Website: Email : Tel : 0918.775.368
Lời mở đầu
Trên thế giới, dịch vụ kiểm toán đợc coi là một trong những dịch vụ có tính
chuyên nghiệp cao và có ý nghĩa lớn trong việc tạo lập môi trờng kinh doanh minh
bạch và hiệu quả. Tuy nhiên, ở Việt Nam dịch vụ kiểm toán vẫn còn rất mới mẻ,
mặc dù hoạt động kiểm toán độc lập chỉ mới xuất hiện cách đây hơn 10 năm nhng
do đòi hỏi khách quan của nền kinh tế cũng nh sự khuyến khích phát triển của nhà
nớc, dịch vụ kiểm toán đã phát triển mạnh mẽ ở Việt Nam. Đặc biệt là từ khi Nghị
định số 105 ngày 30/3/2004 của Chính Phủ ra đời đã mở ra một thị trờng to lớn
cho các công ty kiểm toán. Cho tới nay, số lợng các công ty kiểm toán đã tăng lên
đáng kể, các dịch vụ cung cấp không ngừng đa dạng hoá. Cùng với sự phát triển
của dịch vụ kiểm toán, các dịch vụ khác nh dịch vụ định giá tài sản, dịch vụ t vấn
thuế, dịch vụ t vấn tài chính,cũng phát triển theo. Tuy nhiên, kiểm toán tài chính
vẫn đợc xem là một dịch vụ quan trọng hơn cả vì các báo cáo tài chính do các
doanh nghiệp lập ra là đối tợng quan tâm của rất nhiều ngời.
Trong quá trình thực tập tại Công ty Cổ phần Kiểm toán và Định gía Việt
Nam đợc tìm hiểu về chơng trình kiểm toán cũng nh đợc tham gia một số cuộc
kiểm toán do Công ty thực hiện em lựa chọn tìm hiểu đề tài Hoàn thiện chơng
trình kiểm toán các khoản phải thu do Công ty cổ phần Kiểm toán và Định giá
Việt Nam thực hiện. Tuy nhiên, do một số giới hạn về lý luận cũng nh thực tế,
trong phạm vi đề tài này em chỉ đi sâu nghiên cứu chơng trình kiểm toán các
khoản phải thu khách hàng.
Các khoản phải thu là tài sản của doanh nghiệp mà doanh nghiệp sẽ thu lại
đợc trong tơng lai, các khoản phải thu còn ảnh hởng đến khả năng thanh toán của
doanh nghiệp. Mặt khác, thông qua các khoản phải thu của doanh nghiệp chúng ta
có thể phần nào thấy đợc các chính sách tín dụng của doanh nghiệp trong quan hệ
với khoản doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ. Các sai phạm liên quan đến
các khoản phải thu thờng liên quan đến các khoản khác nh doanh thu, tiền, ... Vì
vậy việc hạch toán các khoản phải thu một cách hợp lý là vô cùng quan trọng.
Trong các khoản phải thu của đơn vị, khoản phải thu của khách hàng thờng có số
d và phát sinh lớn và có liên quan chặt chẽ đến doanh thu bán hàng và cung cấp
Phần I: Cơ sở lý luận về kiểm toán các khoản
phải thu trong kiểm toán báo cáo tài chính
2
Website: Email : Tel : 0918.775.368
1. Khái quát về các khoản phải thu
1.1. Khái niệm chung về các khoản phải thu
Theo thông t số 23/2005/TT BTC ngày 30 tháng 03 năm 2005, các
khoản phải thu đợc phân loại thành các khoản phải thu ngắn hạn và các khoản phải
thu dài hạn. Tuy nhiên, về bản chất các khoản phải thu ngắn hạn và dài hạn chỉ
khác nhau về thời gian thu hồi các khoản nợ phải thu còn về nội dung của các
khoản phải thu là giống nhau. Dới đây là định nghĩa về các khoản phải thu nói
chung.
- Các khoản phải thu khách hàng: Các khoản phải thu khách hàng là các
khoản phát sinh trong quá trình bán sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ khi thời điểm
bán hàng và thời điểm thu tiền không cùng một thời điểm. Các khoản phải thu
khách hàng là một loại tài sản của doanh ngiệp bị ngời mua chiếm dụng mà đơn vị
có trách nhiệm phải thu hồi.
