bảo hộ công dân trong luật quốc tế và pháp luật việt nammột số vấn đề lí luận và thực tiễn - Pdf 30

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT


LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
NIÊN KHÓA: 2011-2015
Đề tài:
BẢO HỘ CÔNG DÂN TRONG LUẬT QUỐC TẾ VÀ PHÁP LUẬT VIỆT
NAM-MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

Giảng viên hướng dẫn

Sinh viên thực hiện

Ths.NGUYỄN TỐNG NGỌC NHƯ

NGUYỄN VĂN NHẨN

Bộ môn Luật Thương Mại

MSSV: 5115738
Lớp Luật Tư Pháp 1 K37

Cần Thơ, tháng 12/2014


NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG PHẢN BIỆN

.......................................................................................................................................................................
.......................................................................................................................................................................
.......................................................................................................................................................................

.......................................................................................................................................................................
.......................................................................................................................................................................
.......................................................................................................................................................................
.......................................................................................................................................................................
.......................................................................................................................................................................
.......................................................................................................................................................................
.......................................................................................................................................................................
.......................................................................................................................................................................
.......................................................................................................................................................................
.......................................................................................................................................................................
.......................................................................................................................................................................
.......................................................................................................................................................................
.......................................................................................................................................................................
.......................................................................................................................................................................
.......................................................................................................................................................................

Cần thơ, ngày tháng năm 2014


MỤC LỤC

Trang

LỜI NÓI ĐẦU .................................................................................................................... 1
CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ VẤN ĐỀ BẢO HỘ CÔNG DÂN ................ 3
1.1.

Các khái niệm có liên quan ................................................................................. 3

1.1.1. Khái niệm về công dân .................................................................................... 3

ĐỀ BẢO HỘ CÔNG DÂN TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM .................................. 26
2.1. Bảo hộ công dân được quy định trong pháp luật quốc tế .............................. 26
2.1.1. Hiến chương Liên hợp quốc năm 1945 ......................................................... 26
2.1.2. Công ước Viên về quan hệ ngoại giao năm1961 .......................................... 26
2.1.3. Công ước Viên về quan hệ lãnh sự năm 1963............................................... 29
2.1.4. Công ước quốc tế về bảo vệ quyền của người lao động di trú và các thành
viên gia đình họ năm 1990 ........................................................................................ 311
2.2. Pháp luật Việt Nam về vấn đề bảo hộ công dân ............................................ 344
2.2.1. Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 ............. 344
2.2.2. Luật quốc tịch Việt Nam năm 2008 ............................................................. 355
2.2.3. Luật Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài năm 2009 ......................... 399
2.3. Thực tiễn bảo hộ công dân của một số quốc gia trên thế giới và Việt Nam . 41
2.3.1. Hoạt động bảo hộ công dân trên thế giới ..................................................... 41


2.3.1.1. Hoạt động bảo hộ công dân của Mỹ ............................................................. 41
2.3.1.2. Hoạt động bảo hộ công dân của Đài Loan ................................................... 42
2.3.2. Hoạt động bảo hộ công dân của Việt Nam ................................................... 44
2.4. Những tồn tại trong quá trình thực hiện hoạt động bảo hộ công dân và giải
pháp đề xuất.................................................................................................................. 45
2.4.1.

Những thuận lợi trong quá trình thực hiện hoạt động bảo hộ công dân ...... 45

2.4.2. Những khó khăn trong quá trình thực hiện hoạt động bảo hộ công dân ...... 46
2.4.3. Giải pháp, kiến nghị ...................................................................................... 47
KẾT LUẬN ...................................................................................................................... 48


Bảo hộ công dân trong luật quốc tế và pháp luật Việt Nam-một số vấn đề lí luận và thực tiễn

mình.
2. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu những cơ sở lí luận và thực tiễn trong luật quốc tế và pháp luật Việt Nam
về vấn đề bảo hộ công dân từ đó đề xuất một số giải pháp để nâng cao công tác bảo hộ
công dân. Trên cơ sở những giải pháp kiến nghị đó người viết hy vọng công tác bảo hộ
công dân của các quốc gia trên thế giới và Việt Nam ngày càng đạt hiệu quả cao hơn.

GVHD:Ths.Nguyễn Tống Ngọc Như

1

SVTH: Nguyễn Văn Nhẩn


Bảo hộ công dân trong luật quốc tế và pháp luật Việt Nam-một số vấn đề lí luận và thực tiễn

3. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài bảo hộ công dân là một đề tài rất rộng, vì trên thực tế có rất nhiều vấn đề liên quan
đến hoạt động bảo hộ công dân. Chẳng hạn bảo hộ cho người lao động di trú, bảo hộ
trong trường hợp công dân bị bắt giữ ở nước ngoài...Tuy nhiên, trong phạm vi bài luận
này, người viết chỉ tập trung phân tích những vấn đề lí luận của pháp luật quốc tế và pháp
luật Việt Nam về bảo hộ công dân trong một số văn bản như: Hiến chương Liên hợp quốc
năm 1945, Công ước Viên về Quan hệ ngoại giao năm1961, Công ước Viên về Quan hệ
lãnh sự năm 1963, Công ước quốc tế về Bảo vệ quyền của người lao động di trú và các
thành viên gia đình họ năm 1990, Hiến pháp Việt Nam 2013, Luật Quốc tịch Việt Nam
năm 2008, Luật Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài năm 2009. Đồng thời tìm hiểu
thực tế một số trường hợp bảo hộ công dân trên thế giới và Việt Nam.
4. Phương pháp nghiên cứu
Để làm sáng tỏ nội dung của đề tài và đưa ra kiến nghị giải pháp về bảo hộ công dân,
người viết đã sử dụng các biện pháp như so sánh, phân tích, tổng hợp nhằm làm sáng tỏ

