TRƢỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
BỘ MÔN LUẬT THƢƠNG MẠI
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
NIÊN KHÓA 2011-2015
Đề tài:
QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ AN TOÀN LAO ĐỘNG
VỆ SINH LAO ĐỘNG
THỰC TRẠNG TẠI TỈNH HẬU GIANG
Giáo viên hướng dẫn:
Võ Thị Bảo Trâm
Sinh viên thực hiện:
Nguyễn Ngọc Hiền
Bộ môn Luật Thƣơng Mại
Khoa Luật - ĐHCT
MSSV: 5117304
Lớp: Luật Tƣ Pháp K37
Cần Thơ, 12/2014
Quy định pháp luật về an toàn lao động vệ sinh lao động - Thực trạng tại tỉnh Hậu Giang
LỜI CẢM ƠN
......................................................................................................................................................
......................................................................................................................................................
......................................................................................................................................................
......................................................................................................................................................
......................................................................................................................................................
......................................................................................................................................................
......................................................................................................................................................
......................................................................................................................................................
......................................................................................................................................................
......................................................................................................................................................
......................................................................................................................................................
......................................................................................................................................................
......................................................................................................................................................
......................................................................................................................................................
......................................................................................................................................................
......................................................................................................................................................
......................................................................................................................................................
......................................................................................................................................................
........................
Cần thơ, Ngày…Tháng…Năm
Chữ ký của giảng viên
GVHD: Võ Thị Bảo Trâm
SVTH: Nguyễn Ngọc Hiền
Quy định pháp luật về an toàn lao động vệ sinh lao động - Thực trạng tại tỉnh Hậu Giang
SVTH: Nguyễn Ngọc Hiền
Quy định pháp luật về an toàn lao động vệ sinh lao động - Thực trạng tại tỉnh Hậu Giang
Mục Lục
LỜI NÓI ĐẦU ..............................................................................................................1
1. Lý do chọn đề tài ................................................................................................................ 1
2. Mục tiêu nghiên cứu ........................................................................................................... 2
3. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu ................................................................... 2
4. Phương pháp nghiên cứu .................................................................................................... 2
5. Kết cấu luận văn ................................................................................................................. 2
Chƣơng 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ AN TOÀN LAO ĐỘNG - VỆ SINH LAO ĐỘNG ............... 4
1.1 Quan hệ pháp luật lao động và chủ thể của quan hệ pháp luật lao động ...................... 4
1.1.1 Quan hệ pháp luật lao động ......................................................................................... 4
1.1.2 Chủ thể của quan hệ pháp luật lao động..................................................................... 5
1.1.2.1 Người lao động..................................................................................................... 5
1.1.2.2 Người sử dụng lao động ....................................................................................... 7
1.2 Khái niệm về an toàn lao động - vệ sinh lao động ............................................................ 7
1.3 Các nguyên tắc về an toàn lao động - vệ sinh lao động ...................................... 10
1.4 Ý nghĩa của các quy định về an toàn lao động - vệ sinh lao động ................................ 13
1.5 Những vấn đề phát sinh, tiền đề để hình thành nên pháp luật về vấn đề an toàn lao
động - vệ sinh lao động................................................................................................................ 16
1.5.1. Bệnh nghề nghiệp ...................................................................................................... 16
1.5.2. Tai nạn lao động ........................................................................................................ 17
1.5.3. Sự cần thiết phải đảm bảo trong an toàn lao động - vệ sinh lao động .................... 17
2.6.2 Xử lý vi phạm hình sự...................................................................................... 46
2.7 Thẩm quyền của nhà nƣớc đối với an toàn lao động - vệ sinh lao động ...................... 47
2.7.1 Quản lý Nhà nước về an toàn lao động - vệ sinh lao động...................................... 47
2.7.2 Thanh tra Nhà nước về an toàn lao động - vệ sinh lao động ................................... 48
CHƢƠNG 3
THỰC TRẠNG VỀ AN TOÀN LAO ĐỘNG VỆ SINH LAO ĐỘNG TẠI TỈNH
HẬU GIANG - MỘT SỐ BẤT CẬP TRONG QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VÀ Ý
KIẾN NHẰM GÓP PHẦN HOÀN THIỆN ................................................................... 50
3.1 Sơ lƣợc về thực trạng vấn đề về an toàn lao động - vệ sinh lao động ở nƣớc ta
........................................................................................................................................ 50
