Website: Email : Tel : 0918.775.368
LỜI MỞ ĐẦU
Trong giai đoạn toàn cầu hoá và khu vực hoá nền kinh tế hiện nay, nhiều
liên kết kinh tế khu vực ở các cấp độ khác nhau đã được hình thành giữa các
quốc gia nhằm tăng cường phát triển kinh tế trong khuôn khổ của khối nói
chung và tạo điều kiện thuận hơn cho các nước thành viên trong khu vực phát
triển kinh tế của mình nói riêng.
Hiệp hội các nước Đông Nam Á (ASEAN), từ khi ra đời cho đến nay đã
dần dần khẳng định được tiếng nói của mình trên trường quốc tế và đang được
đánh gía là một trong những khu vực phát triển năng động nhất trên thế giới hiện
nay. Tuy nhiên, đang đứng trước nhiều thách thức do sự phát triển nền kinh tế
thế giới và nội bộ ASEAN đặt ra, vì vậy các nước ASEAN vẫn tiếp tục thực
hiện tích cực tiến trình liên kết khu vực, đặc biệt là hợp nhất kinh tế khu vực
giữa các nước thành viên và coi đó là việc cấp thiết trước những thách thức toàn
cầu hiện nay.
Cùng với khu vực mậu dịch tư do ASEAN (AFTA), sự ra đời của khu vực
đầu tư ASEAN (AIA) sẽ thúc đẩy hơn nữa tiến trình hợp nhất kinh tế giữa các
quốc gia thành viên bằng cách đẩy mạnh đầu tư trực tiếp, tạo thuận lợi cho
luồng vốn đầu tư, công nghệ và chuyên gia trong khu vực. Hơn nữa sự hình
thành khu vực đầu tư ASEAN còn có vai trò giúp các nước trong khu vực trong
việc tăng cường cạnh tranh thu hút FDI với các nền kinh tế mới nổi lên, đặc biệt
là Trung Quốc và Ấn Độ. Bởi mục tiêu chủ yếu của Hiệp định khung về khu vực
đầu tư ASEAN (AIA) là hợp tác để thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào
ASEAN từ các nguồn trong và ngoài khu vực. Vì vậy mà việc tăng tốc xây dựng
khu vực đầu tư ASEAN cũng như việc đẩy nhanh thời gian thực hiện AIA là
một điều hết sức cần thiết và quan trọng đối với các nước ASEAN trong giai
đoạn phát triển kinh tế hiện nay.
Mục đích của bài luận văn nay là xem xét và đánh giá tầm quan trọng của
khu vực đầu tư ASEAN (AIA) trong việc thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước
ngoài đối với các nước ASEAN và quá trình thực hiện AIA của các nước này,
1
Trong bách khoa toàn thư Wikipedia, FDI là hình thức đầu tư dài hạn của
cá nhân hay công ty nước này vào nước khác bằng cách thiết lập cơ sở sản xuất
kinh doanh. Cá nhân hay công ty nước ngoài đó sẽ nắm quyền quản lý cơ sở sản
xuất kinh doanh này.
Tổ chức Thương mại thế giới WTO đưa định nghĩa về FDI như sau: Đầu
tư trực tiếp nước ngoài xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước (nước chủ đầu tư)
có được một tài sản ở một nước khác (nước thu hút đầu tư) cùng với quyền quản
lý tài sản đó. Phương diện quản lý là thứ để phân biệt FDI với các công cụ tài
chính khác. Trong phần lớn trường hợp, cả nhà đầu tư lẫn tài sản mà người đó
quản lý ở nước ngoài là các cơ sở kinh doanh, Trong những trường hợp đó, nhà
đầu tư thường hay được gọi là “công ty mẹ” và các tài sản được gọi là “công ty
con” hay “chi nhánh công ty”.