- Các khoản ứng trớc cho ngời bán: Là một khoản phải thu của khách
hàng, do đơn vị ứng trớc cho ngời bán để mua hàng hoá, dịch vụ. Các khoản ứng
trớc cho ngời bán có thể đợc xem nh một khoản đặt cọc của đơn vị để có đợc một
sự đảm bảo của ngời bán đối với việc cung cấp hàng hoá, dịch cụ cho đơn vị.
- Các khoản phải thu nội bộ: Các khoản phải thu nội bộ phát sinh trong
đơn vị kinh doanh do có sự phân cấp kinh doanh, quản lý và công tác kế toán. Các
khoản phải thu nội bộ là các khoản công nợ mà doanh nghiệp phải thu ở cấp trên
hoặc ở các đơn vị trực thuộc, phụ thuộc hoặc các đơn vị khác trong một doanh
nghiệp độc lập về các khoản chi hộ, trả hộ, các khoản mà đơn vị cấp dới có nghĩa
vụ nộp lên cấp trên hoặc cấp trên phải cấp cho cấp dới.
- Các khoản phải thu khác: Các khoản phải thu khác bao gồm: tạm ứng
nội bộ, các khoản ký cợc, ký quỹ, và các khoản phải thu khác (số d nợ tài khoản
1388 và số d nợ tài khoản 3388).
Các khoản phải thu khác: Các khoản phải thu khác bao gồm các khoản
phải thu có tính chất phi hàng hoá và vãng lai nh thu tiền phạt, tiền bồi thờng của
ngời phạm lỗi, khoản chi hộ tiền nhà, điện, nớc cho công nhân viên, thu nhập từ
hoạt động tài chính cha nhận đợc, các khoản thu do đơn vị cho vay, mợn vật t hay
tiền vốn tạm thời, các khoản đã ghi vào chi phí nhng cha đợc các cấp có thẩm
quyền phê duyệt phải thu hồi chờ xử lý, các khoản phải thu khác thờng là các
4
Website: Email : Tel : 0918.775.368
khoản mang tính thu hộ và chi hộ của đơn vị. Các khoản phải thu khác ngoài số d
nợ của tài khoản 1388 còn có số d nợ của tài khoản 3388 là các khoản phải thu
của đơn vị do trả thừa trong các nghiệp vụ đợc hạch toán trên tài khoản 3388.
- Phải thu theo tiến độ kế hoạch hợp đồng xây dựng: Là số tiền phải thu
theo doanh thu tơng ứng với phần công việc đã hoàn thành do nhà thầu tự xác
nhận của hợp đồng xây dựng dở dang. Là số tiền mà đơn vị phải thu của khách
hàng theo tiến độ kế hoạch, điều này đuợc quy định rõ trong hợp đồng. Khoản
phải thu này chỉ có đối với các đơn vị có hoạt động trong lĩnh vực xây dựng cơ bản.
- Các khoản thuế giá trị gia tăng (GTGT) đợc khấu trừ: Thuế giá trị gia
tăng đợc khấu trừ là thuế tính trên khoản giá trị tăng thêm của hàng hoá dịch vụ
mua vào phục vụ cho sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Thuế GTGT đợc
khấu trừ là số tiền mà doanh nghiệp đã nộp cho nhà nớc thông qua ngời bán khi
mua vật t hàng hoá, dịch vụ, tài sản cố định.
- Các khoản dự phòng phải thu khó đòi: Dự phòng phải thu khó đòi thực
chất là việc ghi nhận trớc một khoản chi phí thực tế cha thực chi vào chi phí kinh
doanh của niên độ báo cáo để có nguồn tài chính cần thiết bù đắp những thiệt hại
có thể xảy ra trong niên độ liền sau. Dự phòng phải thu khó đòi là việc dự phòng
đối với phần giá trị bị tổn thất của các khoản nợ phải thu quá hạn thanh toán hay
các khoản phải thu cha quá hạn nhng có thể không thu hồi đợc.
