pháp luật việt nam về quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài - Pdf 30

Luận văn tốt nghiệp

Pháp luật Việt Nam về vấn đề ly hôn có yếu tố nước ngoài

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
- - - - - -

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
NIÊN KHÓA: 2011 – 2014
ĐỀ TÀI:

PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ QUAN HỆ
LY HÔN CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI

Giáo viên hướng dẫn:
Th.s Bùi Thị Mỹ Hương
Bộ môn: Luật Thương Mại

Sinh viên thực hiện:
Họ và tên: Huỳnh Thị Tú
MSSV: 5115773
Lớp: Luật Thương Mại k37

Cần Thơ, Tháng/2014
GVHD:Ths. Bùi Thị Mỹ Hương

1

SVTH: Huỳnh Thị Tú



GVHD:Ths. Bùi Thị Mỹ Hương

2 

SVTH: Huỳnh Thị Tú

.........................................................................................................................
.........................................................................................................................


Luận văn tốt nghiệp

Pháp luật Việt Nam về vấn đề ly hôn có yếu tố nước ngoài

NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN



......................................................................................................................................
......................................................................................................................................
......................................................................................................................................
......................................................................................................................................
......................................................................................................................................
......................................................................................................................................
......................................................................................................................................
......................................................................................................................................
......................................................................................................................................
......................................................................................................................................
......................................................................................................................................


SVTH: Huỳnh Thị Tú


Luận văn tốt nghiệp

Pháp luật Việt Nam về vấn đề ly hôn có yếu tố nước ngoài

Mục lục

LỜI NÓI ĐẦU ................................................................................................................8
1. Lý do chọn đề tài ...................................... 8
2. Phạm vi nghiên cứu .................................... 9
3. Mục đích nghiên cứu ................................... 9
4. Phương pháp nghiên cứu ............................... 10
5. Bố cục đề tài ........................................ 10
CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUAN HỆ LY HÔN CÓ YẾU TỐ NƯỚC
NGOÀI ..........................................................................................................................11
1.1 Khái niệm quan hệ ly hôn và quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài .... 11
1.1.1 Khái niệm quan hệ ly hôn ............................ 11
1.1.2 Khái niệm quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài ............... 12
1.2 Nguồn luật điều chỉnh và phương pháp điều chỉnh về quan hệ ly hôn có yếu
tố nước ngoài. ........................................ 13
1.2.1 Nguồn luật điều chỉnh ............................... 13
1.2.1.1 Pháp luật quốc gia ................................................................................13
1.2.1.2.Điều ước quốc tế ...................................................................................14
1.2.2 Phương pháp điều chỉnh ............................. 15
1.2.2.1 Phương pháp xung đột .........................................................................15
1.2.2.2 Phương pháp thực chất ........................................................................16
1.3 Xung đột pháp luật và nguyên tắc giải quyết xung đột pháp luật đối với vấn

1.5.1 Giai đoạn trước khi ban hành luật hôn nhân và gia đình năm 1959 .... 24
1.5.2 Giai đoạn từ khi ban hành luật hôn nhân và gia đình năm 1959 đến trước
khi có luật hôn nhân và gia đình năm 1986 ...................... 26
1.5.3 Giai đoạn từ khi có luật hôn nhân và gia đình năm 1986 đến trước khi ban
hành luật hôn nhân và gia đình năm 2000 ...................... 27
1.5.4 Giai đoạn từ khi ban hành luật hôn nhân và gia đình năm 2000 cho đến nay
................................................ 28
CHƯƠNG 2 PHÁP LUẬT VỀ QUAN HỆ LY HÔN CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI
.......................................................................................................................................29
2.1 Điều kiện xin ly hôn và những trường hợp hạn chế yêu cầu ly hôn có yếu tố
nước ngoài .......................................... 30
2.1.1 Điều kiện xin ly hôn có yếu tố nước ngoài .................. 30
2.1.1.1 Năng lực hành vi dân sự của chủ thể xin ly hôn ..................................30
2.1.1.2 Tính tự nguyện của chủ thể xin ly hôn ..................................................31
2.1.1.3 Quan hệ hôn nhân không trái với quy định pháp luật ..........................31
2.1.2 Những trường hợp hạn chế quyền yêu cầu xin ly hôn ............ 32
2.2 Căn cứ giải quyết ly hôn và hình thức ly hôn có yếu tố nước ngoài .... 32
2.2.1 Căn cứ giải quyết ly hôn có yếu tố nước ngoài ................ 32
2.2.2 Hình thức ly hôn có yếu tố nước ngoài ..................... 33
2.2.2.1 Thuận tình ly hôn có yếu tố nước ngoài ...............................................33
2.2.2.2 Đơn phương xin ly hôn có yếu tố nước ngoài ......................................34
2.3 Giải quyết vấn đề tài sản và con cái sau ly hôn có yếu tố nước ngoài .. 28
2.3.1 Vấn đề tài sản sau ly hôn có yếu tố nước ngoài ................ 28
2.3.2 Giải quyết vấn đề con cái sau ly hôn có yếu tố nước ngoài ......... 29
2.4 Thẩm quyền của tòa án trong giải quyết ly hôn có yếu tố nước ngoài... 36
2.4.1 Thẩm quyền xét xử chung của Tòa án giải quyết ly hôn có yếu tố nước
ngoài ............................................. 30
2.4.1.1 Ly hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài .......................31
2.4.1.2 Ly hôn giữa người nước ngoài với người nước ngoài .........................38
2.4.1.3 Ly hôn giữa công dân Việt Nam với công dân Việt Nam .....................42

