang phát triển tiếp cận được
công nghệ hiện đại sau đó cải tiến và phát triển thành công nghệ phù hợp với
mình.
Các chủ đầu tư nước ngoài thường tổ chức các lớp đào tạo về quản lý cũng
như kỹ thuật cho cán bộ và công nhân sở tại để thực hiện các chương trình đầu
tư theo dự án. FDI có thể góp phần tăng năng suất các yếu tố sản xuất, thay đổi
cấu thành của sản phẩm, thúc đẩy phát triển các nghề mới, đặc biệt là những
nghề đòi hỏi hàm lượng công nghệ cao, mang lại kinh nghiệm quản lý, kỹ năng
kinh doanh tiên tiến và trình độ tay nghề kỹ thuật cho cán bộ công nhân trong
nước. Đứng về lâu dài, đây là lợi ích căn bản nhất đối với nước nhận đầu tư.
• FDI góp phần cải tiến cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa và đưa
nền kinh tế tham gia phân công lao động quốc tế một cách mạnh mẽ.
Trước hết đầu tư nước ngoài giữ một vai trò hết sức quan trọng trong việc
cải tiến cơ cấu kinh tế. Mặc dù tỷ trọng của đầu tư trực tiếp trong tổng số vốn
đầu tư ở một số nước không cao nhưng nó thường chiếm tỷ trọng lớn trong tổng

thuật từ nước chủ đầu tư sang nước nhận đầu tư, nên song song với việc chuyển
giao công nghệ, tài nguyên ở các nước nhận đầu tư sẽ được sử dụng tiết kiệm và
hiệu quả hơn. Tài nguyên ở đây được hiểu là những chi phí đầu vào (input) của
một doanh nghiệp. Như vậy với những dây chuyền công nghệ hiện đại hơn, chủ
đầu tư sẽ sử dụng ít lao động sống hơn tức là cần ít công nhân hơn nhưng vẫn
đảm bảo cho việc hoạt động sản xuất kinh doanh diễn ra bình thường. Điều này
làm cho chi phí tiền lương của công ty giảm và lợi nhuận tăng lên. Mặt khác,
thông qua vốn FDI, các nguyên nhiên vật liệu trong nước còn được sử dụng hợp
lí, có hiệu quả hơn vì những công nghệ mới đó thay thế cho những công nghệ
lạc hậu trong nước.

13


Không chỉ có vậy, việc chuyển giao bí quyết kĩ thuật còn giúp các doanh
nghiệp hợp lí hoá được đầu vào để tạo được sản phẩm đầu ra tối ưu.
Như vậy, thông qua tất cả các nguồn lực (bao gồm cả nhân lực và tài lực)
được kết hợp một cách tối ưu và do đó, các tài nguyên này được sử dụng tiết
kiệm hơn, hợp lí hơn và có hiệu quả hơn. Cũng nhờ có vốn FDI, chúng ta sử
dụng có hiệu quả những lợi thế trong nước mà nhiều năm qua chưa làm do thiếu
vốn (như khai thác mỏ, khoáng sản...)
FDI đối với Ngân sách Nhà nước.
Các dự án FDI góp phần bổ sung quan trọng cho ngân sách của các quốc
gia. Các nguồn thu này từ các khoản như: cho thuê đất, mặt nước, mặt biển hay
từ các loại thuế doanh thu, thuế lợi tức, thuế xuất nhập khẩu. ở các nước đang
phát triển, do thu hút được vốn FDI, mức đóng góp của các dự án này có xu
hướng tăng lên. ở Trung Quốc, năm 1992, tổng thuế từ các dự án FDI chiếm
4.1% tổng thu thuế, và năm 1995 là 11,2%1 và con số này đang có xu hướng gia
tăng.
2. Những mặt trái của FDI

