Website: Email : Tel : 0918.775.368
LỜI MỞ ĐẦU :
Nền kinh tế của Việt Nam trong năm nay nói riêng và trong thời gian
gần đây nói chung đã có những bước phát triển vượt bậc . Thành tựu kinh tế
lớn nhất của nước ta trong năm 2007 là các dòng vốn đầu tư nước ngoài
(FDI) của các dự án (kể cả các dự án bổ sung vốn) đạt 20,3 tỉ USD, vượt kế
hoạch 7 tỷ và là mức cao nhất từ trước đến nay ,có 4 quốc gia và vùng lãnh
thổ đạt trên 1 tỉ USD vốn đầu tư mới là: Hàn Quốc 3.686,9 triệu USD; Quần
đảo Virgin thuộc Anh 3.501 triệu USD; Xin-ga-po 1.551,5 triệu USD; Đài
Loan 1.141,9 triệu USD.
Dẫu rằng có nhiều khó khăn về thiên tai lớn, dịch bệnh diễn biến phức
tạp và sự biến động thị trường bất lợi như giá cả tăng song GDP nước ta vẫn
tăng cao 8,44% , cao hơn năm 2006 và cao nhất trong 11 năm trở lại đây ,
đạt chỉ tiêu đề ra của nă m (8,0 – 8,5 % ), đứng thứ 3 châu Á (sau Trung
Quốc 11,3 % và Ấn Độ 9 %) và đứng đầu khu vực Đông Nam Á , duy trì
được tốc độ tăng trưởng ổn định bình quân 7,5% trong 5 năm 2001 – 2005
và năm 2006 là 8,17% . Cơ cấu kinh tế theo gía thực tế chuyển dịch theo
hướng tích cực : GDP khu vực nông lâm ngư nghiệp và thủy sản giảm xuống
còn 20% so với 20,81 % năm 2006, công nghiệp và xây dựng tăng dần
chiếm trên 41,7 % so với 41,56 % và khu vực dịch vụ tăng nhẹ , chiếm
38,30% so với 38,08% trong hai năm tương ứng .Do kinh tế tăng trưởng cao
nên tình hình tài chính lành mạnh, thu chi ngân sách nhà nước cân đối, bội
chi ngân sách trong phạm vi Quốc hội cho phép. Theo Bộ Tài chính, tổng
thu ngân sách nhà nước cả năm 2007 ước đạt 287.900 tỉ đồng, vượt dự toán
cả năm (dự toán 281.900 tỉ đồng) và tăng 11,6% so với năm 2006 . Sản xuất
công nghiệp tăng trưởng khá cao, du lịch khởi sắc ,xuất khẩu đạt mức cao
1
Website: Email : Tel : 0918.775.368
nhất từ trước đến nay và tăng trưởng với tốc độ cao . Nhờ những thành tựu
trên mà Việt Nam được World Bank đánh giá là tăng trưởng tốt .
Bên cạnh những thành tựu , chúng ta cũng cần phải đề cập đến một số
pháp nâng cao chất lượng thanh toán bằng phương thức tín dụng chứng
từ ” bởi tín dụng chứng từ là một phương thức thanh toán quốc tế ưu việt
được sử dụng phổ biến ở các nước tiên tiến nhưng vẫn còn tương đối mới
mẻ ở Việt Nam . Hy vọng những nghiên cứu của em sẽ góp phần nào đó
trong việc đưa chúng ta tiếp cận với thanh toán bằng tín dụng chứng từ , từ
đó tiến tới trình độ thanh toán quốc tế hiện đại , tiên tiến .
Mặc dù đã cố gắng rất nhiều nhưng bản chuyên đề của em không
tránh khỏi những thiếu sót , những hạn chế cả về lí thuyết và thực tiễn , vì
vậy em rất mong nhận được sự góp ý của các thầy giáo , cô giáo để chuyên
đề của em sâu sắc hơn , hoàn thiện hơn .
Em xin chân thành cảm ơn PGS .TS thầy giáo Lê Đức Lữ đã tận tình
giúp đỡ ,chỉ bảo em trong suốt quá trình thực hiện chuyên đề này .
Hà Nội ngày 30 tháng 4 năm 2008
3
Website: Email : Tel : 0918.775.368
CHƯƠNG MỘT : LÝ LUẬN VỀ THANH
TOÁN QUỐC TẾ CỦA NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI.