Việt Nam đã cư trú ở nước ngoài .....................................................................51
2.5.3.2 Trường hợp các bên đều là công dân Việt Nam kết hôn ở nước ngoài
theo pháp luật nước ngoài, nay họ về Việt Nam xin ly hôn ..............................52
2.5.3.3 Trường hợp công dân Việt Nam ở nước ngoài kết hôn với người nước
ngoài, được công nhận tại Việt Nam, nay công dân Việt Nam về nước và
người nước ngoài xin ly hôn .............................................................................53
2.5.3.4 Trường hợp công dân Việt Nam ở trong nước xin ly hôn với với người
nước ngoài đang cư trú ở nước ngoài ..............................................................54
2.6 Công nhận bản án, quyết định ly hôn của Tòa án nước ngoài và thời điểm
có hiệu lực của bản án, quyết định ly hôn có yếu tố nước ngoài được Tòa án
Việt Nam thụ lý giải quyết ................................ 55
2.6.1 Vấn đề công nhận bản án và quyết định ly hôn có yếu tố nước ngoài của
Tòa án nước ngoài .................................... 55
2.6.2 Thời điểm có hiệu lực của bản án, quyết định ly hôn có yếu tố nước ngoài
được Tòa án Việt Nam thụ lý giải quyết ....................... 50
CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG, NGUYÊN NHÂN VÀ GIẢI PHÁP VỀ LY HÔN
CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI .....................................................................................58
GVHD:Ths. Bùi Thị Mỹ Hương

6

SVTH: Huỳnh Thị Tú


Luận văn tốt nghiệp

Pháp luật Việt Nam về vấn đề ly hôn có yếu tố nước ngoài

3.1 Thực trạng về vấn đề ly hôn có yếu tố nước ngoài hiện nay ......... 58
3.1.1 Tình hình ly hôn có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam ............ 59


Pháp luật Việt Nam về vấn đề ly hôn có yếu tố nước ngoài

LỜI NÓI ĐẦU


1. Lý do chọn đề tài
Trong những năm gần đây, Đảng và Nhà nước ta đã thực hiện chính sách đổi
mới, hội nhập, mở rộng mối quan hệ giao lưu với tất cả các nước trên thế giới. Nhờ
chính sách đó mà Việt Nam đã ngày càng được khẳng định vị thế trên trường quốc tế,
bên cạnh đó Việt Nam cũng đạt được một số thành tựu quan trọng trên tất cả các lĩnh
vực đời sống và xã hội. Nhờ vào những chính sách ấy đã tạo điều kiện cho công dân
Việt Nam có điều kiện ra nước ngoài giao lưu, học tập, trao đổi kinh nghiệm trên tất cả
các lĩnh vực. Bên cạnh đó thì người nước ngoài sang Việt Nam đầu tư, sinh sống, và
trao đổi hợp tác ngày càng nhiều hơn, ngoài ra cũng có một số lượng không nhỏ người
Việt Nam định cư ở nước ngoài nay trở về Việt Nam kết hôn cũng ngày một nhiều
hơn. Chính vì thế mà kéo theo biết bao nhiêu hệ lụy trong xã hội xảy ra, mà trong đó
có vấn đề hôn nhân và gia đình, nhưng đặc biệt hơn là vấn đề ly hôn có yếu tố nước
ngoài ngày càng nhiều và trở nên phổ biến hơn trong xã hội ngày nay.
Gia đình được xem là tế bào của xã hội, gia đình có ấm no hạnh phúc, xã hội mới
phát triển ổn định. Hôn nhân hình thành nên gia đình, hôn nhân là kết quả của sự tự
nguyện của nam và nữ để đi đến việc kết hôn tạo nên một gia đình trong xã hội. Hôn
nhân không chỉ đơn giản chỉ có công dân Việt Nam kết hôn với nhau mà trong thời
buổi hội nhập thì nhu cầu kết hôn với người nước ngoài cũng diễn ra phổ biến hơn, mà
chủ yếu là phụ nữ Việt Nam kết hôn với người nước ngoài, kéo theo đó thì việc ly hôn
giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài ngày một nhiều và trở thành một vấn
đề hết sức phức tạp. Ly hôn là một hiện tượng xã hội mang bản chất giai cấp sâu sắc,
do đó quan điểm về ly hôn của các chế độ chính trị khác nhau là không giống nhau.
Quan niệm về ly hôn dưới chế độ phong kiến thì người phụ nữ không có quyền ly hôn,
chỉ người đàn ông mới có quyền ly hôn. Ngày nay cùng với sự phát triển thì những

hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài” nhằm hoàn thiện pháp luật, đơn giản hóa quá trình
giải quyết, cũng như đưa đến việc xác định đúng thẩm quyền giải quyết vấn đề ly hôn
có yếu tố nước ngoài. Đồng thời người viết muốn tìm hiểu sâu và hiểu rõ hơn về
những quy định của pháp luật Việt Nam về vấn đề ly hôn có yếu tố nước ngoài. Bên
cạnh đó cũng nhằm phổ biến sự hiểu biết của người viết về vấn đề ly hôn có yếu tố
nước ngoài được rộng rãi và giúp cộng đồng hiểu rõ hơn và tuân thủ đúng pháp luật
nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của họ, đặc biệt là người phụ nữ, giúp họ có
kiến thức cơ bản về vấn đề hôn nhân với người nước ngoài.
2. Phạm vi nghiên cứu
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, người viết chủ yếu đi sâu nghiên cứu các
vấn đề lý luận chung đến quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài. Sau đó, người viết tìm
hiểu và phân tích những quy định của pháp luật Việt Nam về quan hệ ly hôn có yếu tố
nước ngoài, người viết phân tích những vấn đề cơ bản của pháp luật Việt Nam quy
định về từ luật hình thức đến luật nội dung trong các vấn đề liên quan đến quan hệ ly
hôn có yếu tố nước ngoài. Đồng thời, người viết cũng nêu lên thực trạng ly hôn có yếu
tố nước ngoài trong xã hội thời gian gần đây và thực trạng trong thực tiễn giải quyết
các vấn đề ly hôn có yếu tố nước ngoài, cũng như những nguyên nhân dẫn đến thực
trạng đó để người viết đưa ra một số giải pháp về quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài
và giải pháp nhằm giảm thiểu tình trạng ly hôn có yếu tố nước ngoài như hiện nay.
3. Mục đích nghiên cứu
Những quy định của pháp luật về quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài đã được
nhà nước ta xây dựng, tuy nhiên việc áp dụng những quy định đó vào thực tiễn cũng
GVHD:Ths. Bùi Thị Mỹ Hương

9

SVTH: Huỳnh Thị Tú


Luận văn tốt nghiệp

5. Bố cục đề tài
Ngoài phần lời nói đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính
được trình bày trong ba chương:
Chương 1: Lý luận chung về quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài.
Chương 2: Pháp luật về quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài.
Chương 3: Thực trạng, nguyên nhân và giải pháp về vấn đề ly hôn có yếu tố nước
ngoài
GVHD:Ths. Bùi Thị Mỹ Hương

10

SVTH: Huỳnh Thị Tú


Luận văn tốt nghiệp

Pháp luật Việt Nam về vấn đề ly hôn có yếu tố nước ngoài

CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUAN HỆ LY HÔN CÓ YẾU TỐ NƯỚC
NGOÀI
Ly hôn là kết quả cuối cùng của một cuộc hôn nhân không hạnh phúc, xảy ra
mâu thuẫn mà khó có thể hàn gắn được nữa. Mâu thuẫn trầm trọng, hôn nhân không
đạt được dẫn đến vấn đề ly hôn. Ly hôn có thể do một bên đơn phương yêu cầu xin ly
hôn cũng như có thể do cả hai tự nguyện xin ly hôn.
Ly hôn là vấn đề phức tạp nó không chỉ ảnh hưởng đối với đương sự khi ly hôn
mà nó còn ảnh hưởng đến con cái gia đình và xã hội. Một mặt ảnh hưởng đến tâm lý
của con cái khi cuộc sống bị đảo lộn, đó cũng chính là lý do khiến cho nhiều đứa dễ sa
ngã nếu không nhận được sự chăm sóc, dạy dỗ một cách tốt nhất của chính người trực
tiếp nuôi dưỡng con trẻ nhằm xoa dịu tâm lý con cái khi cha mẹ đột ngột xa nhau.Mặc

Pháp luật Việt Nam về vấn đề ly hôn có yếu tố nước ngoài

hôn nhân không hạnh phúc trong quá trình sống chung, làm phát sinh nhiều mâu thuẫn
và không thể hàn gắn được nữa thì tính tất yếu của những vấn đề ấy trong mối quan hệ
hôn nhân là dẫn đến việc ly hôn. Ly hôn là một sự kiện pháp lý nhằm chấm dứt mối
quan hệ hôn nhân mà chỉ có vợ, chồng hoặc cả hai vợ chồng mới có quyền yêu cầu xin
ly hôn. Nhưng quyền ly hôn của vợ chồng luôn được nhà nước đảm bảo và kiểm soát
nhằm hạn chế việc lạm dụng quyền ly hôn mà dẫn đến những hậu quả không tốt cho
gia đình và xã hội. Nhà nước luôn đảm bảo quyền tự do của cá nhận vì vậy vấn đề ly
hôn cũng được nhà nước chú trọng và được cụ thể hóa bằng một quy định trong Luật
Hôn nhân và gia đình năm 2000 nhằm đảm bảo quyền lợi của các chủ thể tham gia và
cụ thể tại Khoản 8 Điều 8 của Luật hôn nhân và gia đình quy định:“Ly hôn là chấm
dứt quan hệ hôn nhân do Tòa án công nhận hoặc quyết định theo yêu cầu của vợ hoặc
chồng hoặc cả hai vợ chồng”. Như vậy, ly hôn là hành vi có ý chí của cả 2 vợ chồng
và được nhà nước công nhận bằng một bản án hoặc một quyết định ly hôn của tòa án.
Ly hôn là một mặt của mối quan hệ hôn nhân, nhưng đó lại là mặt trái của xã hội
nhưng nó không thể thiếu trong mối quan hệ hôn nhân. Không thể xem vấn đề ly hôn
là mặt tiêu cực trong mối quan hệ hôn nhân bởi vì khi ở trong một vài trường hợp ly
hôn lại là cách tốt nhất đề giải quyết những mâu thuẫn hay khó khăn mà cả hai vợ
chồng không thể hòa hợp được nữa. Vì vậy, ly hôn là giải pháp cuối cùng nhằm giải
phóng cho cả hai vợ chồng để họ có thể tự do, thấy thoải mái hơn khi chấm dứt mối
quan hệ hôn nhân khi hạnh phúc đã không còn nữa. Ly hôn không chỉ đơn thuần là
giải thoát cho cả hai vợ chồng mà nó còn giải thoát cho các thành viên khác trong gia
đình thoát khỏi sự bế tác trong cuộc sống.
1.1.2 Khái niệm quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài
Trong thời buổi hội nhập kinh tế thế giới hiện nay thì vấn đề ly hôn nó không chỉ
bó hẹp trong phạm vi một quốc gia mà nó còn liên quan đến nhiều quốc gia bằng việc
kết hôn giữa công dân của các quốc gia khác nhau trên thế giới, dẫn đến tình trạng ly
hôn có yếu tố nước ngoài xảy ra như hiện nay. Chính vì sự liên quan của nhiều quốc
gia khác nhau trong vấn đề ly hôn, vì vậy cần xây dựng hệ thống pháp luật phù hợp