3.2 Thực trạng về an toàn lao động - vệ sinh lao động tại Tỉnh Hậu Giang...............
……………………………………………………………………………………… 53
3.2.1 Số lượng tai nạn lao động và vấn đề an toàn lao động diễn ra tại Tỉnh Hậu
Giang ................................................................................................................................. 53
GVHD: Võ Thị Bảo Trâm
SVTH: Nguyễn Ngọc Hiền
Quy định pháp luật về an toàn lao động vệ sinh lao động - Thực trạng tại tỉnh Hậu Giang
3.2.2 Những nguyên nhân dẫn đến tai nạn về an toàn lao động - vệ sinh lao động
tại Tỉnh Hậu Giang ........................................................................................................... 54
3.2.2.1 Về phía người sử dụng lao động ................................................................ 56
3.2.2.2 Về phía người lao động.............................................................................. 56
3.2.3 Hiệu quả của các biện pháp về an toàn lao động - vệ sinh lao động tại tỉnh
Hậu Giang ......................................................................................................................... 56
người lao động hoang mang, lo lắng, đặt xã hội trước những thách thức về vấn đề an toàn
lao động - vệ sinh lao động. Đặc biệt, trong quá trình toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế thế
giới thì vấn đề an toàn lao động - vệ sinh lao động cũng là một trong những vấn đề quan
trọng thúc đẩy sự cạnh tranh của nền kinh tế nước nhà.
Hiện nay công tác an toàn lao động - vệ sinh lao động mặc dù đã được quan tâm
nhiều hơn, tuy nhiên cũng còn chưa quan tâm đúng mức. Từ những cơ sở pháp lý đến
công tác quản lý, tuyên truyền, thi hành, áp dụng pháp luật vẫn chưa phát huy hiệu quả
cao. Cho nên tình hình tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp cũng vì vậy mà gia tăng cả
về số lượng lẫn mức độ, gây thiệt hại về vật chất cả tinh thần.
Vì vậy, để biết được những nguyên nhân dẫn đến việc không đảm bảo an toàn lao
động - vệ sinh lao động, biện pháp, đặc biệt là tìm hiểu những quy định pháp lý và bất
cập trong lĩnh vực an toàn lao động - vệ sinh lao động, tìm ra những phương hướng cách
khắc phục và những giải pháp phù hợp cho công tác an toàn lao động - vệ sinh lao động
để xây dựng một môi trường lao động lành mạnh. Cho nên người viết đã quyết định chọn
đề tài “Quy định pháp luật về an toàn lao động vệ sinh lao động - Thực trạng tại Tỉnh
Giang” đã đáp ứng được yêu cầu về lý luận và thực tiễn đang đặt ra và có những đóng
góp ý kiến nhằm hoàn thiện pháp luật và thực tế áp dụng pháp luật như hiện nay.
GVHD: Võ Thị Bảo Trâm
1
SVTH: Nguyễn Ngọc Hiền
Quy định pháp luật về an toàn lao động vệ sinh lao động - Thực trạng tại tỉnh Hậu Giang
2. Mục tiêu nghiên cứu
An toàn lao động - vệ sinh lao động ảnh hưởng to lớn đến nhiều mặt của đời sống
xã hội. Vì vậy, tìm hiểu những quy định pháp luật về an toàn lao động - vệ sinh lao động
Chương 2: Quy định pháp luật về an toàn lao động - vệ sinh lao động.
GVHD: Võ Thị Bảo Trâm
2
SVTH: Nguyễn Ngọc Hiền
Quy định pháp luật về an toàn lao động vệ sinh lao động - Thực trạng tại tỉnh Hậu Giang
Chương 3: Thực trạng về an toàn lao động vệ sinh lao động tại Tỉnh Hậu Giang
- Một số bất cập trong quy định pháp luật và ý kiến nhằm góp phần hoàn thiện.
GVHD: Võ Thị Bảo Trâm
3
SVTH: Nguyễn Ngọc Hiền
Quy định pháp luật về an toàn lao động vệ sinh lao động - Thực trạng tại tỉnh Hậu Giang
CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ AN TOÀN LAO ĐỘNG
VỆ SINH LAO ĐỘNG
1.1. Quan hệ pháp luật lao động và chủ thể của quan hệ pháp luật lao động
1.1.1. Quan hệ pháp luật lao động
Lao động giữ một vai trò quan trọng trong lịch sử loài người, lao động là điều kiện
cơ bản, đầu tiên của toàn bộ đời sống con người đến một mức và trên một ý nghĩa nào đó
chúng ta phải nói rằng: lao động đã tạo ra chính bản thân con người, vừa làm giới tự
GVHD: Võ Thị Bảo Trâm
4
SVTH: Nguyễn Ngọc Hiền
Quy định pháp luật về an toàn lao động vệ sinh lao động - Thực trạng tại tỉnh Hậu Giang
lao động mới, các quan hệ này ngày càng đa dạng hơn và phức tạp, đan xen lẫn nhau.