pháo đài và các thành thị, những người hoạt động sản xuất thủ công và buôn bán trong
các phường hội1 .
Như vậy, trong thời kì này một thể nhân được xem là công dân của một quốc gia khi
người đó sống trong lãnh thổ của quốc gia và tham gia các hoạt động sản xuất thủ công
để tạo ra những sản phẩm phục vụ cho cuộc sống, họ phải tuân theo những luật lệ mà
quốc gia đó đặt ra. Bên cạnh đó, địa vị của công dân trong thời kì này cũng không được
bình đẳng với nhau, những công dân sống trong các pháo đài hay thành thị thường có địa
vị cao hơn những người không sống trong đó và được nhà nước bảo vệ tốt hơn. Hơn nữa,
hầu như không có một cơ chế nào khác để xác định một người là công dân của quốc gia
ngoài những đặc điểm nhận dạng qua vẻ bề ngoài như màu da, cách ăn mặc hay ngôn
ngữ...
Từ xa xưa vai trò và vị trí của người dân sống trên một vùng lãnh thổ nhất định đã
được coi trọng, bằng cách này hay cách khác họ đã chứng minh sự cần thiết của mình đối
với xã hội. Cho đến năm 1933, một lần nữa địa vị của người dân được nhấn mạnh và họ
được coi là một thành phần rất cơ bản để tạo nên một quốc gia. Theo quy định tại điều 1
Công ước Montevideo năm 1933 về quyền và nghĩa vụ quốc gia thì một thực thể được
coi là quốc gia theo pháp luật quốc tế phải có bốn yếu tố cơ bản sau: Dân cư thường
xuyên; Lãnh thổ được xác định; Chính phủ; Năng lực tham gia vào các quan hệ quốc tế

[1] TS. Nguyễn Chí Hiếu, Văn hóa học: Quan niệm về “công dân” trong lịch sử tư tưởng,
[truy cập ngày 17/5/2014]

GVHD:Ths.Nguyễn Tống Ngọc Như

3

SVTH: Nguyễn Văn Nhẩn


Bảo hộ công dân trong luật quốc tế và pháp luật Việt Nam-một số vấn đề lí luận và thực tiễn

hóa, xã hội và buộc phải thực hiện các nghĩa vụ của công dân đối với quốc gia. Còn đối
với những người không phải là công dân của quốc gia mà họ đang cư trú thì quyền và
nghĩa vụ hạn chế hơn. Phần lớn công dân của quốc gia cư trú trên lãnh thổ của quốc gia

[2] Trường đại học luật Hà Nội, Giáo trình luật quốc tế, Nxb Công an Nhân dân, Hà Nội, 2007, tr. 105.
[3] Ts.Lê Xuân Anh-Nguyễn Huỳnh Anh-Lê Linh Đan-Nguyễn Hồng Lê-Nguyễn Hồng Lan-Bùi Chính
Nguyên-Nguyễn Thục Quyền-Bùi Thu Trang, Từ điển Tiếng Việt dành cho học sinh, Nxb Đại học quốc
gia Tp.Hồ Chí Minh, 2013, tr. 94.
GVHD:Ths.Nguyễn Tống Ngọc Như

4

SVTH: Nguyễn Văn Nhẩn


Bảo hộ công dân trong luật quốc tế và pháp luật Việt Nam-một số vấn đề lí luận và thực tiễn

đó, công dân đang cư trú trên lãnh thổ của quốc gia mình có nhiều quyền và nghĩa vụ
hơn công dân đang cư trú ở nước ngoài.
1.1.2. Khái niệm về bảo hộ công dân
Quyền được bảo hộ về tính mạng, tài sản, danh dự, nhân phẩm là một trong những
quyền cơ bản và quan trọng của mỗi công dân khi ở trong hoặc ngoài lãnh thổ của quốc
gia mà mình mang quốc tịch. Từ khi một người được coi là công dân của một quốc gia
nào đó thì họ có các quyền và nghĩa vụ do quốc gia đó đặt ra cho họ.
Theo từ điển Tiếng Việt, “bảo hộ” có nghĩa là : “Bênh vực, trông nom. Bảo hộ kẻ
yếu4”. Từ định nghĩa này có thể thấy bảo hộ là việc một người, một tổ chức hay một
quốc gia bảo vệ những người yếu thế, quan tâm giúp đỡ họ. Bảo hộ công dân là một yêu
cầu cần thiết đối với mỗi quốc gia có chủ quyền. Từ đó khẳng định chủ quyền của quốc
gia so với các quốc gia khác trong quan hệ quốc tế. Hiện nay, bảo hộ công dân có thể
được hiểu theo hai nghĩa5:


Bảo hộ công dân trong luật quốc tế và pháp luật Việt Nam-một số vấn đề lí luận và thực tiễn

Chẳng hạn như cơ quan đại diện có thể giới thiệu cho người vi phạm pháp luật những vị
luật sư có kinh nghiệm để giúp người đó tham gia tố tụng...
Như vậy, bảo hộ công dân là hoạt động của cơ quan nhà nước có thẩm quyền bảo vệ
quyền và lợi ích của công dân nước mình ở nước ngoài trong trường hợp các quyền và
lợi ích này bị xâm phạm hoặc kể cả trong trường hợp không có bất kì sự xâm phạm nào
theo quy định của pháp luật.
1.2.