Ly hôn có yếu tố nước ngoài là ly hôn giữa công dân Việt Nam với người nước
ngoài, giữa người nước ngoài với nhau thường trú tại Việt Nam; giữa hai công dân
Việt Nam với nhau mà một hoặc cả hai bên định cư ở nước ngoài; hoặc giữa hai công
dân Việt Nam với nhau mà tài sản lên quan đến quan hệ ly hôn ở nước ngoài hoặc căn
cứ chấm dứt quan hệ hôn nhân theo pháp luật nước ngoài.
1.2 Nguồn luật điều chỉnh và phương pháp điều chỉnh về quan hệ ly hôn có yếu tố
nước ngoài.
Nguồn luật điều chỉnh quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài là những hình thức
chứa đựng nguyên tắc cơ bản của pháp luật nhằm điều chỉnh mối quan hệ ly hôn có
yếu tố nước ngoài. Căn cứ vào đó ta có thể chia nguồn luật điều chỉnh về vấn đề này
thành hai loại là: pháp luật quốc gia và điều ước quốc tế.
1.2.1 Nguồn luật điều chỉnh
1.2.1.1 Pháp luật quốc gia
Nguồn pháp luật quốc gia gồm pháp luật trong nước và pháp luật nước ngoài.
Nguồn pháp luật trong nước là loại nguồn khá phổ biến để điều chỉnh quan hệ ly hôn
có yếu tố nước ngoài bởi nó chứa đựng các nguyên tắc, các quy phạm pháp luật điều
chỉnh vấn đề này. Pháp luật trong nước là hệ thống pháp luật thành văn, vì vậy pháp
luật điều chỉnh quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài nó nằm rải rác trong các văn bản
pháp luật bao gồm:
Hiến pháp: là nguồn quan trọng nhất vì nó là văn bản có giá trị pháp lý cao nhất,
trong đó quy định tất cả các nguyên tắc cơ bản về mặt pháp lý đối với tất cả các vấn đề
quan trọng của đất nước. Vì vậy, quyền hôn nhân đã được quy định cụ thể trong Hiến
GVHD:Ths. Bùi Thị Mỹ Hương

13

SVTH: Huỳnh Thị Tú


Luận văn tốt nghiệp

1.2.1.2.Điều ước quốc tế
Điều ước quốc tế là văn bản pháp lý thể hiện sự thỏa thuận giữa các chủ thể của
luật quốc tế trên cơ sở bình đẳng, tự nguyện nhằm ấn định, thay đổi hoặc chấm dứt
quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ quốc tế và đảm bảo được các nguyên tắc
cơ bản của luật quốc tế.
Đối với vấn đề hôn nhân và gia đình thì điều ước quốc tế chứa đựng các quy
phạm xung đột nhằm điều chỉnh mối quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước
GVHD:Ths. Bùi Thị Mỹ Hương

14

SVTH: Huỳnh Thị Tú


Luận văn tốt nghiệp

Pháp luật Việt Nam về vấn đề ly hôn có yếu tố nước ngoài

ngoài, trong đó có vấn đề ly hôn có yếu tố nước ngoài. Điều ước quốc tế không quy
định cụ thể việc điều chỉnh ly hôn có yếu tố nước ngoài mà chủ yếu là quy định
nguyên tắc chọn luật áp dụng để điều chỉnh vấn đề ly hôn có yếu tố nước ngoài. Hiện
nay thì Việt Nam chưa tham gia và ký kết điều ước đa phương về lĩnh vực hôn nhân và
gia đình với các nước nhưng vấn đề ký kết và tham gia điều ước song phương về quan
hệ hôn nhân và gia đình thì ngày càng được mở rộng. Điều ước quốc tế về Ly hôn có
yếu tố nước ngoài được áp dụng ở Việt Nam hiện nay đó là những Hiệp định tương trợ
tư pháp mà Việt Nam đã tham gia ký kết. Hiệp định tương trợ tư pháp đã góp phần
giải quyết hàng loạt vấn đề về hợp tác tư pháp mà đặc biệt là lĩnh vực ly hôn có yếu tố
nước ngoài nhằm đảm bảo quyền và lợi ích của công dân trên lãnh thổ của nhau. Một
số hiệp định tương trợ tư pháp mà Việt Nam đã ký kết với các nước như: Với Nga vào
năm 1998, Séc và Slovakia năm 1982, Cu Ba 1984, Ba Lan năm 1993, Trung Quốc và