Theo thông t số 23/2005/ TT BTC, các khoản phải thu ngắn hạn là một
chỉ tiêu tổng hợp phản ánh toàn bộ giá trị của của các khoản phải thu khách hàng,
khoản trả trớc cho ngời bán, phải thu nội bộ, phải thu theo tiến độ kế hoạch hợp
hai năm.
70% giá trị đối với các khoản phải thu đã quá hạn từ hai năm đến dới ba
năm.
Đối với các khoản phải thu quá hạn từ ba năm trở lên coi nh nợ không có
khả năng thu hồi.
Bản chất của các khoản dự phòng phải thu khó đòi là làm tăng chi phí quản
lý doanh nghiệp trong kỳ lập dự phòng, do đó làm giảm lợi nhuận của kỳ báo cáo.
Vì vậy, để lập dự phòng và ghi nhận vào chi phí của niên độ báo cáo, doanh
nghiêp cần phải tuân thủ nghiêm ngặt những điều khoản quy định của chế độ tài
6
Website: Email : Tel : 0918.775.368
chính hiện hành về những điều kiện để lập dự phòng phải thu khó đòi. Các doanh
nghiệp cần lập dự phòng cho các khoản phải thu để đề phòng nợ phải thu thất thu
khi khách hàng không có khả năng trả nợ và nhằm xác định giá trị thực của một
khoản tiền nợ phải thu.
1.3. Nguyên tắc ghi nhận khoản phải thu khách hàng
Mặc dù khoản phải thu khách hàng đợc phân thành khoản phải thu ngắn hạn
và các khoản phải thu dài hạn nhng các khoản phải thu này vẫn đợc theo dõi trên
cùng một tài khoản, chỉ chi tiết cho từng đối tợng phải thu, đến cuối kỳ kế toán, kế
toán viên căn cứ vào hợp đồng và các chứng từ có liên quan để phân chia thành
khoản phải thu khách hàng ngắn hạn và khoản phải thu khách hàng dài hạn trên
Báo cáo tài chính của đơn vị, do đó khi hạch toán khoản phải thu khách hàng vẫn
phải tuân thủ các nguyên tắc sau:
- Nguyên tắc hạch toán các khoản phải thu khách hàng.
Khi theo dõi và hạch toán các khoản phải thu phải chi tiết khoản phải thu
theo từng đối tợng cụ thể, không đợc phép bù trừ các khoản công nợ phải thu phải
trả giữa các đối tợng khác nhau (trừ khi có sự thoả thuận giữa các đối tợng với
doanh nghiệp).
Phải tổng hợp tình hình thanh toán với ngời mua theo tính chất nợ phải thu
hay nợ phải trả trớc khi lập báo cáo kế toán.
trong chế độ tài chính hiện hành. Dự phòng và hoàn nhập dự phòng nợ phải thu
khó đòi đợc ghi vào chi phí quản lý doanh nghiệp.
Đơn vị có thể lập dự phòng theo các cách khác nhau. Tuy nhiên, tổng mức
dự phòng các khoản nợ phải thu khó đòi đợc lập không đợc vợt quá 20% tổng số
d nợ phải thu của doanh nghiệp tại thời điểm lập báo cáo tài chính năm.
Cách 1: Doanh nghiệp có thể ớc tính một tỷ lệ nhất (theo kinh nghiệm)
trên tổng doanh số thực hiện bán chịu.
Số dự phòng phải lập = Doanh số phải thu x Tỷ lệ ớc tính
Cách 2: Dựa trên tài liệu hạch toán chi tiết các khoản nợ phải thu của
từng khách hàng, phân loại theo thời hạn thu nợ, các khách hàng quá hạn đợc xếp
loại khách hàng khó đòi, nghi ngờ. Doanh nghiệp cần thông báo cho khách hàng
và trên cơ sở thông tin phản hồi từ khách hàng, kể cả bằng phơng pháp xác minh, để
xác định số dự phòng cần lập theo số % có khả năng mất (thất thu):
Dự phòng phải thu = Nợ phải thu x Số % có khả
8
Website: Email : Tel : 0918.775.368
khó đòi cần lập khó đòi năng mất
Các quy định để nhận biết một khách hàng là khó đòi:
Các quy định để nhận biết một khách hàng là khó:
Nợ phải thu của khách hàng đó đã quá hạn thanh toán từ 2 năm trở lên,
kể từ ngày khách hàng ký nhận nợ trên chứng từ vay nợ (hợp đồng kinh tế, khế ớc
vay nợ hoặc các cam kết nợ ...).