Đặc điểm của bảo hộ công dân

1.2.1. Chủ thể bảo hộ
Thực tiễn luật quốc tế hiện nay đã thừa nhận các quốc gia có trách nhiệm bảo hộ công
dân của mình. Đó là nghĩa vụ của quốc gia đối với công dân mình nhưng là quyền năng
của quốc gia so với quốc gia khác trong quan hệ quốc tế. Theo đó quyền năng của quốc
gia trong luật quốc tế phát sinh và tồn tại trên cơ sở chủ quyền quốc gia. Chủ quyền quốc
gia là sự thể hiện quyền lực một cách hoàn toàn và đầy đủ của quốc gia trong các lĩnh
vực lập pháp, hành pháp, tư pháp trên lãnh thổ của mình loại trừ mọi quyền lực bên
ngoài và không nằm dưới quyền lực quốc gia khác trong quan hệ quốc tế6. Như vậy,
trong mối quan hệ với quốc gia khác về vấn đề bảo hộ công dân của mình, mọi quốc gia
đều bình đẳng với nhau. Nghĩa là không có quốc gia nào có quyền áp đặt các nghĩa vụ
hay bất kì sự hạn chế nào đối với các quốc gia khác.
Hiện tại, quốc gia trao chức năng thực hiện công tác bảo hộ công dân cho các cơ quan
nhà nước có thẩm quyền của mình, khoa học pháp lí quốc tế hiện nay chia các cơ quan
này thành hai loại:
Thứ nhất, các cơ quan trong nước: Như đã nêu trên, việc quy định cơ quan nào thực
hiện công tác bảo hộ công dân phụ thuộc vào pháp luật của từng quốc gia và quốc gia
trong khả năng quyền lực của mình có thể quy định một hay nhiều cơ quan để thực hiện

thì “nước cử đi có thể giao việc bảo vệ các quyền lợi của mình và của công dân mình
cho một nước thứ ba mà nước tiếp nhận có thể chấp nhận được”, bên cạnh đó “với sự
đồng ý của nước tiếp nhận và theo yêu cầu của một nước thứ ba không có đại diện ở
nước này. Nước cử đi có thể đảm nhiệm việc bảo vệ tạm thời các quyền lợi của nước thứ
ba và của công dân nước đó” (điều 45, điều 46 Công ước Viên 1961 về quan hệ ngoại
giao).
1.2.2. Chủ thể được bảo hộ
Trong quan hệ quốc tế, vấn đề bảo hộ công dân là một vấn đề được các quốc gia quan
tâm từ rất lâu, các quốc gia thường kí kết hay gia nhập các điều ước để tạo cơ sở pháp lí
cho việc bảo hộ công dân của họ, đồng thời họ cũng quy định chi tiết trong pháp luật của
mình về vấn đề này đặc biệt là về chủ thể được bảo hộ. Ở Việt Nam cũng vậy, theo điều
1 Luật Quốc tịch Việt Nam: “Quốc tịch Việt Nam thể hiện mối quan hệ gắn bó của cá
nhân với nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, làm phát sinh quyền, nghĩa vụ
của công dân Việt Nam đối với nhà nước và quyền, trách nhiệm của nhà nước Cộng hoà
xã hội chủ nghĩa Việt Nam đối với công dân Việt Nam”. Như vậy, có thể thấy rằng, quốc
tịch Việt Nam là cơ sở pháp lí đầu tiên làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của công dân
Việt Nam đối với nhà nước Việt Nam và ngược lại. Đồng thời cũng là cơ sở để công dân
Việt Nam nhận được sự bảo hộ từ nhà nước Việt Nam. Suy rộng ra, một người muốn
nhận được sự bảo hộ của một quốc gia thì điều kiện cần thiết nhất chính là có quốc tịch
của quốc gia đó.
Quốc tịch là một khái niệm ra đời vào thời kỳ quá độ từ chế độ phong kiến lên chủ
nghĩa tư bản, khái niệm này xuất hiện cùng với tư tưởng tiến bộ của cách mạng tư sản.
Thông thường, người nào cũng có một tổ quốc và từ khi sinh ra đều mang một quốc tịch
nhất định. Quốc tịch là một phạm trù chính trị - pháp lý, thể hiện mối quan hệ gắn bó,
bền vững về chính trị và pháp lý giữa nhà nước và cá nhân, là căn cứ pháp lý duy nhất