Pháp luật Việt Nam về vấn đề ly hôn có yếu tố nước ngoài

Theo một số quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 thì quy phạm
xung đột dẫn chiếu đến pháp luật đã được quy định cụ thể để giải quyết và tại khoản 1
Điều 104 quy định: “Việc ly hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài với
nhau thường trú tại Việt Nam được giải quyết theo Luật này”, trong trường này, dẫn
chiếu đến pháp luật Việt Nam được áp dụng. Còn quy định tại khoản 3 Điều này dẫn
chiếu có thể áp dụng đến pháp luật của nước thứ ba nước nơi có bất động sản
Tóm lại, phương pháp xung đột một mặt nó luôn được hoàn thiện và pháp điển
hóa trong hệ điều kiện quốc tế hóa đời sống quốc tế, mặt khác nó cũng lại luôn được
bổ sung và hoàn thiện hóa trong luật pháp của mỗi quốc gia. Phương pháp xung đột
được áp dụng khá phổ biến để điều chỉnh quan hệ hôn nhân và gia đình nói chung và
ly hôn có yếu tố nước ngoài nói riêng thông qua việc áp dụng các quy phạm xung đột.
Quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài ngày càng đa dạng và phức tạp hơn vì vậy
phương pháp điều chỉnh về quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài cũng trở nên đa dạng
và phức tạp để phù hợp hơn và các quy phạm xung đột được áp dụng ngày càng nhiều
để điều chỉnh vấn đề này.
1.2.2.2 Phương pháp thực chất
Phương pháp thực chất được xây dựng trên cơ sở của những quy định thực chất
nhằm giải quyết trực tiếp các vấn đề phát sinh trong quan hệ dân sự có yếu tố nước
ngoài, đặc biệt là trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài. Nó quy
định cụ thể quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia vào mối quan hệ đó.
Các quy phạm thực chất có thể nằm trong điều ước quốc tế hay còn gọi là quy
phạm thực chất thống nhất, còn các quy phạm thực chất được xây dựng trong các văn
bản pháp luật của mỗi nước được gọi là quy phạm thực chất trong nước. Các quy định
cụ thể điều chỉnh quyền và nghĩa vụ trong quan hệ hôn nhân nói chung và quan hệ ly
hôn nói riêng là quy phạm thực chất trong nước. Còn các quy định điều chỉnh quyền
và nghĩa vụ trong điều ước quốc tế và hiệp định tương trợ tư pháp là quy phạm thực
chất thống nhất. Quy phạm thực chất thống nhất sẽ có giá trị pháp lý cao hơn quy

về ly hôn có yếu tố nước ngoài thường hay xảy ra. Để giải quyết vấn đề ly hôn có yếu
tố nước ngoài thì phải chịu sự điều chỉnh pháp luật của các quốc gia khác nhau. Xung
đột pháp luật cũng mang lại một số tiêu cực cho các cơ quan tiến hành giải quyết vấn
đề ly hôn có yếu tố nước ngoài hay các chủ thể tham gia vào quan hệ đó đối với các
quốc gia. Cùng một vấn đề nhưng lại chịu sự điều chỉnh của nhiều quốc gia khác nhau
dẫn đến tình trạng khó khăn trong việc xác định thẩm quyền giải quyết của các quốc
gia. Bên cạnh đó, việc xung đột thẩm quyền cũng có sự thay đổi hệ thống pháp luật
của các quốc gia đề phù hợp và cũng ảnh hưởng không nhỏ đến quyền lợi của các chủ
thể tham gia vào mối quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài. Nhưng xung đột pháp luật
cũng mang lại một số mặt tích cực như với việc tiếp cận của nhiều hệ thống pháp luật
khác nhau cũng giúp cho các quốc gia liên quan có thể nhận thấy được những hạn chế
của hệ thống pháp luật của nước mình từ đó điều chỉnh cho phù hợp và hoàn thiện
hơn.
1.3.1.2 Nguyên nhân dẫn đến xung đột pháp luật
Xét từ định nghĩa về xung đột pháp luật về ly hôn có yếu tố nước ngoài thì có hai
nguyên nhân chủ yếu dẫn đến xung đột pháp luật là: Pháp luật về hôn nhân và gia đình
của các quốc gia hữu quan khác nhau hay pháp luật của các quốc gia khác nhau nên
xây dựng pháp luật về hôn nhân và gia đình cũng khác nhau, do sự phát triển các quan
hệ mang tính chất dân sự có yếu tố nước ngoài.