1.1 Vai trò thanh toán quốc tế của ngân hàng thương mại.
1.1.1 Khái niệm về thanh toán quốc tế :
Thanh toán quốc tế là việc thanh toán các nghĩa vụ tiền tệ phát sinh từ
các quan hệ kinh tế, thương mại và các mối quan hệ khác giữa các chủ thể
của các nước có liên quan. Khác với thanh toán trong nước, thanh toán quốc
tế có các đặc điểm riêng:
- Chủ thể tham gia vào hoạt động thanh toán quốc tế ở các quốc gia
khác nhau. Mỗi giao dịch thanh toán quốc tế liên quan tới tối thiểu hai quốc
gia, thông thường là ba quốc gia.
- Hoạt động thanh toán liên quan đến hệ thống pháp luật của các quốc
gia khác nhau, thậm chí đối nghịch nhau. Do tính phức tạp đó các bên tham
gia thường lựa chọn các quy phạm pháp luật mang tính thống nhất và theo
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Ngoài hai loại thanh toán nêu trên, trong thương mại quốc tế còn có
thanh toán vay nợ, viện trợ. Thực chất loại thanh toán này cũng là thanh toán
mậu dịch nhưng chỉ khác ở nguồn vốn, thanh toán mậu dịch được thực hiện
bằng vốn tự có, còn thanh toán vay nợ hay viện trợ do nước ngoài cấp vốn.
Ngày nay, hình thức thanh toán này chiếm một tỷ trọng khá lớn, nhất là ở
các nước bắt đầu phát triển hay các nước đang phát triển để thanh toán các
khoản nợ, khoản viện trợ tới kỳ hạn hoàn trả của quốc gia.
Về cơ bản thanh toán quốc tế phát sinh trên cơ sở hoạt động thương
mại quốc tế. Khi đề cập đến hoạt động thương mại quốc tế là đề cập đến
quan hệ mua bán, trao đổi hàng hoá giữa các nước. Thanh toán quốc tế là
khâu cuối cùng của một quá trình sản xuất và lưu thông hàng hoá, do vậy
nếu công tác thanh toán quốc tế được tổ chức tốt thì giá trị hang xuất khẩu
mới được thực hiện, góp phần thúc đẩy thương mại quốc tế phát triển. Thanh
toán quốc tế trở thành một yếu tố quan trọng để nâng cao hiệu quả hoạt động
đối ngoại.
Thanh toán quốc tế thực sự phức tạp, nhất là trong điều kiện hiện nay,
khi nền kinh tế thế giới có nhiều bất ổn, tỷ giá hối đoái biến động liên tục, vì
vậy yêu cầu đặt ra cho công tác thanh toán quốc tế là đảm bảo an toàn cho
các hợp đồng nhập khẩu, các khoản doanh thu hàng xuất khẩu thu về một
cách kịp thời, chính xác, an toàn.
1.1.2 Vai trò của thanh toán quốc tế
1.1.2.1 Vai trò của thanh toán quốc tế đối với nền kinh tế
Hoạt động thanh toán quốc tế ngày càng có vị trí quan trọng trong quá
trình phát triển kinh tế đất nước, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay khi chúng
6
Website: Email : Tel : 0918.775.368
ta đang tiến hành sự nghiệp xây dựng đất nước. Thông qua hoạt động thanh
chức năng ngân hàng quốc tế của ngân hàng thương mại.
Trong thanh toán quốc tế, ngân hàng không chỉ đóng vai trò trung gian
thanh toán, mà còn tư vấn cho khách hàng về điều kiện thanh toán, hướng
dẫn về kỹ thuật thanh toán quốc tế nhằm giảm rủi ro, bảo vệ quyền lợi cho
khách hàng, tạo sự an tâm, tin tưởng cho khách hàng trong giao dịch ngoại
thương.
Trong điều kiện cạnh tranh giữa các ngân hàng, đặc biệt là với các ngân
hàng liên doanh và chi nhánh ngân hàng nước ngoài ngày càng gay gắt và xu
hướng phát triển ngoại thương, đầu tư tài chính mang tính quốc tế như hiện
nay, thanh toán quốc tế là nghiệp vụ không thể thiếu để ngân hàng thương
mại có thể ít nhất là giữ được khách hàng như hiện có, đồng thời tạo cơ hội
thu hút thêm khách hàng mới.
b, Thanh toán quốc tế góp phần tăng thu nhập cho NHTM
Ngoài việc vốn huy động được tăng, tạo điều kiện mở rộng hoạt động
tín dụng, nhờ có hoạt động thanh toán quốc tế, ngân hàng còn tạo ra nguồn
thu đáng kể từ thu phí dịch vụ thanh toán, tài trợ xuất khẩu, mua bán ngoại
tệ…
c, Thanh toán quốc tế làm giảm rủi ro trong kinh doanh
8
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Thông qua hoạt động thanh toán quốc tế, ngân hàng có thể quản lý việc
sử dụng vốn vay và giám sát được tình hình kinh doanh của khách hàng, tạo
điều kiện quản lý và nâng cao hiệu quả đầu tư. Mặt khác, việc kinh doanh đa
năng là phương sách hiệu quả để phân tán rủi ro trong kinh doanh của ngân
hàng.