tiêu thụ sản phẩm ở thị trường trong nước. Thêm vào đó, ở nhiều nước đó cho
phép cổ phần hóa các doanh nghiệp FDI và vì vậy trong nhiều trường hợp lượng
ngoại tệ mà các chủ đầu tư chuyển vào lại chiếm tỷ lệ nhỏ so với lượng vốn họ
huy động từ nội địa. Do vậy cả hai nguồn ngoại tệ làm cải thiện cán cân thanh
toán quốc tế của nước chủ nhà là rất hạn chế. Mặt khác, lượng ngoại tệ dành cho
nhập khảu công nghệ, nguyên liệu và giấy phép sử dụng công nghệ lại rất lớn do
các nước đang phát triển thiếu các yếu tố này.
• Các nhà đầu tư thường tính giá cao hơn mặt bằng quốc tế cho các nhân

tố đầu vào.
Các chủ đầu tư nước ngoài thường tính giá cao cho những nguyên vật liệu,
bán thành phẩm, máy móc thiết bị mà họ nhập vào để thực hiện đầu tư. Điều này
gây ra chi phí sản xuất cao ở nước chủ nhà và nước chủ nhà phải mua hàng hóa
do nhà đầu tư nước ngoài sản xuất với giá cao hơn. Đồng thời, nó còn giúp chủ

15


đầu tư trốn thuế, che giấu lợi nhuận thực. Việc tính giá cao thường xảy ra khi
nước chủ nhà thiếu thông tin, trình độ kiểm soát, quản lý, chuyên môn yếu hoặc
chính sách của Nhà nước còn nhiều khe hở.
• Công nghệ và sản phẩm không phù hợp với các nước đang phát triển
Các nhà đầu tư thường bị buộc tội là đó chuyển giao công nghệ và kỹ thuật
lạc hậu vào nước họ đầu tư. Hầu hết công nghệ chuyển giao cho các nước đang
phát triển là nước công nghệ từ phương Tây với đặc trưng sử dụng nhiều vốn,
tiết kiệm lao động, ít sử dụng nguyên liệu địa phương và gây ô nhiễm môi
trường. Việc chuyển giao công nghệ lạc hậu đó gõy ra nhiều thiệt hại cho nước
nhận đầu tư như là : khó tính giá trị thực của máy móc thiết bị, chất lượng sản
phẩm thấp, chi phí sản xuất cao...Các nhà đầu tư còn bị chỉ trích là sản xuất và
bán những hàng hóa không thích hợp cho các nước kém phát triển, thậm chí đôi

2.1. ĐÁNH GIÁ TỔNG QUAN VỀ FDI TẠI VIỆT NAM
2.1.1. THỰC TRẠNG CẤP GIẤY PHÉP ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI

2.1.1.1. Tình hình chung
Thực hiện đường lối đổi mới kinh tế của Đại hội VI Ban chấp hành Trung
ương Đảng Cộng sản VN năm 1986, nhiều chính sách kinh tế được thay đổi.
Việc hình thành các văn bản pháp lý đó thể chế hoá đường lối đổi mới của
Đảng. Luật đầu tư nước ngoài tại VN được ban hành vào năm 1987 là một trong
những đạo luật khởi đầu cho thời kỳ đổi mới đó tạo môi trường pháp lý thu hút
vốn đầu tư nước ngoài vào VN. Kể từ khi ban hành năm 1987 đến nay, Luật
đầu tư nước ngoài (ĐTNN) đó được sửa đổi, bổ sung 4 lần với các mức độ
khác nhau vào các năm 1990, 1992, 1996, 2000 Trong bối cảnh toàn cầu hóa,
VN ngày càng hội nhập sâu hơn vào nền kinh tế thế giới, để tạo ra một môi
trường kinh doanh bình đẳng giữa các khu vực kinh tế, năm 2005 Quốc hội đã
ban hành Luật đầu tư (có hiệu lực từ ngày 01/7/2006) thay thế Luật đầu tư nước
ngoài và Luật khuyến khích đầu tư trong nước. Luật đầu tư ra đời nhằm cải
thiện môi trường đầu tư, môi trường kinh doanh, tạo sự thống nhất trong hệ
thống pháp luật về đầu tư và tạo "một sân chơi" bình đẳng, không phân biệt đối
xử giữa các nhà đầu tư. Luật đầu tư đó cải thiện môi trường đầu tư bằng việc
đơn giản hoá thủ tục đầu tư, tạo điều kiện thuận lợi để thu hút và sử dụng hiệu
quả các nguồn vốn đầu tư, đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế. Luật đầu tư
năm 2005 đó thể hiện việc phân cấp mạnh cho các địa phương cụ thể là tăng
quyền hạn cho Ủy ban Nhân dân (UBNN) tỉnh và Ban quản lý Khu công
nghiệp, Khu chế xuất, Khu công nghệ cao về cấp giấy chứng nhận đầu tư cũng
như quản lý hoạt động đầu tư và giảm bớt những dự án phải trình Thủ tướng
18