Trong trờng hợp đặc biệt, tuy nợ cha quá hạn trong thời gian quy định là
2 năm, nhng ngời nhận nợ đã trong tình trạng chờ giải thể, phá sản hoặc đang bị
cơ quan pháp luật giam giữ, xét xử, trốn nợ...
Tuy nhiên, theo thông t số 13/2006/TT BTC, ngày 27/02/2006 của bộ tài
chính quy định về dự phòng các khoản phải thu khó đòi đã có sự thay đổi đối với
việc quy định về các khoản phải thu khó đòi nh sau:
Nợ phải thu đã quá hạn thanh toán ghi trên hợp đồng kinh tế, các khế ớc vay
nợ hoặc các cam kết nợ khác.
Tr×nh tù h¹ch to¸n dù phßng ph¶i thu khã ®ßi.
Sơ đồ hạch toán dự phòng phải thu khó đòi
11
Trích lập dự phòng
TK 139
Xóa nợ khoản phải thu
không thu hồi được
TK 131
TK 642
Hoàn nhập dự phòng
TK 642
Bán chịu
hàng hóa, dịch vụ
TK 511
TK 131
TK 33311
TK 111, 112
Khách hàng thanh toán nợ,
TK 521,531,532
Chiết khấu thương
mại, giảm giá hàng
bán, hàng bán trả lại
Hgia
TK 33311
TK 139, 642
Xóa khoản nợ
không thu hồi được
TK 635
Chªnh lÖch do ®¸nh gi¸
Các khoản phải thu phải đợc phân loại và trình bày đúng đắn (mục tiêu
phân loại và trình bày các khoản phải thu): Các khoản phải thu đều đợc phân loại
đúng đắn, hơn nữa tất cả các vấn đề liên quan đến các khoản phải thu đều đợc
thuyết minh đầy đủ.
12
Website: Email : Tel : 0918.775.368
2.2. Quy trình thực hiện kiểm toán các khoản phải thu
2.2.1. Lập kế hoạch kiểm toán
2.2.1.1. Chuẩn bị cho kế hoạch kiểm toán
Quy trình kiểm toán đợc bắt đầu khi kiểm toán viên và công ty kiểm toán
thu nhận một khách hàng. Thu nhận khách hàng là một quá trình gồm 2 bớc: Thứ
nhất, phải có sự liên lạc giữa kiểm toán viên với khách hàng tiềm năng mà khách
hàng này yêu cầu đợc kiểm toán và khi có yêu cầu kiểm toán, kiểm toán viên phải
đánh giá liệu có chấp nhận yêu cầu đó hay không. Còn đối với những khách hàng
hiện tại, kiểm toán viên phải quyết định liệu có tiếp tục kiểm toán hay không?
Trên cơ sở đã xác định đợc đối tợng khách hàng có thể phục vụ trong tơng lai,
công ty kiểm toán sẽ tiến hành các công việc cần thiết để chuẩn bị lập kế hoạch
kiểm toán.
Đánh giá khả năng chấp nhận kiểm toán
Kiểm toán viên phải đánh giá xem việc chấp nhận một khách hàng mới hay
tiếp tục kiểm toán cho một khách hàng cũ có làm tăng rủi ro cho hoạt động của
kiểm toán viên hay làm hại đến uy tín của công ty kiểm toán hay không? Để đánh
giá khả năng chấp nhận kiểm toán kiểm toán viên cần làm các công việc sau đây:
- Xem xét hệ thống kiểm soát chất lợng:
Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 220 (VSA 220) Kiểm soát chất lợng
đối với việc thực hiện một hợp đồng kiểm toán, cho rằng: Để đa ra quyết định
chấp nhận hay giữ một khách hàng thì Công ty kiểm toán phải xem xét tính độc
lập của kiểm toán viên, khản năng phục vụ tốt khách hàng của Công ty kiểm toán
và tính liêm chính của Ban Giám đốc khách hàng.