Nhiệm vụ của Nhà nước bằng pháp luật - công cụ quản lý xã hội của mình điều tiết các
mối quan hệ xã hội đảm bảo lợi ích của các bên và lợi ích chung của xã hội. Quan hệ lao
động được các quy phạm pháp luật điều chỉnh hình thành nên quan hệ pháp luật lao động.
Vậy, “quan hệ pháp luật lao động là các quan hệ phát sinh trong quá trình sử dụng
sức lao động của người lao động ở các cơ quan, tổ chức, hợp tác xã, doanh nghiệp thuộc
mọi thành phần kinh tế và các gia đình hay cá nhân có thuê mướn lao động, được các quy
phạm pháp luật lao động điều chỉnh”3.
Quan hệ pháp luật lao động thể hiện sự ràng buộc trách nhiệm giữa người lao động
làm công ăn lương với tổ chức hoặc cá nhân cho thuê mướn, sử dụng lao động. Khi tham
gia quan hệ pháp luật này, người lao động có quyền yêu cầu người sử dụng lao động phải
đáp ứng đầy đủ theo hợp đồng lao động, chấp hành nội quy lao động và chịu sự quản lý
điều hành của người chủ. Mặc khác, phải hoàn thành nghĩa vụ lao động của mình, phải
tuân thủ triệt để tuân thủ những quy định nội bộ. Người sử dụng lao động phải có nghĩa
vụ đảm bảo công việc cho người lao động theo như các bên đã thỏa thuận, tạo điều kiện
cho người lao động hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình, phải trả lương và các chế độ khác
đầy đủ cho người lao động theo quy định của pháp luật, thỏa ước lao động tập thể và hợp
đồng lao động với các hình thức trong xã hội lao động.
1.1.2. Chủ thể của quan hệ pháp luật lao động
Để điều chỉnh quan hệ lao động bằng pháp luật, Nhà nước thường xác định rõ chủ
cũng thực hiện các nghĩa vụ của người lao động. Các quy định này có thể trở thành thực
tế hay không lại phụ thuộc vào khả năng của mỗi công dân (hay năng lực hành vi của họ).
Năng lực hành vi lao động của công dân là khả năng bằng chính hành vi của bản
thân họ tham gia trực tiếp vào quan hệ pháp luật lao động, tự hoàn thành mọi nhiệm vụ,
tạo ra và thực hiện các quyền, hưởng mọi quyền lợi của người lao động.
Năng lực lao động còn thể hiện trên hai yếu tố có tính chất điều kiện là thể lực và
trí lực. Thể lực chính là sức khỏe bình thường của người lao động để có thể thực hiện
được một công việc nhất định. Trí lực là khả năng nhận thức đối với hành vi lao động mà
họ thực hiện công việc với mục đích công việc họ làm. Do đó, muốn có năng lực hành vi
lao động, con người phải trải qua thời gian phát triển của cơ thể và có quá trình tích lũy
kiến thức và kỹ năng lao động.
Pháp luật Việt Nam còn quy định: người lao động là người ít nhất đủ 15 tuổi, có
khả năng lao động và khả năng giao kết hợp đồng4.
Tuy nhiên, đối với một số nghành nghề và công việc được nhận “trẻ em từ đủ 13
tuổi đến dưới 15 tuổi nhưng phải ký kết hợp đồng lao động bằng văn bản với người đại
diện theo pháp luật và phải được sự đồng ý của trẻ”5. Trường hợp này chủ thể lao động
(trẻ em) được xem là người có năng lực hành vi lao động không đầy đủ hay còn gọi là
năng lực hành vi lao động một phần.
Ở đây, cần phân biệt trường hợp năng lực hành vi lao động không đầy đủ với
trường hợp bị hạn chế năng lực hành vi pháp luật, đây là hai vấn đề hoàn toàn khác nhau.
Nhìn chung thì, những người chưa đến độ tuổi quy định, những người mất trí là những
người không có năng lực hành vi lao động.