Chính phủ. Thủ tướng Chính phủ chỉ chấp thuận về nguyên tắc đối với một số
dự án quan trọng chưa có trong quy hoạch, hoặc chưa có quy hoạch, những dự

3
4
5
6
7
8
9
10

Nước
Vùng lãnh thổ
Đài Loan
Hàn Quốc
Malaixia
Nhật Bản
Singapore
British Virgin Islands
Mỹ
Hồng Kông
Thái lan
Canada

Số dự án
2.027
2.284
331
1.171
746
446
470


cũng là nguyên nhân làm cho nền kinh tế nước ta phải chịu ảnh hưởng khá
mạnh của cuộc khủng hoảng tiền tệ khu vực Châu Á thời gian vừa qua.
Trong khi đó, nguồn vốn đầu tư từ các nước công nghiệp phát triển khác
như Canada, Mỹ, Anh... còn chiếm tỷ trọng tương đối thấp, chứng tỏ môi
trường đầu tư ở Việt Nam chưa gây được sự chú ý nhiều của các nhà đầu tư
phương Tây và Mỹ.
Mặt khác cho đến nay, trong số các nhà đầu tư nước ngoài vào Việt Nam
thì sự có mặt của các nhà đầu tư thuộc các tập đoàn lớn chưa nhiều (mới có
khoảng 50/500 tập đoàn kinh tế lớn của thế giới có dự án đầu tư tại Việt Nam),
còn lại chủ yếu là các công ty vừa và nhỏ và không ít các nhà môi giới đầu tư.
Các tập đoàn lớn, có năng lực tài chính và công nghệ, chủ yếu là của Hàn Quốc
và Nhật Bản. Còn trong số các nhà đầu tư Châu Á nếu không kể các nhà đầu tư
Nhật Bản và Hàn Quốc thì phần lớn là người Hoa. Đây là đặc điểm rất cần được
chú ý trong việc lựa chọn các đối tác đầu tư sắp tới nhằm làm cho hoạt động
đầu tư trực tiếp nước ngoài theo yêu cầu của công cuộc công nghiệp hóa, hiện
đại hóa của ta đạt hiệu quả hơn.
2.1.1.3. Cơ cấu đầu tư theo vùng lãnh thổ
Với mong muốn hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài góp phần làm
chuyển dịch cơ cấu giữa các vùng kinh tế nên Chính phủ ta đã có những chính
sách khuyến khích, ưu đãi đối với các dự án đầu tư vào “những vùng có điều
kiện kinh tế - xã hội khó khăn, miền núi, vùng sâu, vùng xa”. Tuy vậy, các cấp
độ ưu đãi chưa tương ứng với mức độ chênh lệch về điều kiện giữa các vùng do
đó, vốn nước ngoài vẫn được đầu tư tập trung chủ yếu vào một số địa bàn có
điều kiện thuận lợi về kết cấu hạ tầng và môi trường kinh tế-xã hội. Nói riêng
trong lĩnh vực nông lâm nghiệp, các dự án đầu tư tập trung chủ yếu vào các
vùng Đông Nam Bộ, đồng bằng sông Hồng, đồng bằng sông Cửu Long. Riêng 3
vùng này đó chiếm tới 63,5% số dự án và 70% vốn đầu tư. Trong khi đó, có 15