Và theo như định nghĩa của quĩ tiền tệ quốc tế (IMF), thì đầu tư trực tiếp
nước ngoài lại là hoạt động đầu tư của một doanh nghiệp để thu hút một lợi ích
3
Website: Email : Tel : 0918.775.368
lâu dài, quản lý tại một doanh nghiệp khác ở một nền kinh tế khác với nền kinh
tế của doanh nghiệp đầu tư.
Mỗi định nghĩa là một cách hiểu khác nhau và ở góc độ tiếp cận khác
nhau. Tuy nhiên, định nghĩa nào cũng cho chúng ta thấy đầu tư trực tiếp là sự di
chuyển vốn giữa các quốc gia, và là một dạng quan hệ kinh tế có yếu tố nước
ngoài.
1.2. Các hình thức của FDI
Căn cứ vào mục đích của FDI
FDI tìm kiếm nguồn tài nguyên: là hình thức đầu tư nguyên thủy của các
công ty xuyên quốc gia vào các nước đang phát triển. Hình thức này có tác dụng
thúc đẩy thương mại thông qua nhập khẩu tư liệu sản xuất từ nước đầu tư đến
nước nhận đầu tư và xuất khẩu thành phẩm, bán thành phẩm từ nước nhận đầu
tư ra nước ngoài.
FDI tìm kiếm thị trường: là hình thức đầu tư sản xuất cùng loại sản phẩm
kinh nghiệm quản lý, kỹ năng lao động, thị trường, .v.v... Và nếu các nước đi
sau có một chính sách thu hút và sử dụng FDI một cách hợp lý, có thể sẽ tận
dụng được thành quả to lớn của cuộc cách mạng khoa học công nghệ, đi tắt và
rút ngắn quá trình công nghiệp hóa. Đối với từng quốc gia cụ thể có những lợi
thế và điều kiện riêng trong việc thu hút và sử dụng FDI.
Với các nước đang phát triển đặc biệt là các nước trong khuôn khổ
ASEAN, thì FDI có vai trò quan trọng trong việc:
- Đáp ứng nhu cầu về vốn:
Giải quyết vấn đề thiếu vốn là một trong những tác động tích cực nhất mà
FDI mang lại cho nước nhận đầu tư. Vốn cho đầu tư phát triển kinh tế bao gồm
vốn trong nước và nước ngoài. Đối với các nước lạc hậu, sản xuất còn ở trình độ
thấp, nguồn vối tích lũy trong nước là rất hạn chế, không thể đáp ứng đủ nhu cầu
phát triển đất nước. Một khi thiếu vốn, các nước này sẽ không thể đầu tư mở
rộng và hiện đại hóa sản xuất, từ đó dẫn đến năng suất thấp, sức cạnh tranh kém,
lợi nhuận thấp và dẫn đến tỷ lệ tích lũy thấp. Đó chính là cái vòng luẩn quẩn. Để
thoát ra được, cần phải có “cú huých từ bên ngoài”, đó chính là FDI. Trong điều
kiện hiện nay, khi mà trên thế giới có nhiều nước có trong tay một khối lượng
5
Website: Email : Tel : 0918.775.368
vốn khổng lồ và có nhu cầu đầu tư ra nước ngoài thì đó là cơ hội để các nước
đang phát triển có thể tranh thủ nguồn vốn đầu tư nước ngoài vào việc phát triển
kinh tế.