Ngoài ra, còn có một số trường hợp bị hạn chế năng lực pháp luật lao động trong
trường hợp luật quy định (bị tù giam, bị cơ quan có thẩm quyền cấm đảm nhiệm chức
vụ…). Bên cạnh đó công dân Việt Nam người nước ngoài cũng có thể là chủ thể quan hệ
pháp luật lao động với tư cách là người lao động, những đối tượng này làm việc cho các
tổ chức, cá nhân Việt Nam hoặc các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt
Nam. Đối với các trường hợp người nước ngoài đi làm công tác ngoại giao, các chuyên
gia… không thuộc đối tượng điều chỉnh của luật lao động, các đối tượng này có văn bản
riêng để điều chỉnh6.
mình.
1.2. Khái niệm về an toàn lao động - vệ sinh lao động
An toàn lao động là một chính sách lớn luôn được Đảng và Nhà nước ta coi trọng
và quan tâm. Ngay từ đầu thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hòa Chủ tịch Hồ Chí
Minh ban hành sắc lệnh 29/SL ngày 13/3/1947 về an toàn vệ sinh lao động, thời gian lao
động - nghĩ ngơi, và trong suốt những năm tiếp theo phương hướng phát triển theo công
tác này đều được đưa vào các Nghị quyết, văn kiện của Đảng và trong Bộ Luật Lao động
năm 2012 có một chương quy định riêng về an toàn lao động - vệ sinh lao động.
Bảo hộ lao động là tổng hợp những quy phạm pháp luật của Nhà Nước về an toàn
lao động - vệ sinh lao động nhằm cải thiện điều kiện lao động, ngăn ngừa tai nạn lao
động, bệnh nghề nghiệp và nhằm mục đích bảo vệ sức khỏe cho người lao động. Bảo hộ
lao động là những biện pháp phòng tránh hay xóa bỏ những nguy hiểm cho con người
trong quá trình lao động, nhằm bảo vệ yếu tố năng động nhất của lực lượng sản xuất là
người lao động, chăm lo cho sức khỏe và hạnh phúc của người lao động do đó bảo hộ lao
động mang ý nghĩa nhân đạo sâu sắc. Bên cạnh đó, bảo hộ lao động góp phần tạo tâm lý
an tâm cho người lao động thực hiện tốt nhiệm vụ của mình. Bảo hộ lao động được hiểu
theo hai nghĩa như sau:
Theo nghĩa rộng, bảo hộ lao động là tất cả những biện pháp của nhà nước nhằm
bảo vệ sức khỏe cho người lao động, phòng ngừa ngăn chặn những tai nạn lao động và
các ảnh hưởng có hại khác phát sinh trong quá trình lao động.
Theo nghĩa hẹp, bảo hộ lao động là những quy định của nhà nước về an toàn lao
động - vệ sinh lao động, về chế độ thể lệ bảo hộ lao động nhằm phòng ngừa tai nạn lao
động và bệnh nghề nghiệp.
7
Khoản 2 Điều 3 Bộ Luật Lao động năm 2012
GVHD: Võ Thị Bảo Trâm
mà Nhà nước ta đang quan tâm và đưa ra nhiều chính sách để thực hiện, góp phần không
nhỏ vào việc bảo vệ tính mạng, sức khỏe người lao động.
Vệ sinh lao động là việc phòng ngừa bệnh tật do các chất độc hại gây ra đối với
nội tạng hoặc gây tử vong cho người lao động. Nếu vệ sinh lao động không tốt sẽ gây ra
bệnh nghề nghiệp. Vệ sinh lao động là hệ thống các biện pháp và phương tiện về tổ chức
và kỹ thuật vệ sinh nhằm phòng ngừa sự tác động của các yếu tố có hại trong sản xuất đối
với người lao động.
Vệ sinh lao động bao gồm: các yếu tố khí hậu (nhiệt độ, độ ẩm…), các yếu tố vật
lý (ánh sáng, tiếng ồn, độ rung…), các yếu tố hóa học, tâm sinh lý lao động và các yếu tố
khác trong phạm vi đơn vị sử dụng. Vệ sinh lao động bao gồm các vấn đề chủ yếu như:
xác định khoản cách an toàn về vệ sinh, áp dụng các biện pháp về tổ chức, tuyên truyền
giáo dục và kiến thức về vệ sinh lao động, theo dõi quản lí sức khỏe, tuyển dụng lao
động, biện pháp vệ sinh học, vệ sinh cá nhân môi trường, áp dụng các biện pháp về kỹ
GVHD: Võ Thị Bảo Trâm
8
SVTH: Nguyễn Ngọc Hiền
Quy định pháp luật về an toàn lao động vệ sinh lao động - Thực trạng tại tỉnh Hậu Giang
thuật vệ sinh: kỹ thuật thông gió điều hòa không khí, chống bụi hơi khí độc… do đó các
biện pháp về kỹ thuật vệ sinh phải được quán triệt ngay từ khâu thiết kế xây dựng các
công trình nhà xưởng, nơi sản xuất thiết kế các thiết bị phương tiện công nghệ.