Giáo trình tư pháp quốc tế - trường Đại học Luật Hà Nội, trang 27
Giáo trình tư pháp quốc tế - trường Đại học Luật Hà Nội, trang 36

GVHD:Ths. Bùi Thị Mỹ Hương

17

SVTH: Huỳnh Thị Tú



thời kỳ tư bản chủ nghĩa được xem là thời kỳ phát triển mạnh mẽ quan hệ thương mại
trong phạm vi một quốc gia cũng như trên phạm vi toàn thế giới, vấn đề xung đột pháp
luật nảy sinh thường xuyên hơn trước. Vì vậy, sự phát triển của quan hệ dân sự có yếu
tố nước ngoài là một trong những nguyên nhân dẫn đến xung đột pháp luật trong quan
hệ dân sự có yếu tố nước ngoài và quan hệ về ly hôn có yếu tố nước ngoài nói riêng.

1.3.2 Nguyên tắc giải quyết xung đột pháp luật đối với vấn đề ly hôn có yếu tố
nước ngoài
GVHD:Ths. Bùi Thị Mỹ Hương

18

SVTH: Huỳnh Thị Tú


Luận văn tốt nghiệp

Pháp luật Việt Nam về vấn đề ly hôn có yếu tố nước ngoài

Hiện tượng có hai hay nhiều hệ thống pháp luật cùng điều chỉnh về quan hệ ly
hôn có yếu tố nước ngoài gọi là hiện tượng xung đột pháp luật. Đối với vấn đề ly hôn
có yếu tố nước ngoài pháp luật Việt Nam có đưa ra cụ thể để điều chỉnh vấn đề này
giúp chọn luật phù hợp để giải quyết xung đột pháp luật về ly hôn có yếu tố nước
ngoài để giải quyết một cách phù hợp nhất. Tại khoản 2 và 3 Điều 104 Luật Hôn nhân
và gia đình năm 2000 có quy định: “Trong trường hợp bên là công dân Việt Nam
không thường trú tại Việt Nam vào thời điểm yêu cầu ly hôn thì việc ly hôn được giải
quyết theo pháp luật của nước nơi thường trú chung của vợ chồng”; “ Việc giải quyết
tài sản là bất động sản ở nước ngoài khi ly hôn tuân theo pháp luật của nước nơi có
bất động sản đó.”. Từ hai quy định trên có thể thấy rằng pháp luật Việt Nam áp dụng
hai nguyên tắc luật nơi cư trú và luật nơi có tài sản để giải quyết mối quan hệ ly hôn có


Luận văn tốt nghiệp

Pháp luật Việt Nam về vấn đề ly hôn có yếu tố nước ngoài

hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài sẽ dựa theo pháp luật của nước mà đương sự cư trú.
Tuy nhiên mỗi quốc gia sẽ có khái niệm về nơi cư trú sẽ không hoàn toàn giống nhau,
tùy theo điều kiện của từng nước mà có quy định về nơi cư trú phù hợp với pháp luật
của từng quốc gia. Cụ thể như pháp luật Việt Nam quy định về nơi cư trú tại khoản 2
Điều 104 Luật Hôn nhân và gia đình quy định: “Trong trường hợp bên là công dân
Việt Nam không thường trú tại Việt Nam vào thời điểm yêu cầu ly hôn thì việc ly hôn
sẽ được giải quyết theo pháp luật của nước nơi thường trú chung vợ chồng” theo điều
khoản này thì pháp luật sẽ được áp dụng để giải quyết vấn đề ly hôn là dựa vào nơi cư
trú của đương sự. Không chỉ được quy định trong pháp luật Việt Nam và còn được áp
dụng nguyên tắc nơi cư trú mà Việt Nam cùng các nước ký kết thông qua Hiệp định
tương trợ tư pháp. Ví dụ: Tại khoản 1 điều 25 Hiệp định tương trợ tư pháp và pháp lý
giữa Việt Nam và Liên Bang Nga năm 1998 quy định: Quan hệ nhân thân và quan hệ
giữa tài sản vợ chồng được xác định theo pháp luật của bên ký kết nơi họ cùng cư trú.
Vậy việc áp dụng hệ thuộc luật nơi cư trú không chỉ nằm trong quy định của quốc gia
mà nó còn là quy định thống nhất dựa trên sự thỏa thuận của các quốc gia bằng điều
ước quốc tế để giải quyết xung đột pháp luật về ly hôn có yếu tố nước ngoài, góp phần
đơn giản hóa quá trình dẫn chiếu quy phạm xung đột để các cơ quan có thẩm quyền
giải quyết nhanh chóng việc ly hôn có yếu tố nước ngoài.
1.3.2.3 Nguyên tắc luật nơi có vật
Luật nơi có vật (Lex reisita) theo tư pháp quốc tế luật nơi có vật được hiểu là “Vật
(tài sản) hiện đang tồn tại ở nước nào thì luật của nước đó được áp dụng đối với tài
sản đó”3. Hệ thuộc luật nơi có vật được áp dụng rộng rãi trong các mối quan hệ trong
đó có mối quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài. Nguyên tắc này áp dụng chủ yếu để
giải quyết quan hệ về sở hữu có yếu tố nước ngoài, trong đó gải quyết tranh chấp về
bất động sản sau vụ việc ly hôn có yếu tố nước ngoài. Do bất động sản có đặc trưng là