Tại nhiều nước đang phát triển, vốn FDI chiếm tỉ lệ đáng kể trong tổng
vốn đầu tư của toàn bộ nền kinh tế, trong đó có một số nước hoàn toàn dựa vào
vốn đầu tư nước ngoài, đặc biệt là ở giai đoạn đầu của sự phát triển kinh tế. Để
đánh giá vai trò của vốn đầu tư nước ngoài, chúng ta có thể xem xét kỹ tỷ lệ vốn
đầu tư trực tiếp nước ngoài trên tổng sản phẩm quốc dân (FDI/GDP) ở một số
nước thực hiện khá thành công chiến lược thu hút FDI trung bình trên 10% như:
Indonexia 10,9%, Malaysia 26,6% và đặc biệt là Singapore 65,3%. Ở các nước
này FDI đã thực sự đóng vai trò to lớn đối với sự phát triển kinh tế và nếu chỉ
tiền mà còn chuyển cả vốn bằng hiện vật như máy móc, thiết bị, nguyên vật
liệu... (hay còn gọi là công nghệ cứng) và cả vốn vô hình như chuyên gia kỹ
thuật, công nghệ, tri thức khoa học, bí quyết quản lý, năng lực tiếp cận thị
trường... (hay còn gọi là công nghệ mềm). Thông qua hoạt động FDI, quá trình
chuyển giao công nghệ được thực hiện tương đối nhanh chóng và thuận tiện cho
cả bên đầu tư cũng như bên nhận đầu tư. Một trở ngại lớn nhất trên con đường
phát triển kinh tế của hầu hết các nước đang phát triển là trình độ kỹ thuật, công
nghệ còn lạc hậu. Trong thời đại khoa học công nghệ phát triển tự nghiên cứu để
phát triển khoa học công nghệ cho kịp với trình độ của các nước phát triển là
việc làm khó khăn và tốn kém. Con đường nhanh nhất để phát triển khoa hoc kỹ
thuật công nghệ và trình độ sản xuất của các nước đang phát triển hiện nay là
phải biết tận dụng những thành tựu khoa học công nghệ tiên tiến của nước ngoài
thông qua chuyển giao công nghệ. Tiếp nhận FDI là một phương thức cho phép
các nước đang phát triển tiếp thu được trình độ khoa học công nghệ hiện đại trên
thế giới, tuy nhiên mức độ hiện đại đến đâu còn tùy thuộc vào nhiều yếu tố.
Nhưng dù thế nào thì đây cũng là lợi ích căn bản của các nước khi tiếp nhận
FDI. Trong điều kiện hiện nay, trên thế giới có nhiều công ty của nhiều quốc gia
khác nhau có nhu cầu đầu tư ra nước ngoài và thực hiện chuyển giao công nghệ
cho nước nào tiếp nhận đầu tư. Đây là cơ hội cho các nước đang phát triển được
“đi xe miễn phí”, mà cũng không phải trả một khoản nào cho việc tiếp nhận
chuyển giao công nghệ này.
7
Website: Email : Tel : 0918.775.368
- Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế:
Các dự án FDI góp phần tạo ra môi trường cạnh tranh là động lực kích
thích nền kinh tế tăng trưởng về lượng cũng như về chất nhờ tranh thủ vốn và kỹ
thuật của nước ngoài, các nước đang phát triển muốn sử dụng nó để thực hiện
mục tiêu quan trọng hàng đầu là đẩy mạnh tăng trưởng kinh tế. Đây cũng là chìa
khóa để các nước đang phát triển thoát ra khỏi cái vòng luẩn quẩn của sự đói
nghèo. Thực tiễn và kinh nghiệm của nhiều nước cho thấy, quốc gia nào thực
- Giải quyết công ăn việc làm:
Về mặt xã hội FDI đã tạo được nhiều chỗ làm việc mới, thu hút được một
số lượng đáng kể người lao động ở nước nhận đầu tư vào làm việc trong các đơn
vị của đầu tư nước ngoài. Điều này góp phần đáng kể vào việc giảm bớt nạn thất
nghiệp, vốn là tình trạng nan giải của nhiều quốc gia. Đặc biệt đối với nhiều
nước đang phát triển, nơi có lực lượng lao động rất phong phú nhưng không có
điều kiện khai thác và sử dụng thì FDI được coi là một chiếc chìa khóa quan
trọng để giải quyết vấn đề trên, vì FDI tạo ra các điều kiện về vốn và kỹ thuật
cho phép khai thác và sử dụng các tiềm năng của nền kinh tế trong đó có tiềm
năng về lao động.