GVHD:Ths.Nguyễn Tống Ngọc Như

7


trị và dân sự). Theo quy định này, dù một người có bao nhiêu quốc tịch đi nữa thì cũng
chỉ được một quốc gia bảo hộ khi có vấn đề cần bảo hộ phát sinh.
Như vậy, căn cứ để một người nhận được sự bảo hộ của một quốc gia thì người ấy
phải là công dân của quốc gia đó (trừ một số trường hợp). Bên cạnh đó, dù một người có
hai hay nhiều quốc tịch thì cũng chỉ được một quốc gia trong số các quốc gia mà mình có
quốc tịch bảo hộ mà thôi.
1.2.3. Biện pháp bảo hộ công dân

[7] Ths. Nguyễn Văn Toàn, Quốc tịch và Luật quốc tịch Việt Nam, Nxb Hà Nội, 2009, tr. 4.
[8]Công ước Lahaye năm 1930 về xung đột luật quốc tịch có hiệu lực từ ngày 01/7/1937
GVHD:Ths.Nguyễn Tống Ngọc Như

8

SVTH: Nguyễn Văn Nhẩn


Bảo hộ công dân trong luật quốc tế và pháp luật Việt Nam-một số vấn đề lí luận và thực tiễn

Hoạt động bảo hộ công dân rất đa dạng bao gồm tất cả các hoạt động mà quốc gia
thực hiện để giúp đỡ công dân mình. Tùy vào từng trường hợp cụ thể mà cơ quan đại
diện sẽ sử dụng những biện pháp bảo hộ khác nhau để bảo hộ cho công dân. Tuy nhiên,
biện pháp bảo hộ đó phải phù hợp với pháp luật của quốc gia sở tại cũng như những điều
ước quốc tế có liên quan đã được quốc gia nước cử đại diện và nước nhận đại diện kí kết
hoặc tham gia. Đồng thời dựa trên quy định của pháp luật nước mình, cơ quan đại diện
thực hiện các biện pháp bảo hộ cụ thể trên thực tế. Thông thường các cơ quan đại diện
thực hiện chức năng hành chính giống như cơ quan hành chính ở nước cử để bảo hộ cho
công dân mình ở nước tiếp nhận, chẳng hạn như việc cấp các loại giấy tờ theo yêu cầu
của công dân.
Bên cạnh đó, trong mối quan hệ với quốc gia sở tại, cơ quan đại diện có quyền đấu

SVTH: Nguyễn Văn Nhẩn


Bảo hộ công dân trong luật quốc tế và pháp luật Việt Nam-một số vấn đề lí luận và thực tiễn

hiệp và đưa ra những giải pháp có thể được các bên chấp nhận, cũng như việc mở rộng
và cũng cố hợp tác quốc tế9”. Như vậy, biện pháp ngoại giao là một trong những biện
pháp hòa bình để giải quyết các vấn đề có liên quan đến hoạt động bảo hộ công dân của
các quốc gia. Tùy vào từng trường hợp cụ thể mà quốc gia sẽ tiến hành biện pháp này
một cách phù hợp và đạt hiệu quả cao.
Tuy luật quốc tế quy định là không được sử dụng vũ lực trong bảo hộ công dân.
Nhưng trong thực tế quan hệ giữa các nước, một số quốc gia lại cho rằng việc sử dụng vũ
lực là quyền của mình khi các biện pháp hòa bình khác đã được sử dụng hết mà không
mang lại kết quả như mong muốn. Ví dụ: Vào tháng 12/2013, tại Nam Sudan,Tổng thống
Salva Kiir cáo buộc cựu Phó Tổng thống Riek Machar âm mưu tiến hành đảo chính dẫn
đến các cuộc đụng độ xảy ra khiến hàng trăm người chết và hàng chục ngàn người chạy
trốn vào các cơ sở của Liên hợp quốc. Trước tình hình đó, chính phủ Mỹ đã cử gần 100
binh lính để bảo vệ các công dân Mỹ, nhân viên và tài sản tại đại sứ quán Mỹ ở thủ đô
Juba10.
Như vậy việc sử dụng biện pháp gì để bảo hộ phụ thuộc vào nhiều yếu tố như quyền
lợi nào của công dân bị vi phạm, tầm quan trọng của quyền bị vi phạm đối với cá nhân
và lợi ích của quốc gia mình. Đồng thời việc thực hiện biện pháp bảo hộ công dân phải
phù hợp với pháp luật và các điều ước quốc tế có liên quan.
1.2.4. Nguyên tắc bảo hộ công dân
Trong hệ thống luật quốc tế tồn tại nhiều nguyên tắc khác nhau, trong đó có các
nguyên tắc điều chỉnh quan hệ giữa các quốc gia trên phạm vi toàn thế giới, có những
nguyên tắc điều chỉnh quan hệ giữa các nước cùng khu vực và nguyên tắc điều chỉnh
quan hệ trong từng ngành luật cụ thể. Trong thực tiễn quan hệ quốc tế vấn đề bảo hộ
công dân cũng phải tuân theo một số nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế. Chẳng hạn như
nguyên tắc bình đẳng chủ quyền giữa các quốc gia; Nguyên tắc tận tâm, thiện chí thực