d, Thanh toán quốc tế làm tăng tính thanh khoản của NHTM
Nghiệp vụ thanh toán quốc tế không chỉ tạo điều kiện thu hút khách
hàng, làm tăng số dư tiền gửi thanh toán, mà trong quá trình thực hiện các
phương thức thanh toán quốc tế cho khách hàng, đặc biệt là phương thức tín
dụng chứng từ, những khoản tiền ký quỹ mở thư tín dụng của khách hàng
có thể thương lượng để giảm giá . Đối với người xuất khẩu : do được trả
trước , người xuất khẩu tránh được rủi ro nếu người mua mất khả năng thanh
toán , tiết kiệm được chi phí quản lý , do thanh toán trước nên trạng thái hối
đoái tiền tệ luôn ở tình trạng được tăng cường .
Về mặt nhược điểm : đối với người nhập khẩu : khả năng nhận được
hàng tủy thuộc vào uy tín và khả năng giao hàng của người bán , nếu hàng
hóa không đúng như thỏa thuận thì việc đòi tiền sẽ rất khó khăn , do đó phải
mua bảo hiểm hàng hóa , sẽ phát sinh thêm chi phí , hơn nữa việc phải trả
trước tiền hàng khiến cho khả năng thanh toán của người nhập khẩu bị giảm
10
Website: Email : Tel : 0918.775.368
. Đối với người xuất khẩu : nếu đã kí hợp đổng mà người nhập khẩu lại
không chịu chuyển tiền , trong khi người xuất khẩu đã mua nguyên vật liệu
để sản xuất thì người bán sẽ phải chịu chi phí lưu kho hoặc khi tìm được
khách hàng khác thì sẽ phải bán giảm giá .
1.2.2 Phương thức thanh toán mở tài khỏan
1.2.2.1 Khái niệm :
Người bán xin mở một tài khoản (hoặc sổ ) để ghi nợ người mua sau
khi người bán đã hoàn thành giao hàng hay dịch vụ , định kỳ sau khi kiểm
tra , đối chiếu theo thỏa thuận giữa hai bên , người mua trả tiền cho người
bán .
Đặc điểm của phương thức mở tài khỏan :
- Đây là một phương thức thanh toán không có sự tham gia của các
ngân hàng với chức năng là ngưòi mở tài khỏan và thực thi thanh toán
- Chỉ mở tài khoản đơn biên, không mở tài khoản song biên .
- Nếu chỉ người mua mở tài khoản để ghi thì tài khoản này chỉ là tai
khoản theo dõi , không có giá trị thanh quyết toán .
- Chỉ có hai bên tham gia thanh toán là người mua và người bán .
Khi áp dụng phương thức thanh tóan này cần lưu ý một số điểm như
, tiền phí bảo hiểm , tiền hoa hồng trong nghiệp vụ môi giới , ủy thác , tiền
lãi cho các khỏan vay và đầu tư .
1.2.2.3 Ý nghĩa kinh tế
Phương thức này có ưu điểm : đối với nhà nhập khẩu : được sử dụng
hàng khi chưa có tiền , giảm được áp lực về tài chính , đối với nhà nhập
khẩu : đơn giản , dễ thực hiện , chi phí thấp , giữ được thị trường , tiêu thụ
được hàng hóa nhiều hơn .
Người mua Người bán
NH bên mua NH bên bán
(1)
(2)
(3)
13
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Tuy nhiên phương thức này cũng chứa đựng nhiều hạn chế : đối với
nhà xuất khẩu : lấy được tiền hàng hay không phụ thuộc hòan toàn vào thiện
chí và khả năng thanh toán của người mua , đọng vốn lớn , chịu chi phí vay
vốn để sản xuất , hiệu quả sử dụng vốn không cao …
1.2.3 Phương thức chuyển tiền
1.2.3.1 Khái niệm
Phương thức chuyển tiền là phương thức mà trong đó khách hàng (người
yêu cầu chuyển tiền) yêu cầu Ngân hàng của mình chuyển một số tiền nhất
định cho một người khác (người hưởng lợi) ở một địa điểm nhất định bằng
phương tiện chuyển tiền do khách hàng quy định.