về nguyên tắc thì tòa án chỉ áp dụng pháp luật của nước mình. Đây là nguyên tắc được
hầu hết các nước ghi nhận và được áp dụng phổ biến nhất trong tư pháp quốc tế. Theo
Khoản 3 Điều 2 Bộ Luật Tố Tụng Dân Sự năm 2004 qui định: “Bộ luật tố tụng dân sự
được áp dụng đối với việc giải quyết các vụ viêc dân sự có yếu tố nước ngoài, trừ
trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc gia
nhập có quy định khác thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế đó”. Như vậy, tòa án
Việt Nam sẽ giải quyết vấn đề ly hôn có yếu tố nước ngoài theo trình tự thủ tục và áp
dụng pháp luật Việt Nam trừ trường hợp có điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia
ký kết.
1.4 Hệ quả của việc ly hôn có yếu tố nước ngoài
Nếu như kết hôn được xem là cơ sở pháp lý hình thành nên mối quan hệ hôn
nhân, mà tài sản có liên quan đến mối quan hệ đó, thì ly hôn lại được xem là cơ sở để
chấm dứt mối quan hệ hôn nhân và tài sản đó. Đối với pháp luật Việt Nam thì giải
quyết vấn đề ly hôn có yếu tố nước ngoài về quan hệ tài sản của vợ chồng sau ly hôn
sẽ tuân theo pháp luật của nước vợ chồng cư trú hoặc mang quốc tịch. Còn đối vấn đề
ly hôn có yếu tố nước ngoài có liên quan đến giải quyết về bất động sản sẽ tuân theo
pháp luật của nước nơi có bất động sản đó. Hiện nay pháp luật Việt Nam chưa có quy
định cụ thể, riêng biệt để giải quyết quan hệ nhân thân và tài sản đối với trường hợp ly
hôn có yếu tố nước ngoài, vì vậy khi giải quyết vấn đề này tòa án sẽ áp dụng pháp luật
chung về điều kiện cũng như căn cứ cho ly hôn, nếu trường hợp ly hôn có yếu tố nước
ngoài thuộc thẩm quyền của tòa án Việt Nam, thì tòa án Việt Nam sẽ thụ lý và giải
quyết dựa vào cơ sở pháp lý từ Luật Hôn nhân và gia đình, Bộ luật dân sự và các văn
bản liên quan để giải quyết các vấn đề hệ quả sau ly hôn có yếu tố nước ngoài và có
liên quan đến mối quan hệ nhân thân và tài sản liên quan.
1.4.1 Quan hệ nhân thân
1.4.1.1 Quan hệ giữa vợ chồng sau ly hôn
GVHD:Ths. Bùi Thị Mỹ Hương

21


khác biệt. Đối với con chưa thành niên hay con đã thành niên nhưng bị một số hạn chế
như tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động hay không có tài
sản để nuôi chính bản thân mình căn cứ vào điều kiện của cha hoặc mẹ sau khi ly hôn
thì họ sẽ được cha hoặc mẹ chăm sóc giáo dục nuôi dưỡng để đảm bảo lợi ích của con
cái sau này. Vấn đề con cái sau ly hôn không chỉ dừng lại ở đó mà còn phát sinh một
số vấn đề như: sau ly hôn con cái không thể chung sống với cả cha lẫn mẹ, do vậy việc
giao con cho một trong hai người nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục là điều hết sức cần
thiết. Vì vậy, khi giải quyết vấn đề con cái sau ly hôn thì tòa án cần cân nhắc thật kỹ
trước khi đưa ra quyết định giao con cho ai nuôi dưỡng để đảm bảo cuộc sống cũng
như môi trường giáo dục cho con cái tốt nhất. Bên cạnh giải quyết việc giao con cho ai
nuôi dưỡng còn có vấn đề cấp dưỡng cũng như vấn đề thay đổi quyền nuôi con cũng là
một trong những vấn đề phát sinh từ ly hôn cũng như ly hôn có yếu tố nước ngoài.
GVHD:Ths. Bùi Thị Mỹ Hương

22

SVTH: Huỳnh Thị Tú


Luận văn tốt nghiệp

Pháp luật Việt Nam về vấn đề ly hôn có yếu tố nước ngoài

Vì vậy, để xác định được người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con cái
đều trên cơ sở đảm bảo lợi ích cho con cái có thể phát triển một cách tốt nhất, hoàn
thiện nhất giúp con có thể hòa nhập với môi trường mới để không ảnh hưởng đến tâm
sinh lý của con cái sau này. Để giải quyết vấn đề con cái sau ly hôn có yếu tố nước
ngoài thì Tòa án luôn phải xem xét thật kỹ để có thể giao con cho người trực tiếp nuôi
dưỡng phù hợp nhất.
1.4.2 Quan hệ về tài sản