21

2

Đông Nam Bộ
Đồng Bằng sông Hồng

6560
2654


90.071,14
31.938,82

3

Duyên hải Nam Trung Bộ

388

14.921,66

3.764,73

4
5
6
7

Đông Bắc
Đồng bằng sông Cửu Long
Bắc Trung Bộ

Nguồn : Vụ Quản lý dự án ĐTNN - Bộ KH-ĐT
Qua bảng trên ta thấy rằng hoạt động đầu tư tập trung ở 2 vùng kinh tế lớn
nhất nước: vùng đồng bằng sông Hồng và vùng Đông nam bộ chiếm 85.74%
các dự án, 72,46% vốn đăng ký, 73% vốn thực hiện; các tỉnh phía Bắc và phía
Nam, các tỉnh miền Trung chiếm tỷ lệ rất nhỏ. trong khi vùng Tây Bắc và Tây
Nguyên chiếm chưa đầy 1%. Sự phân bổ FDI cũng chênh lệch rất nhiều giữa
khu vực thành thị và nông thôn. Trên 80% tổng số vốn đầu tư tập trung ở khu
vực thành thị, chỉ còn chưa tới 20% cho khu vực nông thôn, trong khi 80% dân
số Việt Nam sinh sống ở nông thôn, làm cho khoảng cách thu nhập giữa hai khu
vực ngày càng lớn.
Cũng trong thời kỳ này, nếu như hai thành phố lớn là Hà Nội và TP Hồ Chí
Minh đã chiếm tới hơn nửa (50,3%) tổng số vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài của
cả nước thì 10 địa phương có điều kiện thuận lợi cũng chiếm tới 87,8%.Trong
đó: TP Hồ Chí Minh chiếm 26,6% tổng vốn đăng ký của cả nước; Hà Nội:

23


21,15%; Đồng Nai: 12,5%; Bình Dương: 6,4%. Đến nay, phần lớn các tỉnh,
thành phố đều đã có hoạt động hợp tác đầu tư với nước ngoài. Tuy nhiên, trừ
hoạt động thăm dò và khai thác dầu khí ở thềm lục địa, vốn đầu tư tập trung
nhiều vào 3 vùng kinh tế trọng điểm là những nơi có nhiều thuận lợi. Vùng kinh
tế trọng điểm phía Nam, với ưu thế vượt trội về cơ sở hạ tầng, sự thuận lợi về
giao thông thủy, bộ, hàng không và năng động trong kinh doanh là vùng thu hút
được nhiều vốn FDI nhất, 6.560 dự án, chiếm 61,04% tổng số dự án của cả
nước, vốn đầu tư đăng ký đạt 90 tỷ USD, chiếm đến 53% tổng vốn đăng ký cả
nước (tính đến hết năm 2009). Đây cũng là vùng kinh tế sôi động nhất của cả
nước, chiếm đến 66% giá trị doanh thu và 84% giá trị xuất khẩu của khu vực
FDI năm 2009. Vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc là vùng thu hút FDI thứ hai,
với 493 dự án còn hiệu lực chiếm 20,5% về số dự án và 30% tổng vốn đăng ký,

Số dự án

Tổng vốn

Vốn điều lệ

Công nghiệp
CN dầu khí

6.303
48

đầu tư
87.799,74
14.477,84

29.663,82
4.658,84

CN nhẹ
CN nặng
CN thực phẩm
Xây dựng
Nông, lâm nghiệp
Nông-Lâm nghiệp
Thủy sản

2.740
2.602
350

3.332,64
6.254,57

20.059,39
1.347,86
3.475,23

Tài chính-Ngân hàng
Văn hóa-Y tế- GD

250
68

15.411,71
1.057,78

4.465,83
991,35

XD Khu đô thị mới
XD Văn phòng-Căn hộ

294
14

1.758,61
8.224,68

642,86
2.841,81


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status