Các bên tham gia:
- Người yêu cầu chuyển tiền
+ Người trả tiền: người nhập khẩu, người bị ký phát, người chi trả các
chi phí dịch vụ, người trả cổ tức, trái tức, lãi vay Ngân hàng, người trả tiền
phạt, bồi thường…
Nếu cả ngân hàng chuyển tiền và ngân hàng thanh toán đều là thành
viên của hiệp hội viễn thông tài chính liên ngân hàng quốc tế hoặc có quan
15
Website: Email : Tel : 0918.775.368
hệ trao đổi dữ liệu điện tử với nhau, ngân hàng chuyển tiền sẽ gửi lệnh thanh
toán cho ngân hàng thanh toán qua mạng viễn thông đó. Các chỉ thị này đều
được chuẩn hoá và bảo mật hoàn toàn. Nội dung chính trong chỉ thị chuyển
tiền bằng điện cũng tương tự như hình thức chuyển tiền bằng thư.
* Phân loại theo thời điểm thanh toán
- Chuyển tiền ứng trước, đặt cọc:
Điều kiện thanh toán này là một sự cam kết của người nhập khẩu đối với
người xuất khâu trong hợp đồng ngoại thương về việc sẽ trả toàn bộ giá trị
tiền hàng, hoặc sẽ trả một phần trị giá tiền hàng vào một thời điểm trước khi
giao hàng.
- Chuyển tiền sau:
Trong điều kiện thanh toán này, bên bán giao hàng và chứng từ nhận
hàng cho bên mua, bên mua sẽ thanh toán tiền hàng cho bên bán vào thời
điểm theo thoả thuận.
1.2.3.3 Quy trình thanh toán nghiệp vụ theo phương thức trả tiền.
Sơ đồ 2 : Quy trình thanh toán nghiệp vụ theo phương
thức trả tiền
16
Ngân hàng chuyển tiền Ngân hàng đại lý
Người nhập khẩu Người xuất khẩu
(4)
Website: Email : Tel : 0918.775.368
(1): Sau khi ký kết hợp đồng ngoại thương, người xuất khẩu thực hiện cung
ứng hàng hoá, dịch vụ và giao toàn bộ chứng từ hàng hoá cho bên nhập
khẩu.
(2): Người nhập khẩu sau khi kiểm tra chứng từ hoá đơn, lập lệnh chuyển
Các bên tham gia nhờ thu gồm có:
+ Người uỷ thác thu tức là Người hưởng lợi
+ Ngân hàng ở nước người uỷ thác là Ngân hàng nhận sự uỷ thác
chuyển công cụ nhờ thu để nhờ Ngân hàng đại lý của mình ở nước ngoài thu
tiền.
+ Ngân hàng đại lý của Ngân hàng chuyển là Ngân hàng ở nước người
trả tiền, gọi là Ngân hàng nhờ thu hay còn gọi là Ngân hàng xuất trình công
cụ thanh toán để đòi tiền.
+ Người trả tiền hay còn gọi là người bị ký phát.
18
Website: Email : Tel : 0918.775.368
- Phương thức nhờ thu kèm chứng từ: là một phương thức thanh toán
mà trong đó người có các khoản tiền phải thu ghi trên các công cụ thanh
toán, nhưng không thể tự mình thu được từ người bị ký phát mà phải uỷ thác
cho Ngân hàng thu hộ tiền ghi trên công cụ thanh toán với điều kiện là sẽ
giao chứng từ nếu người bị ký phát thanh toán, hoặc chấp nhận thanh toán
hoặc thực hiện các điều kiện khác đã quy định.
Các bên tham gia nhờ thu gồm:
+ Người uỷ thác thu tức là Người hưởng lợi
+ Ngân hàng ở nước Người uỷ thác là Ngân hàng nhận sự uỷ thác
chuyển công cụ nhờ thu để nhờ Ngân hàng đại lý của mình ở nước ngoài thu
tiền.
+ Ngân hàng đại lý của Ngân hàng chuyển tiền là Ngân hàng ở nước
người trả tiền, gọi là Ngân hàng nhờ thu hay còn gọi là Ngân hàng xuất trình
công cụ thanh toán để đòi tiền.
+ Người trả tiền hay còn gọi là Người bị ký phát.
1.2.4.3 Qui trình nghiệp vụ
Sơ đồ 3.1 : Quy trình thanh toán theo phương thức nhờ thu
phiếu trơn
19
chứng từ hàng hoá đến ngân hàng phục vụ mình để nhờ thu hộ tiền người
nhập khẩu.