Như vậy, an toàn lao động - vệ sinh lao động là chế định của Luật Lao động mà cụ
thể bảo hộ lao động bao gồm những quy phạm pháp luật quy định việc đảm bảo an toàn
lao động - vệ sinh lao động nhằm bảo vệ tính mạng sức khỏe của người lao động, đồng
thời nhằm duy trì tốt khả năng làm việc lâu dài của người lao động.
Dưới góc độ nhìn theo pháp lý, an toàn lao động - vệ sinh lao động là tổng hợp
GVHD: Võ Thị Bảo Trâm
9
SVTH: Nguyễn Ngọc Hiền
Quy định pháp luật về an toàn lao động vệ sinh lao động - Thực trạng tại tỉnh Hậu Giang
mục đích để bảo vệ con người trong sản xuất, trong cơ sở kinh tế, và khi mọi người tham
gia lao động đều phải có trách nhiệm tham gia nghiên cứu và thực hiện.
Hai là, an toàn lao động - vệ sinh lao động mang tính khoa học kỹ thuật.
Trong công tác an toàn lao động - vệ sinh lao động đòi hỏi phải mang tính khoa
học để phù hợp với cuộc sống hiện nay tránh các tình trạng xảy ra không mong muốn thì
có các ngành khoa học phân chia cơ bản như sau:
- Khoa học về y học lao động: để đánh giá các tác động ảnh hưởng của môi
trường, điều kiện làm việc tới sức khoẻ người lao động và đề xuất các biện pháp phòng
tránh.
- Các ngành khoa học về kỹ thuật vệ sinh: là khoa học nghiên cứu các biện pháp
kỹ thuật nhằm loại bỏ, phòng tránh và hạn chế các tác hại của môi trường và điều kiện
lao động tới người lao động và dân cư xung quanh.
- Kỹ thuật an toàn: là môn khoa khọc nghiên cứu các biện pháp phòng tránh, hạn
chế các nguy cơ rủi ro tác động tới người lao động do các nguyên nhân khách quan và
chủ quan, do máy móc thiết bị, công nghệ và phương thức sản xuất không hợp lý gây ra.
- Khoa học về các phương tiện bảo vệ: nghiên cứu, đề xuất phương thức và các
chế tạo các trang phục bảo vệ cá nhân như: quần áo, mũ, khẩu trang, mặt nạ, kính, găng
tay, giày ủng. Nhằm bảo vệ người lao động trước những nguy cơ tác động có hại của môi
trường và điều kiện lao động.
Mọi hoạt động của an toàn lao động đều mang tính loại trừ các yếu tố nguy hiểm,
quy trình kỹ thuật an toàn, kỹ thuật vệ sinh lao động đã được tiến hành với sự phối hợp
của nhiều cơ quan, tổ chức trong và ngoài nước. Tuy nhiên, việc thực hiện an toàn lao
động - vệ sinh lao động muốn đạt hiệu quả trước tiên phải tuân thủ các nguyên tắc sau
đây:
Một là, nhà nước quy định nghiêm ngặt chế độ an toàn lao động - vệ sinh lao
động.