- Tính liêm chính của Ban Giám đốc Công ty khách hàng
phải đợc sự chấp thuận của đơn vị khách hàng.
Đối với những khách hàng mà trớc đây cha từng đợc công ty kiểm toán nào
kiểm toán thì để có thông tin về khách hàng, kiểm toán viên có thể thu thập các
thông tin này qua sách báo, tạp chí chuyên ngành, các bên có liên quan nh ngân
hàng,... Cách thu thập này cũng có thể sử dụng trong trờng hợp khách hàng trớc
đây đã đợc kiểm toán bởi một Công ty kiểm toán, nhng khách hàng không đồng ý
cho kiểm toán viên mới tiếp xúc với các kiểm toán viên cũ hoặc do trớc đây có
14
Website: Email : Tel : 0918.775.368
những bất đồng nghiêm trọng giữa hai bên nên kiểm toán viên cũ không cung cấp
đủ các thông tin cần thiết.
Đối với khách hàng cũ, hàng năm kiểm toán viên phải cập nhật các thông
tin về khách hàng và đánh giá xem liệu có rủi ro nào khiến kiểm toán viên phải
ngừng cung cấp các dịch vụ kiểm toán cho họ hay không. Kiểm toán viên có thể
ngừng cung cấp các dịch vụ kiểm toán cho khách hàng trong trờng hợp hai bên có
những mâu thuẫn về các vấn đề nh: Phạm vi thích hợp của cuộc kiểm toán, loại
báo cáo kiểm toán phải công bố, tiền thù lao hoặc giữa hai bên có những vụ kiện
tụng hay trong trờng hợp kiểm toán viên cho rằng Ban Giám đốc thiếu liêm
chính,... Từ những thông tin thu thập đợc kiểm toán viên có thể đánh giá đợc khả
năng tiếp tục cung cấp dịch vụ kiểm toán cho khách hàng.
Ngoài các yếu tố trên ảnh hởng tới khả năng chấp nhận kiểm toán, kiểm
toán viên còn cần cân nhắc tới khả năng có thể kiểm toán của khách hàng, đây là
nhân tố quan trọng nhất để đánh giá việc chấp nhận kiểm toán. Khả năng có thể
kiểm toán đợc xác định theo một vài yếu tố, chẳng hạn tính thận trọng nghề
nghiệp đòi hỏi kiểm toán viên phải đánh giá tính liêm chính của Ban Giám đốc
khách hàng và hệ thống kế toán của khách hàng. Hệ thống kế toán của khách hàng
phải cung cấp đầy đủ bằng chứng chứng minh cho nghiệp vụ đã phát sinh và đảm
bảo rằng tất cả các nghiệp vụ cần đợc ghi chép thì thực tế đã đợc ghi lại. Những
nghi ngờ về hệ thống kế toán có thể làm cho kiểm toán viên kết luận rằng khó có
thể có bằng chứng tin cậy và đầy đủ để làm căn cứ cho ý kiến của kiểm toán viên
thành thạo nh một kiểm toán viên. Việc lựa chọn này đợc yêu cầu trên cơ sở số
ngời , trình độ khả năng và yêu cầu chuyên môn kỹ thuật, việc lựa chọn này thờng
do Ban Giám đốc Công ty kiểm toán trực tiếp chỉ đạo.
Trong quá trình lựa chọn đội ngũ nhân viên thực hiện kiểm toán, Công ty
kiểm toán cần quan tâm tới các vấn đề sau:
Thứ nhất: Nhóm kiểm toán phải có những ngời có khả năng giám sát một
cách thích đáng các nhân viên mới và cha có nhiều kinh nghiệm.
Thứ hai: Công ty kiểm toán cần tránh thay đổi kiểm toán viên trong các
cuộc kiểm toán cho một khách hàng trong nhiều năm. Việc tham gia kiểm toán
cho một khách hàng trong nhiều năm có thể giúp cho kiểm toán viên tích luỹ đợc
16
Website: Email : Tel : 0918.775.368
nhiều kinh nghiệm cũng nh có nhiều hiểu biết về ngành nghề kinh doanh của
khách hàng đang đợc kiểm toán.