SVTH: Huỳnh Thị Tú


Luận văn tốt nghiệp

Pháp luật Việt Nam về vấn đề ly hôn có yếu tố nước ngoài

tài sản liên quan ở nước ngoài và chia tài sản có liên quan đến bất động sản ở nước
ngoài cũng không hề dễ dàng đối với các cơ quan pháp luật của Việt Nam. Theo quy
định của pháp luật Việt Nam mà cụ thể là Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 xác
định: “Việc chia tài sản khi ly hôn có thể do các bên tự thỏa thuận, nếu không thỏa
thuận được thì có thể yêu cầu tòa án giải quyết. Tài sản riêng của bên nào thì thuộc sở
hữu của người đó”4. Sau khi ly hôn thì tài sản của bên nào thì thuộc quyền sở hữu của
bên đó và không phải chia lại bất kỳ phần tài sản nào cho bên kia. Để được nhận tài
sản riêng đó thì vợ, chồng phải chứng minh được đó là tài sản riêng của mình để Tòa
án có căn cứ công nhận đó là tài sản riêng của mình. Việc chứng minh có thể do bên
kia thừa nhận hoặc các giấy tờ liên quan thuộc sở hữu của mình trước hoặc trong thời
kỳ hôn nhân. Trong trường hợp không chứng minh được tài sản đó là tài sản riêng của
mình thì khối tài sản riêng đang tranh chấp sẽ được coi là tài sản chung5.
Khi giải quyết chia tài sản riêng vợ chồng sau ly hôn, thì Tòa án cần xem xét thật
kỹ khối tài sản riêng ẩn chứa trong khối tài sản chung hiện có nhằm tránh đi những
trường hợp thật sự là tài sản riêng nhưng phải đưa ra chia và xem đó là tài sản chung
vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân.
1.5 Lịch sử phát triển của pháp luật Việt Nam về ly hôn có yếu tố nước ngoài
Hôn nhân là một hiện tượng xã hội mang tính giai cấp, vì vậy trong từng giai
đoạn lịch sử ở mỗi chế độ khác nhau, giai cấp thống trị xã hội đều thông qua nhà nước
và pháp luật quy định chế độ hôn nhân phù hợp với lợi ích của giai cấp mình và nhà
nước mình từ đó đưa ra những điều kiện thích hợp nhằm xóa bỏ chế độ hôn nhân,
chấm dứt mối quan hệ vợ chồng hay còn gọi là ly hôn. Vì vậy, ly hôn có yếu tố nước

Nhưng đến ngày 17/04/1946 Sắc lệnh số 51 ra đời đã đánh dấu bước phát triển
mới trong việc quy định vấn đề ly hôn có yếu tố nước ngoài. Tại Sắc lệnh 51 cũng quy
định cụ thể thẩm quyền của Tòa án giải quyết các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài
và có quy định cụ thể tại Điều 1 Sắc lệnh 51 như sau: “Trong toàn cõi Việt Nam, tòa
án Việt Nam có thẩm quyền đối với mọi người, bất cứ quốc tịch nào” .Tuy nhiên, ở
quy định này không quy định cụ thể về vấn đề giải quyết vụ việc ly hôn có yếu tố nước
ngoài mà chỉ quy định chung chung về thẩm quyền.
Trong giai đoạn này một văn bản có giá trị cao nhất lần đầu tiên đề cập đến quan
hệ hôn nhân đó là Hiến pháp năm 1946, được Quốc Hội thông qua ngày 9/11/1946. tại
Điều 9 Hiến pháp cũng quy định cụ thể: “Đàn bà ngang quyền với đàn ông về mọi
phương diện”. Đây là cơ sở pháp lý đầu tiên nêu lên quyền bình đẳng giữa nam và nữ
trong mối quan hệ hôn nhân, đó cũng chính là nguyên tắc giải quyết quan hệ hôn nhân
trong thời kỳ mới, và nguyên tắc này nhanh chóng được thể hiện trong các sắc lệnh ra
đời sau đó. Một quy định mới về giải quyết vấn đề ly hôn có yếu tố nước ngoài, ích đề
cập đến là thủ tục hòa giải trong tố tụng khi giải quyết vụ việc ly hôn có yếu tố nước
ngoài trong giai đoạn hiện tại thông qua sắc lệnh 85-SL được Chủ tịch nước Việt Nam
dân chủ cộng hòa thông qua ngày 22/5/1950. Cùng ngày thì Sắc lệnh số 97- SL cũng
được ra đời, quy định sửa đổi một số quy lệ, chế định dân luật và tuyên bố bãi bỏ việc
thi hành ba bộ luật dân sự (bộ dân luật Bắc kỳ 1931, Bộ dân luật Trung kỳ 1936 và bộ
dân luật giản yếu Nam kỳ 1983) trên toàn cõi Việt Nam. Đánh dấu bước phát triển mới
và đề cập nhiều hơn về quan hệ hôn nhân và gia đình và vấn đề ly hôn là sắc lệnh số
159 – SL được ban hành ngày 17/11/1950 Mặc dù có đề cập nhiều đến quan hệ hôn
nhân nhưng sắc lệnh cũng chưa đề cập đến quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài và
vấn đề ly hôn có yếu tố nước ngoài, Sắc lệnh này cũng được xem là nền tảng cho pháp
luật Việt Nam về vấn đề ly hôn có yếu tố nước ngoài sẽ được phát triển tiếp sau đó.
Nhìn chung thì pháp luật điều chỉnh quan hệ hôn nhân và gia đình, quan hệ hôn
nhân và gia đình thời kỳ này đã có bước phát triển và cũng đã đề cập đến quan niệm về
ly hôn nhưng chưa có một quy định cụ thể để điều chỉnh về quan hệ hôn nhân và gia
đình có yếu tố nước ngoài đặc biệt là ly hôn có yếu tố nước ngoài. Tuy nhiên các quy


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status