An toàn lao động - vệ sinh lao động là có liên quan trực tiếp đến đến sức khỏe,
tính mạng của người lao động. Xuất phát từ tầm quan trọng này mà Nhà nước quy định
nghiêm ngặt chế độ bảo hộ lao động từ khâu ban hành văn bản pháp luật đến tổ chức thực
hiện và xử lý vi phạm. Nhà nước giao cho cơ quan có thẩm quyền lập chương trình quốc
gia về bảo hộ lao động, an toàn lao động - vệ sinh lao động; ban hành hệ thống tiêu
chuẩn, quy trình, quy phạm, về an toàn lao động - vệ sinh lao động. Các đơn vị sử dụng
lao động có nghĩa vụ cụ thể hóa các quy định này cho phù hợp với đơn vị mình và
nghiêm chỉnh tuân thủ các quy định này. Trong số 6 nhiệm vụ của thanh tra lao động thì
nhiệm vụ thanh tra việc chấp hành an toàn lao động - vệ sinh lao động được xếp hàng
đầu. Thanh tra lao động thanh tra việc thực hiện các quy định của Nhà nước về an toàn
lao động - vệ sinh lao động ở tất cả các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế. Đặc
biệt là các doanh nghiệp ngoài quốc doanh và các lĩnh vực có nguy cơ xảy ra tai nạn lao
động và bệnh nghề nghiệp cao như: xây dựng; lắp đặt; sữa chữa và sử dụng điện; khai
thác khoáng sản và khai thác đá… Kiên quyết xử lý nghiêm minh, kịp thời đối với các
hành vi vi phạm pháp luật lao động, nhất là các hành vi chấp hành không nghiêm chỉnh
công tác thống kê báo cáo tình hình tai nạn lao động. Có thể nói trong số các chế định của
pháp luật lao động, chế định an toàn lao động - vệ sinh lao động có tính chất bắt buộc cao
mà các chủ thể hầu như ít được thỏa thuận như các chủ thể khác.
Hai là, thực hiện toàn diện và đồng bộ an toàn lao động - vệ sinh lao động.
Bảo đảm an toàn lao động - vệ sinh lao động là một trong những biện pháp quan
trọng nhất để bảo vệ sức khỏe, tính mạng cho người lao động. Vì vậy, để đạt được mục
tiêu trên thì an toàn lao động phải đạt được một cách toàn diện, đồng bộ trên tất cả các
mặt của quá trình lao động, có sự phối hợp nhịp nhàng giữa các cơ quan chức năng,
người lao động, người sử dụng lao động và các cơ quan hữu quan khác.
lao động và môi trường lao động.
Ba là, đề cao và đảm bảo quyền và trách nhiệm của tổ chức công đoàn trong việc
thực hiện an toàn lao động - vệ sinh lao động.
Không ngừng chăm lo cải thiện điều kiện làm việc cho người lao động, ngăn ngừa
tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, tuyên truyền nâng cao nhận thức, tuân thủ pháp
luật về bảo hộ lao động là một trong những chức năng của tổ chức công đoàn.
Công tác an toàn lao động - vệ sinh lao động mang tính quần chúng rộng rãi, do
vậy chúng là một nội dung quan trọng thuộc chức năng của bảo vệ quyền và lợi ích của
người lao động của tổ chức công đoàn. Trong phạm vi chức năng và quyền hạn của mình,
Công đoàn được quyền tham gia với cơ quan Nhà nước xây dựng chương trình quốc gia
về an toàn lao động - vệ sinh lao động cũng như xây dựng pháp luật về an toàn lao động vệ sinh lao động. Trong phạm vi đơn vị cơ sở, tổ chức công đoàn phối hợp với người sử
dụng lao động tuyên truyền giáo dục người lao động tuân thủ các quy định về an toàn lao
động - vệ sinh lao động. Công đoàn còn tham gia thực hiện quyền kiểm tra, giám sát chấp
hành pháp luật về an toàn lao động - vệ sinh lao động. Tôn trọng các quyền của công
GVHD: Võ Thị Bảo Trâm
12
SVTH: Nguyễn Ngọc Hiền
Quy định pháp luật về an toàn lao động vệ sinh lao động - Thực trạng tại tỉnh Hậu Giang
đoàn và đảm bảo để công đoàn làm tròn trách nhiệm của mình trong lĩnh vực an toàn lao
động - vệ sinh lao động là trách nhiệm của người sử dụng lao động và các bên hữu quan.
Ngoài ra, Công đoàn còn tích cực tham gia các đoàn tham gia vệ sinh lao động do
cơ quan chuyên môn tổ chức, tham gia, kiểm tra chuyên đề như: Công tác chăm sóc sức
khỏe, bồi dưỡng, điều dưỡng phục hồi sức khỏe cho người lao động; kiểm tra việc thực
hiện các chế độ đối với người lao động khi bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp. Đồng
GVHD: Võ Thị Bảo Trâm
13
SVTH: Nguyễn Ngọc Hiền
Quy định pháp luật về an toàn lao động vệ sinh lao động - Thực trạng tại tỉnh Hậu Giang
xuất phát từ con người, mà trước hết là người lao động. Vì vậy, để đảm bảo cho người
lao động có việc làm và được làm việc trong điều kiện có an toàn vệ sinh phải là được
quan tâm hàng đầu của Đảng và Nhà nước, cũng như của toàn xã hội.