Thứ ba: Khi phân công kiểm toán viên thực hiện cuộc kiểm toán cần chú ý
lựa chọn các kiểm toán viên có những hiểu biết và kinh nghiệm về ngành nghề
kinh doanh của khách hàng.
Việc lựa chọn đội ngũ nhân viên thực hiện cuộc kiểm toán có vai trò quan
trọng, góp phần giúp Công ty kiểm toán thực hiện cuộc kiểm toán có chất lợng và
đạt hiệu quả cao.
Hợp đồng kiểm toán
Khi đã chấp nhận cuộc kiểm toán cho khách hàng và xem xét các vấn đề
nêu trên, bớc cuối cùng trong giai đoạn chuẩn bị lập kế hoạch kiểm toán mà Công
ty kiểm toán phải thực hiện là việc ký hợp đồng kiểm toán. Đây là sự thoả thuận
chính thức giữa Công ty kiểm toán và công ty khách hàng về việc thực hiện dịch
vụ kiểm toán và các dịch vụ khác có liên quan. ở một số nớc, thoả thuận giữa bên
cung cấp dịch vụ kiểm toán và bên sử dụng dịch vụ kiểm toán có thể đợc thực hiện
thông qua th hẹn kiểm toán. Th hẹn kiểm toán thờng do kiểm toán viên soạn và
gửi cho khách hàng. ở nớc ta hiện nay, Công ty kiểm toán và khách hàng thờng
gặp trực tiếp, thoả thuận các hợp đồng và ký một hợp đồng kiểm toán. Hợp đồng
hoạch kiểm toán. Cũng trong giai đoạn này kiểm toán viên đánh giá khả năng có
những sai sót trọng yếu, đa ra đánh giá ban đầu về mức trọng yếu và sử dụng các
thủ tục phân tích để xác định thời gian cần thiết để thực hiện kiểm toán và việc mở
rộng các thủ tục kiểm toán khác.
Tìm hiểu về ngành nghề và hoạt động kinh doanh của khách hàng
Theo VSA 300 Kế hoạch kiểm toán, kiểm toán viên phải tìm hiểu về
ngành nghề và hoạt động kinh doanh của khách hàng. Cũng trong VSA 310
Hiểu biết về tình hình kinh doanh, để thực hiện kiểm toán báo cáo tài chính, kiểm
toán viên phải có hiểu biết về tình hình kinh doanh của khách hàng đủ để nhận
thức và xác định các dữ kiện, nghiệp vụ để thực tiễn của đơn vị đợc kiểm toán mà
theo đánh giá của kiểm toán viên, chúng có thể làm ảnh hởng trọng yếu đến Báo
cáo tài chính, đến việc kiểm tra của kiểm toán viên hoặc đến Báo cáo kiểm toán.
Điều này rất cần thiết khi kiểm toán viên thực hiện kiểm toán với tính thận trọng
nghề nghiệp đúng mức do mỗi ngành nghề sản xuất kinh doanh có những hệ thống
18
Website: Email : Tel : 0918.775.368
kế toán riêng và áp dụng những nguyên tắc kế toán đặc thù. Thêm vào đó, tầm
quan trọng của mỗi nguyên tắc kế toán cũng thay đổi theo ngành nghề kinh doanh
của khách hàng.
Những hiểu biết về ngành nghề kinh doanh bao gồm những hiểu biết chung
về nền kinh tế, lĩnh vực hoạt động của đơn vị và sự hiểu biết cụ thể hơn về tổ chức
và hoạt động của đơn vị kiểm toán. Ngoài ra kiểm toán viên còn phải hiểu những
khía cạnh đặc thù của một tổ chức, cụ thể nh: cơ cấu tổ chức, dây chuyền và các
dịch vụ sản xuất, cơ cấu vốn, chức năng và nhiệm vụ của hệ thống kiểm toán nội
bộ và một số vấn đề khác để hiểu rõ các sự kiện, các nghiệp vụ và các hoạt động
có thể có tác động đến Báo cáo tài chính và để thực hiện quá trình so sánh khách
hàng này với các đơn vị khác trong ngành nghề, lĩnh vực sản xuất kinh doanh đó.