gia đều bình đẳng về chủ quyền. Các quốc gia bình đẳng về quyền và nghĩa vụ và là
những thành viên bình đẳng của cộng đồng quốc tế, bất chấp sự khác biệt về chế độ kinh
tế, chính trị và xã hội (Tuyên bố về những nguyên tắc của Luật quốc tế của Đại hội đồng
Liên hợp quốc). Như vậy, trong mối quan hệ quốc tế, các quốc gia đều bình đẳng với
nhau mà không có bất kì sự phân biệt nào. Bởi vì luật quốc tế được tạo ra để áp dụng
chung cho tất cả các quốc gia trên thế giới nên sẽ không có sự phân biệt việc áp dụng
giữa nước lớn và nước nhỏ. Về nguyên tắc, quan hệ giữa các quốc gia liên quan đến dân
cư được giải quyết theo nguyên tắc bình đẳng chủ quyền và không phân biệt đối xử. Các
quốc gia có quyền kí kết hoặc gia nhập các điều ước quốc tế liên quan đến bảo hộ công
dân trên cơ sở bình đẳng chủ quyền, tức là các điều ước được kí kết trên cơ sở thỏa thuận
và tự nguyện, không một quốc gia nào có quyền đưa ra điều kiện và bắt buộc quốc gia
khác phải tuân theo. Ví dụ như hai quốc gia có thể kí kết điều ước quốc tế về thời hạn
thông báo cho quốc gia có công dân bị bắt giữ là 2 ngày, thì thời hạn này phải được áp
dụng chung cho cả 2 quốc gia, một trong hai quốc gia không có quyền kéo dài thời hạn
này, bởi vì có thể gây ảnh hưởng đến việc bảo hộ công dân của quốc gia kia.
Một trong những nội dung cơ bản của nguyên tắc bình đẳng chủ quyền giữa các quốc
gia là quốc gia được tham gia giải quyết các vấn đề có liên quan đến lợi ích của mình và
của công dân nước mình. Đây là một nội dung rất quan trọng bởi vì chỉ khi nào quốc gia
trực tiếp tham gia vào quan hệ bảo hộ công dân với quốc gia khác thì các quyền và lợi
ích của công dân mới được đảm bảo. Bởi vì khi một công dân nước ngoài ở quốc gia sở
tại thì quyền và lợi ích của họ có nguy cơ bị vi phạm nhiều hơn công dân của nước sở tại,
đồng thời họ cũng là một bên yếu thế so với cơ quan chức năng của chính quyền sở tại,

[11] Trường đại học luật Hà Nội, Giáo trình luật quốc tế, Nxb Công an Nhân dân, 2007, tr. 39.

GVHD:Ths.Nguyễn Tống Ngọc Như

11

SVTH: Nguyễn Văn Nhẩn

với mình một cách “thiện chí”. Trong vấn đề bảo hộ công dân, bên cạnh phải tuân thủ
các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế, các quốc gia còn phải tuân thủ những cam kết mà
mình đã thỏa thuận trong các điều ước song phương hay đa phương về vấn này và chiếu
theo khoản 2 điều 2 của Hiến chương Liên hợp quốc vừa nêu trên đây là một nghĩa vụ
bắt buộc của các quốc gia.
Trên cơ sở Hiến chương Liên hợp quốc, điều 26 Công ước Viên về Luật điều ước
quốc tế năm 1969 đã chỉ ra rằng “ Mọi điều ước đã có hiệu lực đều ràng buộc các bên
tham gia và phải được các bên thi hành với thiện chí”. Như vậy, mọi điều ước được kí
kết hoặc gia nhập đều tạo cho quốc gia các quyền và nghĩa vụ nhất định, quốc gia có thể
từ bỏ quyền của mình nhưng phải làm tròn nghĩa vụ với quốc gia khác. Bởi vì khi một
quốc gia không thực hiện nghĩa vụ của mình thì sẽ làm ảnh hưởng đến quyền của quốc
GVHD:Ths.Nguyễn Tống Ngọc Như

12

SVTH: Nguyễn Văn Nhẩn


Bảo hộ công dân trong luật quốc tế và pháp luật Việt Nam-một số vấn đề lí luận và thực tiễn

gia khác. Ngoài các văn bản trên, nguyên tắc này còn được ghi nhận trong Tuyên bố năm
1970 về các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế. Theo đó, mỗi quốc gia phải thiện chí
thực hiện các nghĩa vụ quốc tế do Hiến chương đặt ra, các nghĩa vụ quốc tế phát sinh từ
các quy phạm và nguyên tắc được công nhận rộng rãi của luật quốc tế. Chẳng hạn như
quốc gia phải cho phép quốc gia khác thực hiện công tác bảo hộ công dân của họ trên
lãnh thổ của mình và không được thực hiện những hành vi cản trở quá trình bảo hộ công
dân của họ.
Thứ ba, nguyên tắc hòa bình giải quyết các tranh chấp quốc tế:
Trong thực tiễn quốc tế, quan hệ giữa các quốc gia dù được thiết lập trên cơ sở điều
ước song phương hay đa phương thì tranh chấp luôn là khả năng tiềm ẩn phát sinh từ một