3. Cơ sở thực hiện của khu vực đầu tư ASEAN
3.1. Sự cần thiết của việc thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với
các nước ASEAN sau cuộc khủng hoảng tài chính 1997-1998
Trong suốt hai thập kỷ cuối cùng của thế kỷ XX, đặc biệt trong giai đoạn
từ đầu thập kỷ 90 đến trước khi cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ Châu Á bùng
nổ, ASEAN được các nhà đầu tư đánh giá cao về mức hấp dẫn đầu tư. Đầu tư
trực tiếp nước ngoài vào ASEAN trước khủng hoảng vào năm 1996 đạt đến gần
30 tỉ USD. Nhưng khi cuộc khủng hoảng 1997-1998 nổ ra, lượng FDI vào khu
vực này giảm xuống một cách đáng kể, chỉ còn 4,4 tỷ USD trong năm 1998, đến
năm 1999 chỉ còn 1,7 tỉ USD. Đây là điều hoàn toàn không tốt đối với các nước
ASEAN khi mà các nước này vốn là những nước có nền kinh tế lạc hậu, thiếu
vốn trầm trọng việc phát triển đất nước. Trong khi chịu ảnh hưởng nặng nề của
cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ, thì Trung Quốc lại nổi lên như một điểm
nóng về thu hút FDI trong khu vực Châu Á với nguồn tài nguyên phong phú cả
9
Website: Email : Tel : 0918.775.368
về nhân lực lẫn vật lực. Nền kinh tế Trung Quốc phát triển nhanh chóng tạo ra
mối lo ngại đối với các nước ASEAN, đặc biệt là sự chuyển hướng FDI từ các
nước này sang Trung Quốc do tác động của cuộc khủng hoảng tài chính 1997.
Để có thể hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu và đuổi kịp trình độ của các nước
trong năm 2003, sự tăng trưởng cao nhất kể từ cuộc khủng hoảng tài chính
1997-1998 và triển vọng trong các năm sau cho thấy rằng cuộc khủng hoảng này
sẽ không còn ảnh hưởng đến sự cân nhắc về vấn đề đầu tư của các công ty đa
quốc gia nữa. Sự cải thiện cơ cấu cũng góp phần làm tăng FDI trong khuôn khổ
ASEAN.
Trong năm 2005, FDI vào khuôn khổ ASEAN đã tăng 48%, đạt mức kỷ
lục 38 tỷ USD kể từ cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ Châu Á năm 1997-1998.
Đến quí I năm 2006, FDI vào khuôn khổ ASEAN, tăng 90% so với cùng kỳ năm
trước, đạt 14 tỷ USD và vẫn tiếp tục tăng. Tuy nhiên đầu tư vào ASEAN chỉ
chiếm 6-7% tổng FDI trên thế giới và vẫn là khu vực thu hút đầu tư lớn sau
Trung Quốc và Ấn Độ.
Bảng 1: Dòng FDI vào các nước ASEAN từ 2000 đến quý I năm 2004
(Triệu USD)
Tên nước 2000 2001 2002 2003 2004
Brunay
549 526 1035 3123 34
Campuchia
149 149 145 87 78
Indonexia
-4550 -3279 145 -596 432
Lào
34 24 25 19 5
Malaixia
3788 554 3203 2473 927
Myanma
208 192 191 128
Philippin
1345 982 1111 319 -15
Xingapore
17218 15038 5730 1869 166
Đức
Hồng Kông
Bermuda
Pháp
Đài Loan
11.266
8.031
4.993
2.984
2.632
2.217
1.994
1.460
1.333
968
ASEAN
Anh
Mỹ
Nhật Bản
Hà Lan
Ý
Đức
Đài Loan
Phần Lan
Thụy Điển
5.949
5.254
3.863
3.181
2.130
Phần Lan chiếm gần một nửa tổng FDI vào khu vực ASEAN năm 2005. Trong
đó Nhật Bản là nhà đầu tư lớn nhất ở ASEAN. Mỹ là khách hàng lớn nhất, nhà
cung cấp FDI lớn nhất của ASEAN.