Kiểm toán viên có thể có đợc những hiểu biết này bằng nhiều cách nhng ph-
ơng pháp thờng đợc sử dụng nhiều nhất là trao đổi với các kiểm toán viên, những
ngời đã tiến hành kiểm toán cho khách hàng những năm trớc hoặc đã kiểm toán
Nhận diện các bên có liên quan
Cũng trong giai đoạn lập kế hoạch này, kiểm toán viên cần nhận diện tất cả
các bên có liên quan đến với khách hàng. Theo VSA 550 Các bên hữu quan,
các bên hữu quan là các bộ phận trực thuộc, các chủ sở hữu chính thức của công ty
khách hàng hay bất kỳ công ty chi nhánh , một cá nhân hay một tổ chức nào mà
công ty khách hàng có quan hệ mà các cá nhân hay tổ chức đó có khả năng điều
hành, kiểm soát hoặc có ảnh hởng đáng kể tới các chính sách kinh doanh hoặc
chính sách quản trị của công ty khách hàng.
Theo các nguyên tắc kế toán đã đợc thừa nhận, mối quan hệ của Công ty
khách hàng với các bên có liên quan phải đợc thể hiện trên các sổ sách, báo cáo và
qua mô tả các nghiệp vụ kinh tế. Vì thế, các bên có liên quan và các nghiệp vụ
giữa các bên có liên quan có ảnh hởng lớn đến sự nhận định của ngời sử dụng Báo
cáo tài chính, bởi vậy kiểm toán viên phải xác định các bên có liên quan và nhận
định sơ bộ về mối quan hệ này ngay trong giai đoạn lập kế hoạch thông qua phỏng
vấn Ban Giám đốc, xem xét sổ theo dõi cổ đông, sổ theo dõi khách hàng, nhà cung
cấp...từ đó có thể dự đoán các vấn đề có thể phát sinh giữa các bên có liên quan để
thiết lập một kế hoạch kiểm toán phù hợp nhất.
20
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Dự kiến nhu cầu về các chuyên gia bên ngoài
Nếu Công ty kiểm toán cho rằng trong nhóm kiểm toán không ai có chuyên
môn, khả năng về lĩnh vực nào đó để thực hiện các thủ tục kiểm toán cần thiết nh
khi đánh giá về các tác phẩm nghệ thuật, vàng bạc đá quý, hoặc khi cần t vấn pháp
lý về các hợp đồng ... khi đó công ty kiểm toán có thể quyết định về việc sử dụng
các chuyên gia bên ngoài.
Theo VSA 620 Sử dụng t liệu chuyên gia, kiểm toán viên phải đánh giá
khả năng chuyên môn, hiểu phạm vi và mục đích công việc của họ cũng nh sự phù
hợp của việc sử dụng t liệu đó cho các mục tiêu đã định. Kiểm toán viên cần xem
xét mối quan hệ của chuyên gia với khách hàng, và các yếu tố có thể làm ảnh h-
ởng tới tính khách quan của các chuyên gia đó.
Trớc khi cuộc kiểm toán hoàn thành, kiểm toán viên phải kiểm tra, đối
chiếu các kết quả thu đợc trong quá trình kiểm toán với các quyết định đa ra trong
cuộc họp để đảm bảo là Ban Giám đốc đã tuân thủ các biện pháp đã đợc Hội đồng
quản trị và các cổ đông đề ra và yêu cầu Ban Giám đốc cung cấp th giải trình trong
đó cam kết đã gửi đầy đủ các biên bản của các cuộc họp trên cho kiểm toán viên.
Các hợp đồng và cam kết quan trọng
Các hợp đồng và cam kết quan trọng nh: hợp đồng mua, hợp đồng bán... là
mối quan tâm hàng đầu trong một số phần hành quan trọng của cuộc kiểm toán và
đặc biệt là trong suốt giai đoạn khảo sát chi tiêt. Trong giai đoạn này, việc xem xét
sơ bộ các hợp đồng đó sẽ giúp kiểm toán viên tiếp cận với các hoạt động chính của
khách hàng, hình dung những khía cạnh pháp lý có ảnh hởng đến tình hình tài
chính và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty khách hàng.