SVTH: Nguyễn Văn Nhẩn


Bảo hộ công dân trong luật quốc tế và pháp luật Việt Nam-một số vấn đề lí luận và thực tiễn

các lĩnh vực của quan hệ quốc tế không phụ thuộc vào hệ thống chính trị, kinh tế, văn
hóa...”. Như vậy, theo nguyên tắc này thì mọi quốc gia có nghĩa vụ hợp tác với nhau
trong tất cả các lĩnh vực kể cả bảo hộ công dân. Tuy nhiên, nếu xem xét nguyên tắc này
một các độc lập tách rời các nguyên tắc khác thì thật khó có thể khẳng định rằng đây là
một nguyên tắc bắt buộc đối với mọi quốc gia. Vì thế, chỉ có thể khẳng định nguyên tắc
này là nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế khi đặt nó trong mối quan hệ chặt chẽ với các
nguyên tắc khác, bởi lẽ việc thực hiện mọi nguyên tắc chỉ có thể thành công khi các quốc
gia hợp tác chặt chẽ với nhau. Việc tuân thủ nguyên tắc này là điều kiện rất quan trọng
trong việc cũng cố sự tuân thủ nguyên tắc khác của luật quốc tế. Ví dụ, nếu sự hợp tác
quốc tế của các quốc gia tiến hành tốt đẹp thì không chỉ sự bình đẳng chủ quyền của các
quốc gia được tôn trọng mà các tranh chấp giữa các quốc gia cũng có thể được giải quyết
một cách nhanh chóng và hòa bình. Ngược lại sự tuân thủ các nguyên tắc cơ bản khác
của luật quốc tế sẽ là cơ sở quan trọng để đảm bảo cho sự tuân thủ nguyên tắc này. Ví
dụ, sự hợp tác giữa các quốc gia chắc chắn sẽ vô cùng khó khăn trong bối cảnh các quốc
gia dùng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ với nhau hoặc luôn can thiệp
vào công việc nội bộ của nhau.
1.2.5. Điều kiện bảo hộ công dân
Như đã nói trên, một người có quốc tịch của một quốc gia sẽ được quốc gia đó bảo
hộ. Tuy nhiên, bên cạnh điều kiện có quốc tịch của quốc gia thì người cần được sự bảo
hộ còn phải ở trong những điều kiện và hoàn cảnh nhất định, chẳng hạn như người đó bị
xâm phạm các quyền hay lợi ích, gặp thiên tai, chiến tranh...và quốc gia chỉ bảo hộ công
dân của mình khi người đó không thể tự bảo vệ mình trước cá nhân hay các cơ quan có
thẩm quyền của quốc gia sở tại. Bên cạnh đó, trong một số trường hợp quốc gia bảo hộ
công dân mình khi người đó yêu cầu. Theo khoa học pháp lí quốc tế hiện nay, quốc gia

từ cuối tháng 7 năm 2014, tình hình chiến sự tại Libya diễn biến phức tạp, nhiều nước đã
rút nhân viên ngoại giao. Bộ Ngoại giao cùng Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội Việt
Nam và các cơ quan chức năng liên quan đã lên phương án đảm bảo an toàn và đưa lao
động Việt Nam rời Libya. Tính đến ngày 22/8/2014 chỉ còn hơn 340 trong tổng số 1750
lao động Việt Nam tại quốc gia Bắc Phi này, hiện tại các cơ quan chức năng vẫn đang
tiến hành hỗ trợ đưa những người còn lại về nước13.
Thứ ba, quốc gia tiến hành bảo hộ công dân của mình khi người đó không còn khả
năng tự bảo vệ các quyền và lợi ích của họ. Tức là họ đã sử dụng tất cả biện pháp hợp
pháp mà vẫn không được quốc gia sở tại khôi phục lại các quyền và lợi ích hợp pháp bị
xâm hại hoặc chưa chấm dứt hành vi xâm hại trên thực tế. Tuy nhiên trong một số trường
hợp quốc gia cũng bảo hộ cho công dân mình khi người đó không bị xâm phạm quyền và
lợi ích đó là trường hợp giúp đỡ công dân thực hiện các quyền và nghĩa vụ ở quốc gia sở
tại.
Thứ tư, một điều kiện cũng không kém phần quan trọng đó là sự yêu cầu bảo hộ của
công dân. Trong một số trường hợp, sự yêu cầu bảo hộ của công dân là điều kiện cần
thiết để quốc gia tiến hành bảo hộ công dân của mình. Cụ thể, nếu người đó không muốn
quốc gia đứng ra bảo hộ mình vì một lí do nào đó thì họ có thể không hợp tác với các cơ
quan có thẩm quyền dẫn đến công tác bảo hộ công dân không có kết quả, làm mất thời
gian và công sức của các cơ quan có liên quan. Bên cạnh đó, trong trường hợp một công
dân của nước cử cư trú ngoài khu vực lãnh sự bị xâm phạm quyền và lợi ích thì có thể
yêu cầu cơ quan lãnh sự gần nơi người đó cư trú đứng ra bảo hộ cho họ. Trong trường

[12] Điều 4 Công ước LaHaye năm 1930 về Xung đột luật quốc tịch: “ Một nước không được bảo hộ
ngoại giao cho công dân của mình tại một nước khác mà người này cũng có quốc tịch và hiện đang cư
trú”
[13] TTXVN/VIETNAM+,Vietnam+:Hoàn tất việc sơ tán lao động Việt Nam tại Libya vào đầu tháng 9,
[truy cập ngày 5/9/2014]