Ngăn ngừa, hạn chế, loại trừ các yếu tố nguy hiểm trong lao động, sản xuất, cải
thiện điều kiện lao động, giúp người lao động có cuộc sống đầy đủ thoải mái hơn trong
tâm lý của người lao động, ngăn ngừa tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp do an toàn
lao động - vệ sinh lao động không tốt gây nên, nhằm để bảo vệ an toàn, bảo vệ sức khỏe
tính mạng cho người lao động, cải thiện đời sống góp phần không nhỏ vào việc bảo vệ và
phát triển lực lượng sản xuất, tăng năng xuất lao động. Đảm bảo an toàn cho người lao
động, hạn chế thấp nhất những rủi ro có thể xảy ra tạo tâm lý an tâm cho người lao động
để thực hiện tốt công việc của mình. Tạo điều kiện cho người lao động để họ có sức khỏe
tốt do mắc các bệnh nghề nghiệp, do điều kiện đó gây ra. Cố gắng duy trì sức khỏe lao
động, kịp thời cứu chữa khi họ bị tai nạn lao động hoặc mắc các bệnh nghề nghiệp do nơi
làm việc gây ra.
Thứ hai, các quy định về đảm bảo an toàn lao động - vệ sinh lao động trong doanh
nghiệp phản ánh nghĩa vụ của người sử dụng lao động đối với người lao động trong vấn
đề bảo đảm sức khỏe cho người lao động, góp phần vào việc cải thiện điều kiện lao động,
nâng cao năng suất lao động. Không chỉ đơn thuần là người sử dụng lao động mới có thể
đảm bảo an toàn sức khỏe cho người lao động, mà cả người lao động phải có ý thức trong
việc lao động sản xuất phải quan tâm đến sức khỏe luôn là tài sản quý giá nhất của họ, để
làm ra các sản phẩm phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt của mình, sức khỏe đóng một vai trò
điều mà người lao động luôn mong muốn trong lao động sản xuất. Có sức khỏe lao động
tốt hiệu quả của công việc sẽ đạt cao, cơ sở sản xuất có trình độ tay nghề như mong
muốn. Nhà nước sẽ ít bị tổn thất do phải nuôi dưỡng điều trị và có thêm kinh phí để xây
dựng các công trình phúc lợi xã hội phục vụ người lao động, ít tốn kém trong việc chăm
sóc khi có tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp khi xảy ra. Nếu người lao động được bảo
vệ tốt sức khỏe, không bệnh tật, không ốm đau, điều kiện làm việc thoải mái, an tâm phấn
khởi sản xuất, không lo sợ tai nạn lao động hay bệnh nghề nghiệp sẽ có ngày công, giờ
công, năng suất lao động cao, luôn luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ trong kế hoạch sản xuất
công tác. Phúc lợi tập thể tăng lên do đó đảm bảo các điều kiện vật chất và tinh thần cho
cá nhân và tập thể, có tác dụng thúc đẩy đoàn kết nội bộ đẩy mạnh sản xuất.
An toàn lao động luôn là mục tiêu của Nhà nước và cả người lao động, cơ sở lao
động. An toàn lao động - vệ sinh lao động đảm bảo cho người lao động được sống khỏe
mạnh, làm việc có hiệu quả và có vị trí xứng đáng của mình trong xã hội, làm chủ xã hội,
làm chủ thiên nhiên, và nhất là làm chủ khoa học kỹ thuật, tạo tâm lý phấn khởi an tâm
cho người lao động thực hiện tốt nhiệm vụ của mình góp phần tăng năng suất chất lượng
sản phẩm, kinh tế nhà nước sẽ được nâng cao theo chỉ tiêu của Đảng đề ra. Kinh tế lao
động là một trong những biện pháp để khai thác và đánh giá năng suất về phương diện
chuyên môn, kinh tế, con người và thời gian. Chi phí bồi thường cho người lao động rất ít
bởi lẽ việc an toàn vệ sinh lao động sẽ hạn chế xảy ra tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp,
cải thiện được đời sống và tinh thần của cá nhân và tập thể lao động. Dù tai nạn lao động
xảy ra nhiều hay ít đều dẫn đến sự thiệt hại về người và tài sản, gây trở ngại cho lao động
và sản xuất. Cho nên quan tâm thực hiện tốt an toàn lao động - vệ sinh lao động là thể
hiện quan điểm đầy đủ, là điều kiện đảm bảo lao động sản xuất và phát triển đem lại hiệu
quả cao cho kinh tế.