Về phía các nước ASEAN, hiện nay các nước này không chỉ đóng vai trò
là các nước nhận đầu tư, mà còn là các nước đi đầu tư, chủ yếu là các nước
thành viên cũ. Nguồn FDI từ các nhà đầu tư ASEAN cũng giữ một vị trí quan
trọng trong tổng số FDI vào trong khu vực.
Năm 2002, đầu tư trong các nước ASEAN đã tăng 50% từ 2,4 tỷ USD
năm 2001 đến 3,6 tỷ USD. Điều này cho thấy rằng đầu tư trong nội khối hiện
nay đang trở thành một nguồn FDI quan trọng và sẽ tiếp tục đóng vai trò chủ
yếu trong việc góp phần thúc đẩy hội nhập khu vực.
Trong năm 2001-2003, đầu tư trong nội khối ASEAN chiếm khoảng 16%
tổng dòng vốn FDI vào trong khu vực. Mặc dù đầu tư trong khuôn khổ ASEAN
giảm 42% trong năm 2003, nhưng vẫn duy trì ở mức 2 tỷ USD. Các công ty của
Singapore và Malaysia vẫn là những nhà đầu tư năng động nhất trong khu vực.
Dòng FDI trong nội khối ASEAN của các nước thành viên năm 2004 là:Brunei:
19,7 triệu USD; Campuchia: 31,9 triệu USD; Indonesia: 204.2 triệu USD;
Lào:7.8 triệu USD; Malaysia: 980.2 triệu USD; Myanma: 9.3 triệu USD;
Philippin: 71.1 triệu USD; Singapore: 727,3 triệu USD; TháiLan: 336.0 triệu
USD; Việt Nam: 242.9 triệu USD; Tổng FDI toàn ASEAN là 2630.3 triệu USD.
13
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Sang đến năm 2005, đầu tư nội khối ASEAN cũng đã tăng lên 2.2 tỷ USD, trong
đó Malaysia và Singapore chiếm tới 1,5 tỷ USD, tức 68% tổng đầu tư bên trong
ASEAN.
Các khu vực đầu tư chính mà các nhà đầu tư vẫn quan tâm khi đầu tư vào
ASEAN, chủ yếu vẫn là các ngành phục vụ nhiều cho quá trình công nghiệp hóa
của các nước này.
Công nghiệp dịch vụ vẫn là khu vực nhận đầu tư lớn nhất trong dòng FDI
vào ASEAN, sau khu vực sản xuất và các khu vực ưu tiên, khu vực dịch vụ
6,0
16,3
Neg
10,9
34,0
7,8
7,1
-42,8
7,0
1,7
74,7
3,6
13,1
40,3
-6,7
17,6
49,6
2,4
10,8
-30,7
0,9
21,1
23,9
0,5
11,6
27,9
3,6
-1,4
11,8
(Nguồn: ASEAN Secretariat, ASEAN FDI Database)
ASEAN hứa hẹn một môi trường đầu tư thông thoáng và rõ ràng hơn không chỉ
giữa các quốc gia trong khuôn khổ ASEAN mà còn tạo ra những điều kiện thuận
lợi hấp dẫn các nhà đầu tư bên ngoài khối. Môi trường đầu tư là yếu tố vô cùng
quan trọng đối với các nhà đầu tư. Để có thể thu hút được nhiều nguồn vốn FDI,
bản thân các quốc gia cũng phải không ngừng nâng cao và tìm cách cải thiện
môi trường đầu tư của mình bằng việc đưa ra các chính sách phù hợp, rõ ràng
cho đầu tư, đơn giản hóa các thủ tục về đầu tư, tạo điều kiện thuận lợi nhất để
thu hút đầu tư.