GVHD:Ths.Nguyễn Tống Ngọc Như


những người đó có quốc tịch hoặc cư trú thường xuyên14 . Người tỵ nạn là một trong
những nhóm người dễ bị tổn thương nhất do vị thế đặc biệt của họ (phải lưu lạc tìm nơi
sinh sống mới tại một quốc gia khác trong hoàn cảnh bị xua đuổi, truy bức). Vì vậy, Liên
hợp quốc đã thông qua Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền năm 1948 (UDHR) nhằm bảo
vệ một cách tốt hơn quyền lợi của nhóm người này. Cụ thể, tại khoản 1 điều 14 Tuyên
ngôn Quốc tế Nhân quyền khẳng định: “Mọi người đều có quyền tìm kiếm và hưởng tỵ
nạn ở nước khác khi bị ngược đãi”. Tuy nhiên, tại khoản 2 điều này cũng nêu ngoại lệ
không áp dụng quyền tỵ nạn chính trị: “Quyền này không được áp dụng trong trường
hợp đương sự bị truy tố về những tội phạm không mang tính chất chính trị hay vì những
hành vi đi ngược lại với những mục tiêu và nguyên tắc của Liên hợp quốc”. Như vậy, bất
kì một người nào khi bị quốc gia mình đang sinh sống ngược đãi vì lí do chính trị, xã

[14] Nguyễn Trung Tín-PGS.TS Nguyễn Đăng Dung-Lê Mai Thanh-Nguyễn Hoàng Vân, Tìm hiểu luật
quốc tế, Nxb Đồng Nai, 1997, tr. 126
GVHD:Ths.Nguyễn Tống Ngọc Như

16

SVTH: Nguyễn Văn Nhẩn


Bảo hộ công dân trong luật quốc tế và pháp luật Việt Nam-một số vấn đề lí luận và thực tiễn

hội... thì có quyền tìm đến một quốc gia khác để xin tỵ nạn chính trị. Ví dụ: Sau khi tiết
lộ chương trình nghe lén gây chấn động của chính phủ Mỹ, cựu điệp viên Edward
Snowden trú chân tại khu quá cảnh sân bay Sheremetyevo của Matxcơva kể từ ngày
23/6. đến ngày 12/7, cựu điệp viên Edward Snowden có cuộc gặp với nhiều luật sư nổi
tiếng và các nhà hoạt động nhân quyền tại Nga với mong muốn được tỵ nạn chính trị tại
đây. Đơn xin tỵ nạn đã được nộp cho nhà chức trách Nga thông qua Cơ quan Di trú Liên
bang (FMS)15. Trong một cuộc phỏng vấn trên truyền hình ngày 4/9, Tổng thống Nga

17

SVTH: Nguyễn Văn Nhẩn


Bảo hộ công dân trong luật quốc tế và pháp luật Việt Nam-một số vấn đề lí luận và thực tiễn

người tỵ nạn đang cư trú phải cấp cho người đó những giấy tờ cần thiết theo yêu cầu của
người này, ngoại trừ trường hợp vì lí do an ninh quốc gia hay trật tự công cộng không
cho phép (khoản 1 điều 28 Công ước của Liên hợp quốc về người tị nạn năm 1951). Bên
cạnh đó, một trong những nội dung quan trọng nhất của Công ước là cấm các nước đang
cưu mang người tỵ nạn trục xuất họ khỏi lãnh thổ nước mình, đặc biệt là đẩy họ trở về
những lãnh thổ mà họ có thể bị đe dọa về tính mạng và nhân phẩm (khoản 1 điều 33).
Như vậy, về bản chất thì hoạt động bảo hộ công dân và hoạt động bảo hộ ngoại giao
đối với người tỵ nạn chính trị là giống nhau, bởi vì cả hai đều là bảo hộ quyền và lợi ích
cho một người nào đó. Tuy nhiên, giữa hai hoạt động này có một điểm khác nhau rất cơ
bản đó là bảo hộ ngoại giao đối với người tỵ nạn chính trị là hoạt động bảo hộ đối với
một người không có quốc tịch của quốc gia bảo hộ. Còn hoạt động bảo hộ công dân là
việc một quốc gia bảo hộ cho những người mang quốc tịch của mình.
1.3. Quyền và nghĩa vụ của chủ thể liên quan
1.3.1. Quyền và nghĩa vụ của chủ thể bảo hộ
Trong xu thế hội nhập, để thể hiện sự quan tâm đến công dân của mình, quốc gia sẽ
bảo hộ quyền và lợi ích của họ khi ở nước ngoài. Để thể hiện sự quan tâm đó quốc gia có
thể hợp tác, tham gia ký kết và thừa nhận các thủ tục pháp lý quốc tế bảo đảm quyền
được bảo hộ của công dân. Thực tế các quốc gia thường hay kí kết các điều ước quốc tế
với nhau về vấn đề này để tạo cơ sở pháp lí khi có trường hợp cần phải xúc tiến quá trình
bảo hộ công dân.
Quốc gia có thể thực hiện tất cả các biện pháp mà luật quốc tế cho phép để bảo hộ
công dân của mình, thế nhưng khi đã kí kết điều ước quy định cụ thể biện pháp bảo hộ
công dân thì quốc gia phải tôn trọng và thực thi các điều ước ấy. Ví dụ, trong điều ước,