2.2.1.4. Thực hiện các thủ tục phân tích
Theo VSA 520, thủ tục phận tích là việc phân tích các số liệu, thông tin, các
tỷ suất quan trọng, qua đó tìm ra những xu hớng biến động và tìm ra những mối
quan hệ có mâu thuẫn với các thông tin có liên quan khác hoặc có sự chênh lệch
lớn so với giá trị đã dự kiến. Theo chuẩn mực kiểm toán hiện hành, các thủ tục
phân tích đợc áp dụng cho tất cả các cuộc kiểm toán và chúng thờng đợc thực hiện
trong tất cả các giai đoạn của cuộc kiểm toán. Trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm
toán, sau khi đã thu thập đợc các thông tin cơ sở và thông tin về ngĩa vụ pháp lý
của khách hàng, kiểm toán viên tiến hành thủ tục phân tích đối với các thông tin
22
Website: Email : Tel : 0918.775.368
đó để hỗ trợ cho việc lập kế hoạch về bản chất, thời gian và nội dung các thủ tục
kiểm toán sẽ đợc sử dụng để thu thập bằng chứng kiểm toán. Các thủ tục phân tích
sử dụng cho việc lập kế hoạch kiểm toán nhằm vào các mục tiêu sau:
Thu thập những hiểu biết về nội dung các Báo cáo tài chính và những biến
đổi quan trọng về kế toán và hoạt động kinh doanh của khách hàng vừa mới diễn
ra kể từ lần trớc kiểm toán.
Tăng cờng sự hiểu biết của kiểm toán viên về hoạt động kinh doanh của
Phân tích cơ cấu nợ phải thu ngắn hạn trong tổng số nợ phải thu của doanh
nghiệp để xem xét các khoản thu hồi trong thời gian gần của khách hàng, điều này
cũng ảnh hởng tới khả năng thanh toán của khách hàng.
Phân tích tỷ suất số vòng thu hồi nợ phải thu trong kỳ kế toán để xem xét
các chính sách tín dụng mà công ty áp dụng nhằm thu hồi nợ nhanh có hiệu quả
hay không.
2.2.1.5. Đánh giá tính trọng yếu và rủi ro
ở các bớc trên, kiểm toán viên mới chỉ thu thập đợc các thông tin mang tính
khách quan về khách hàng thì ở bớc này kiểm toán viên sẽ căn cứ vào thông tin đã
thu thập đợc để đánh giá, nhận xét nhằm đa ra một kế hoạch kiểm toán phù hợp.
Đánh giá tính trọng yếu
Trọng yếu là khái niệm về qui mô và bản chất của các sai phạm (kể cả bỏ
sót) của các thông tin tài chính hoặc là đơn lẻ hoặc là từng nhóm mà trong bối
cảnh cụ thể nếu dựa vào các thông tin này để xét đoán thì không thể chính xác
hoặc sẽ rút ra các kết luận sai lầm.
Trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán viên phải đánh giá mức độ trọng
yếu để ớc tính mức độ sai sót của Báo cáo tài chính có thể chấp nhận đợc, xác định
phạm vi của cuộc kiểm toán và đánh giá ảnh hởng của các sai sót lên Báo cáo tài
chính để qua đó xác định bản chất, thời gian và phạm vi thực hiện các thủ tục
kiểm toán. ở đây kiểm toán viên cần đánh giá mức trọng yếu cho toàn bộ Báo cáo
tài chính và phân bổ cho từng khoản mục trên Báo cáo tài chính.
- ớc lợng ban đầu về tính trọng yếu
Mức ớc lợng ban đầu về tính trọng yếu là lợng tối đa mà kiểm toán viên tin
rằng ở mức đó các Báo cáo tài chính còn có các sai phạm nhng cha ảnh hởng tới
24
Website: Email : Tel : 0918.775.368
các quyết định của ngời sử dụng thông tin tài chính, hay đó chính là các sai sót có
thể chấp nhận đợc đối với toàn bộ Báo cáo tài chính.
ớc lợng ban đầu về tính trọng yếu giúp cho kiểm toán viên lập kế hoạch cho
việc thu thập bằng chứng kiểm toán một cách thích hợp. Cụ thể là, nếu các kiểm