Thúc đẩy sự di chuyển vốn, lao động có tay nghề, công nghệ giữa các
nước thành viên ASEAN cũng là một điều rất cần thiết mà việc đầu tư trong
khuôn khổ ASEAN có thể đem lại cho các nước này. Tuy các nước ASEAN
15
Website: Email : Tel : 0918.775.368
trước đây gần như là có cùng xuất phát điểm, nhưng hiện nay, do nhiều nguyên
nhân khác nhau mà sự tăng trường kinh tế ở mỗi nước là khác nhau. Trong nội
bộ các nước ASEAN vẫn chia ra thành các nước ASEAN 6 (gồm Singapore,
TháiLan, Indonesia, Philippin, Malaysia, Brunei) và ASEAN 4 (gồm
Campuchia, Myanma, Lào, Việt Nam). Có thể nhận thấy sự chênh lệch về trình
độ phát triển giữa các nước này là khá rõ nét. Trong đó Singapore hầu như luôn
là nước đứng đầu trong khu vực về thu hút FDI, với lượng FDI lên đến 20 tỷ
USD trong tổng số FDI trong năm 2005. Do vậy, để các nước ASEAN có thể
phát triển đồng đều hơn thì cần có sự chia sẻ kinh nghiệm lẫn nhau cũng như hỗ
trợ nhau về mặt kỹ thuật công nghệ. Thông qua đầu tư trong khuôn khổ
ASEAN, các nước thành viên sẽ dễ dàng chia sẻ và trao đổi kinh nghiệm với
nhau hơn, qua đó thúc đẩy sự di chuyển vốn, lao động có tay nghề, công nghệ
giữa các nước này, giúp các nước thu hẹp dần khoảng cách phát triển.
Có thể nói sự hình thành AIA là điều kiện cần để dòng vốn FDI hướng
vào khu vực, giúp cho các nước có sự thống nhất về định hướng, tạo ra những
ràng buộc mang tính chung nhất, đồng thời tạo ra môi trường đầu tư hấp dẫn để
có thể tăng cường thu hút đầu tư và cũng để cạnh tranh trong việc thu hút vốn
đưa ra sáng kiến về việc thành lập đầu từ trong khuôn khổ ASEAN, một trong
những chương trình liên kết và hợp tác về kinh tế của ASEAN.
Vào ngày 15/12/1995, tại Hội nghị thượng đỉnh ASEAN lần thứ 5 được tổ
chức tại Băng Cốc, các nhà lãnh đạo ASEAN đã đưa ra sáng kiến về việc xây
dựng khu vực đầu tư ASEAN nhằm tăng cường hợp tác, tính hấp dẫn và thu hút
hơn nữa dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Và ngày 07/10/1998, tại Hội nghị
Bộ trưởng kinh tế các nước ASEAN (AEM), Hiệp định khung đầu tư trong
khuôn khổ ASEAN đã được ký kết tại Philippin, Hiệp định khung này dựa trên
các điều khoản đã được ký kết từ những cuộc họp trước đó là:
Các nước thành viên mong muốn giữ vững sự tăng trưởng và phát triển
kinh tế ở tất cả các quốc gia thành viên bằng những nỗ lực chung nhằm tự do
hóa thương mại, thúc đẩy thương mại và đầu tư giữa các nước ASEAN đã được
nêu trong Hiệp định khung về tăng cường hợp tác kinh tế ASEAN được ký kết
tại Singapore ngày 28/1/1992.
17
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Đồng thời, Hội nghị cũng nhắc lại những quyết định của Hội nghị cấp cao
ASEAN lần thứ V được tổ chức vào ngày 15/12/1995 về việc xây dựng khung
đầu tư trong khuôn khổ ASEAN (AIA) nhằm tăng cường tính hấp dẫn và tính
cạnh tranh của ASEAN để thúc đẩy đầu tư trực tiếp nước ngoài.