(3): Ngân hàng thu hộ gửi hối phiếu, chứng từ hàng hoá kèm theo thư uỷ
nhiệm sang ngân hàng đại lý nước nhập khẩu nhờ thu hộ tiền.
(4): Ngân hàng đại lý sau khi kiểm tra, giữ lại bộ chứng từ, gửi hối phiếu đến
người nhập khẩu yêu cầu trả tiền hoặc chấp nhận trả tiền.
(5): Người nhập khẩu thông báo chấp nhận hoặc từ chối thanh toán.
(6): Ngân hàng đại lý chuyển giao chứng từ hàng hoá cho người nhập khẩu
để họ nhận hàng nếu người nhập khẩu đồng ý thanh toán.
(7): Ngân hàng đại lý thực hiện bút toán chuyển tiền và gửi giấy báo có hoặc
hối phiếu đã chấp nhận về ngân hàng thu hộ, hoặc thông báo về từ chối
thanh toán của bên nhập khẩu.
(8): Ngân hàng thu hộ tiền thanh toán hoặc chuyển hối phiếu đã chấp nhận
cho người xuất khẩu hoặc từ chối thanh toán.
21
Ngân hàng thu hộ Ngân hàng đại lý
Người nhập khẩu Người xuất khẩu
(1)
(8) (4) (5) (6)(2)
(3)
(7)
Website: Email : Tel : 0918.775.368
1.2.4.4 Ý nghĩa kinh tế
Nhờ thu có thê nói là phương thức tiềm ẩn nhiều rủi ro cho bên bán ,
đặc biệt là phương thức nhờ thu trơn , việc nhận được tiền hàng hay không
hoàn toàn phụ thuộc vào thiện chí của bên mua , người bán bị đọng vốn . Do
vậy phương thức này chủ yếu áp dụng với các đối tượng mua bán tín nhiệm ,
sòng phẳng hoặc chủng loại hàng hóa đặc biệt .
1.2.5 Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ
- Thư tín dụng xác nhận là loại thư tín dụng mà Người hưởng lợi được
đảm bảo chắc chắn của Ngân hàng xác nhận, cộng thêm vào sự cam kết của
Ngân hàng mở thư tín dụng. Người hưởng lợi sẽ được ngân hàng xác nhận
thanh toán miễn truy đòi nếu xuất trình chứng từ phù hợp, ngay cả trong
trường hợp ngân hàng mở thư tín dụng không thanh toán hoặc không có khả
năng thanh toán. Hơn nữa, người thụ hưởng còn tránh được cả những rủi ro
về ngoại hối hay những rủi ro quốc gia khác của ngân hàng mở thư tín dụng.
23
Website: Email : Tel : 0918.775.368
* Thư tín dụng trả ngay, thư tín dụng trả chậm, thư tín dụng chấp nhận.
- Thư tín dụng trả tiền ngay là loại thư tín dụng trong đó ngân hàng
mở thư tín dụng cam kết trả tiền khi người thụ hưởng xuất trình bộ chứng từ
phù hợp với thư tín dụng.
- Thư tín dụng trả chậm là loại thư tín dụng trong đó ngân hàng mở
thư tín dụng cam kết trả tiền vào một ngày xác dịnh với điều kiện Người thụ
hưởng xuất trình bộ chứng từ theo quy định của thư tín dụng. Loại thư tín
dụng này có thể không có hối phiếu đi kèm bộ chứng từ.
- Thư tín dụng chấp nhận là loại thư tín dụng trong đó ngân hàng mở
thu tín dụng thực hiện chấp nhận hối phiếu với điều kiện Người thụ hưởng
xuất trình bộ chứng từ theo quy định của thư tín dụng. Ngân hàng mở thư tín
dụng trong bất kỳ trường hợp nào cũng phải thanh toán hối phiếu đã chấp
nhận, một khi các điều kiện của thư tín dụng được đáp ứng đầy đủ.
* Thư tín dụng trực tiếp và thư tín dụng cho phép chiết khấu
- Thư tín dụng trực tiếp là loại thư tín dụng trong đó nghĩa vụ thanh
toán của ngân hàng mở thư tín dụng chỉ giới hạn duy nhất đối với người thụ
hưởng của thư tín dụng. Dạng thư tín dụng này thường yêu cầu người thụ
hưởng xuất trình chứng từ trực tiếp cho ngân hàng mở thư tín dụng.
- Thư tín dụng cho phép chiết khấu là loại thư tín dụng trong đó ngân
hàng mở thư tín dụng uỷ quyền cho một ngân hàng nhất định hoặc cho phép
bất kỳ ngân hàng nào mua lại bộ chứng từ hoàn hảo do người thụ hưởng
25