trước pháp luật ở mọi nơi”. Điều 16 của Công ước đã bảo đảm một quyền cơ bản là
được pháp luật thừa nhận là một con người. Nếu một cá nhân không được pháp luật thừa
nhận, cá nhân đó sẽ mất đi sự thừa nhận các quyền khác của mình. Một ví dụ thường
được nêu ra là trường hợp những người Do Thái dưới chế độ Đức Quốc Xã bị tước đi sự
thừa nhận về mặt pháp lý (legal recognition), sự chối bỏ quyền cơ bản này đã kéo theo sự
chối bỏ hàng loạt các quyền khác của họ.
Điều 5 Công ước Lahaye 1930 quy định: “Tại một nước thứ ba, một người có nhiều
quốc tịch sẽ được coi như chỉ có một quốc tịch. Không phương hại đến việc áp dụng
pháp luật của nước mình về địa vị pháp lý của cá nhân và các Hiệp định đang có hiệu
lực, nước thứ ba sẽ chỉ công nhận duy nhất một quốc tịch trong số các quốc tịch mà
người đó có, hoặc công nhận quốc tịch của nước mà người đó thường trú và cư trú chủ
yếu hoặc quốc tịch của nước mà lúc đó trên thực tế người đó có mối quan hệ gắn bó
nhất”. Như vậy, theo quy định tại điều này thì khi một người có nhiều quốc tịch của
nhiều quốc gia khác nhau thì người đó chỉ được một trong số các quốc gia đó bảo hộ khi
đang ở một quốc gia mà mình không mang quốc tịch. Trong trường hợp này, quốc gia sở
tại sẽ có quyền quyết định một trong các quốc gia mà người đó là công dân đứng ra bảo
hộ cho họ.
Hơn nữa, tại điều 7 Tuyên ngôn toàn thế giới về nhân quyền 1948 quy định: Mọi
người đều bình đẳng trước pháp luật và được pháp luật bảo vệ một cách bình đẳng mà
không có bất kỳ sự phân biệt nào...xuất phát từ những nguyên tắc cơ bản của luật quốc
tế, mọi công dân đều được đối xử bình đẳng như nhau trước pháp luật. Tức là khi bị xâm
phạm quyền và lợi ích thì các công dân khác nhau được đối xử bình đẳng như nhau mà
không có bất kì sự phân biệt đối xử nào trong việc được bảo hộ. Tuy nhiên, quyền bình
đẳng không có nghĩa là áp dụng một kiểu đối xử cho mọi đối tượng trong cùng một tình
huống và không phải mọi sự khác biệt về đối xử đều tạo nên sự phân biệt đối xử. Nếu sự
đối xử khác biệt dựa trên các điều kiện hợp lí, khách quan và nhằm mục đích đạt được sự
bình đẳng thì không bị coi là trái với nguyên tắc của luật quốc tế.
Bên cạnh các quyền nêu trên, công dân của một quốc gia ở nước ngoài cũng phải
gánh vác những nghĩa vụ nhất định, chẳng hạn như phải tuân thủ pháp luật của quốc gia
mình, pháp luật quốc gia sở tại cũng như pháp luật quốc tế.

(hoặc một nhóm) quốc gia nào có quyền thay đổi (hoặc chỉ thay đổi bằng quy phạm có
tính chất tương tự). Vì nó đảm bảo lợi ích chung của cộng đồng nên khi vi phạm Jus
cogens có thể sẽ gây thiệt hại về quyền và lợi ích của các quốc gia khác trên thế giới, Jus
cogens có hiệu lực pháp lý cao nhất nên các điều ước quốc tế khi ký kết không được trái
với các quy phạm này.
Thứ ba, điều ước đó phải được ký kết phù hợp và tuân theo các quy định có liên quan
của pháp luật của các bên ký kết về thẩm quyền và thủ tục ký kết.
Xuất phát từ bản chất của điều ước là sự thỏa thuận bình đẳng của các chủ thể trong quan
hệ pháp lý quốc tế, điều ước quốc tế có ý nghĩa:
(i) Xây dựng và ổn định các cơ sở pháp luật cho các quan hệ pháp luật giữa các chủ thể
của luật quốc tế hình thành và phát triển. Bên cạnh đó điều ước quốc tế còn giúp tăng
cường các quan hệ hợp tác quốc tế giữa các chủ thể với nhau.
(ii) Điều ước quốc tế còn là công cụ, phương tiện pháp lý quan trọng để bảo vệ quyền và
lợi ích hợp pháp của các chủ thể có liên quan.
Hiện nay, vấn đề bảo hộ cho công dân được quy định trong một số công ước như:
Hiến chương Liên hợp quốc, Công ước Viên năm 1961 về quan hệ ngoại giao, Công ước
Viên năm 1963 về quan hệ lãnh sự, Công ước về quyền của người lao động di trú và
thành viên gia đình họ năm 1990...

GVHD:Ths.Nguyễn Tống Ngọc Như

20

SVTH: Nguyễn Văn Nhẩn


Trích đoạn Pháp luật quốc gia Hoạt động bảo hộ công dân của Việt Nam Những thuận lợi trong quá trình thực hiện hoạt động bảo hộ công dân Những khó khăn trong quá trình thực hiện hoạt động bảo hộ công dân Giải pháp, kiến nghị
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status