Và để khẳng định cam kết theo Hiệp định ASEAN năm 1987 về khuyến
khích và bảo hộ đầu tư và Nghị định thư năm 1996 bổ sung hiệp định này nhằm
củng cố lòng tin của các nhà đầu tư khi đầu tư vào ASEAN.
Cùng với Hiệp định thành lập khu vực Mậu dịch tự do ASEAN (AFTA)
và việc thực hiện Chương trình hợp tác công nghiệp ASEAN (AICO), việc
thành lập khu vực đầu tư (AIA) nhằm khuyến khích đầu tư lớn hơn vào khu vực.
Thừa nhận rằng nhu cầu thu hút FDI vào ASEAN với mức độ lớn hơn và
bền vững hơn là điều cần thiết vì đầu tư trực tiếp nước ngoài là một nguồn tài
chính quan trọng để giữ vững tốc độ phát triển kinh tế, công nghiệp, cơ sở hạ
tầng và công nghiệp, mà sự hình thành khu vực đầu tư ASEAN góp phần giúp
NHỮNG NỘI DUNG CHÍNH CỦA HIỆP ĐỊNH KHUNG VỀ KHU VỰC
ĐẦU TƯ ASEAN VÀ LỘ TRÌNH THỰC HIỆN HIỆP ĐỊNH
1. Những nội dung chính của Hiệp định
Hiệp định gồm có 21 điều khoản với các nội dung chính như sau:
Theo qui định của Hiệp định, nhà đầu tư ASEAN là một công dân của
một Quốc gia thành viên hoặc một pháp nhân của một Quốc gia thành viên, thực
hiện đầu tư vào Quốc gia thành viên khác, trong đó vốn ASEAN thực tế của
pháp nhân đó cộng gộp với tất cả các vốn ASEAN khác, ít nhất phải bằng tỷ lệ
tối thiểu cần có để thoả mãn yêu cầu về vốn quốc gia và các yêu cầu về vốn
khác của pháp luật trong nước và các chính sách quốc gia được công bố, nếu có,
của nước chủ nhà liên quan đến đầu tư đó.
Về phạm vi và mục tiêu của Hiệp định:
Phạm vi áp dụng của Hiệp định chỉ giới hạn đối với hoạt động đầu tư trực
tiếp nước ngoài, không bao gồm các hoạt động đầu tư gián tiếp cũng như các
vấn đề liên quan đến đầu tư trực tiếp nhưng đã được các Hiệp định khác của
ASEAN điều chỉnh như Hiệp định khung của ASEAN thành khu vực đầu tư có
sức mạnh, hấp dẫn và cạnh tranh cao đối với hoạt động FDI trên cơ sở xây dựng
một môi trường đầu tư thông thoáng và rõ ràng hơn giữa các quốc gia thành viên
để thu hút đầu tư các nhà đầu tư cả trong lẫn ngoài ASEAN.
Đặc điểm của khu vực đầu tư ASEAN
Có một chương trình hợp tác đầu tư ASEAN nhằm tạo ra đầu tư lớn hơn
từ các nước ASEAN và các nước ngoài ASEAN. Tất cả các ngành nghề được
mở cửa và chế độ đối xử quốc gia được dành cho các nhà đầu tư ASEAN vào
năm 2010 và cho tất cả các nhà đầu tư vào năm 2020, ngoại trừ các ngoại lệ
được qui định trong Hiệp định này, tạo ra khu vực kinh doanh có vai trò to lớn
hơn trong các nỗ lực hợp tác về đầu tư và các hoạt động có liên quan trong
ASEAN và có lưu chuyển tự do hơn về vốn, lao động hành nghề và chuyên gia,
và công nghệ giữa các Quốc gia thành viên.
20