Các quy định về an toàn lao động - vệ sinh lao động được áp dụng với mọi tổ
chức, cá nhân sử dụng lao động, mọi công chức, viên chức mọi người lao động kể cả
người học nghề, tập nghề thử việc trong tất cả các lĩnh vực, các thành phần kinh tế, trong
lực lượng vũ trang và các doanh nghiệp, tổ chức cơ quan nước ngoài, tổ chức quốc tế
đóng trên lãnh thổ Việt Nam.
Nhìn chung, bối cảnh đẩy mạnh kinh tế công nghiệp hóa hiện đại hóa nước ta cho
Theo Bộ Luật Lao động bệnh nghề nghiệp là bệnh phát sinh do điều kiện lao động
tác động lên cơ thể con người.
Như vậy, có thể gọi bệnh nghề nghiệp là tình trạng bệnh lý mang tính chất đặc
trưng nghề nghiệp hoặc liên quan đến nghề nghiệp mà nguyên nhân gây ra bệnh là do tác
động thường xuyên và kéo dài của điều kiện xấu. Khi đó ta có khái niệm: “Bệnh nghề
nghiệp là bệnh phát sinh do điều kiện lao động có hại của nghề nghiệp tác động đối với
người lao động”10.
Bệnh nghề nghiệp hoặc liên quan đến bệnh nghề nghiệp mà nguyên nhân phát sinh
do tác hại thường xuyên và kéo dài bởi điều kiện xấu, hay có thể nói đó là sự suy yếu dần
của sức khỏe, gây bệnh cho người lao động do tác hại của các yếu tố có hại cho sức khỏe,
phát sinh trong quá trình sản xuất lên con người. Cũng giống như bệnh nghề nghiệp tai
nạn lao động làm suy giảm sức khỏe khả năng lao động, ảnh hưởng đến chức năng hoạt
động của một bộ phận nào đó của cơ thể thậm chí gây chết người.
9
Khoản 2 Điều 16 Công ước 155 Công ước về an toàn lao động, vệ sinh lao động và môi trường làm việc, 1981.
Khoản 1 Điều 143 Bộ luật lao động năm 2013.
10
GVHD: Võ Thị Bảo Trâm
16
SVTH: Nguyễn Ngọc Hiền
Quy định pháp luật về an toàn lao động vệ sinh lao động - Thực trạng tại tỉnh Hậu Giang
nghiệp gây tác dụng có hại, gây hậu quả xấu trên sức khỏe lao động và khả năng cho
người lao động, vì những nguyên nhân đó cần phải chú trọng công tác an toàn lao động vệ sinh lao động.
Trong những năm qua việc công tác bảo hộ lao động an toàn lao động - vệ sinh lao
động đã có những chuyển biến tích cực. Hệ thống các văn bản pháp luật hướng dẫn và tổ
11
Khoản 1 Điều 142 Bộ luật lao động năm 2012.
GVHD: Võ Thị Bảo Trâm
17
SVTH: Nguyễn Ngọc Hiền
Quy định pháp luật về an toàn lao động vệ sinh lao động - Thực trạng tại tỉnh Hậu Giang
chức thực thi chế độ chính sách về bảo hộ cho người lao động được ban hành tương đối
đầy đủ và thường xuyên được bổ sung, sửa đổi phù hợp với tình hình hiện nay. Các tổ
chức bộ máy nhà nước và cán bộ làm công tác bảo hộ lao động ban đầu được củng cố từ
các cơ quan quản lý nhà nước đến các doanh nghiệp. Việc công tác bảo hộ lao động vô
cùng quan trọng trong an toàn lao động - vệ sinh lao động.
Người lao động và người sử dụng lao động phải có ý thức trách nhiệm trong việc
trang bị phương tiện bảo hộ lao động đầy đủ, bảo đảm an toàn lao động - vệ sinh lao động
và cải thiện điều kiện cho người lao động. Người lao động phải tuân thủ các quy định an
toàn lao động - vệ sinh lao động. Chính phủ lập chương trình quốc gia bảo hộ, an toàn, vệ
sinh lao động đưa vào phù hợp với tình hình phát triển kinh tế xã hội và nhất là phù hợp
với ngân sách Nhà nước.
1.6. Sơ lƣợc quá trình quy định pháp luật về vấn đề an toàn lao động - vệ sinh lao
động