Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nớc (CPH DNNN) là một chủ trơng lớn
của Đảng và Nhà nớc, một bộ phận cấu thành quan trọng của chơng trình cải
cách doanh nghiệp nhà nớc.
Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nớc ở Việt Nam bắt đầu đợc thực hiện thí
điểm từ năm 1990. Nghị quyết Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam và nhiều Nghị
quyết Hội nghị Ban chấp hành Trung ơng Đảng từ khóa VII đến khóa IX đã nêu
các định hớng và chủ trơng lớn về CPH.
Quốc hội Việt Nam khóa VIII, kỳ họp thứ 10 (12/1991) đã đa CPH vào
nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 1991 - 1995: Thí điểm việc CPH một số cơ
sở kinh tế quốc doanh để rút kinh nghiệm và có thêm nguồn vốn phát triển. Và
một lần nữa khẳng định lại chủ trơng CPH DNNN trong Nghị quyết tại kỳ họp
thứ 4 - Quốc hội khóa IX (12/1993): "Đổi mới cơ bản tổ chức và cơ chế quản lý
DNNN. Thực hiện các hình thức CPH thích hợp với tính chất và lĩnh vực sản
xuất để thu hút thêm các nguồn vốn, tạo thêm động lực, ngăn chặn tiêu cực,
thúc đẩy doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả".
Chính phủ, các Bộ, ngành cũng thể chế hóa chủ trơng và phơng hớng nêu
trên về CPH trong nhiều qui định nhằm giải quyết kịp thời các vấn đề pháp lí
nảy sinh trong quá trình CPH.
Mục tiêu của cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nớc là chuyển một số doanh
nghiệp nhà nớc thành công ty cổ phần trong đó ngời lao động trong doanh
nghiệp, một số tập thể, cá nhân cùng góp vốn, cùng tham gia quản lý, cùng
phân chia lợi nhuận và cùng chịu rủi ro tơng ứng với phần vốn góp.
Nh vậy, thực chất của CPHDNNN trong điều kiện nớc ta là đa dạng hóa,
xã hội hóa sở hữu, biến từ doanh nghiệp một chủ duy nhất là Nhà nớc thành
doanh nghiệp nhiều chủ qua đó sắp xếp lại tổ chức và đổi mới phơng thức quản
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
lý, tạo động lực cho ngời lao động thực sự làm chủ doanh nghiệp và huy động
đợc các nguồn vốn trong xã hội.
cải cách DNNN của Trơng Văn Bân; Công ty cổ phần và chuyển DNNN
thành công ty cổ phần của Đoàn Văn Hạnh; CPH các DNNN ở Việt Nam
của Hoàng Công Thi, Phùng Thị Đoan; CPH DNNN - những vấn đề lý luận và
thực tiễn của Lê Hồng Hạnh; CPH và quản lý DNNN sau CPH của Lê Văn
Tâm và một số luận văn cao học, bài viết v.v nhng trong những công trình
nghiên cứu đó, cha có công trình riêng biệt nào nghiên cứu xem xét một cách
toàn diện về vấn đề CPH đối với DNNN trong ngành dợc từ góc độ pháp lý. Với
mong muốn đợc tìm hiểu những vấn đề liên quan tới CPH DNDNN, đa ra
những kiến nghị nhằm góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật về CPH DNNN
nói chung và CPH DNDNN nói riêng, tác giả mạnh dạn chọn đề tài Hoàn
thiện qui định pháp luật về CPH DNNN từ thực tiễn ngành dợc làm đề tài
cho luận văn Thạc sỹ luật học.
2. Mục tiêu nghiên cứu và nhiệm vụ của luận văn
Mục tiêu nghiên cứu của luận văn là nghiên cứu những vấn đề lý luận và
thực tiễn về CPH đối với DNNN nói chung và lĩnh vực dợc nói riêng, từ đó đề
xuất các ý kiến góp phần hoàn thiện pháp luật về CPH DNNN ở Việt Nam.
Để đạt đợc mục tiêu này, luận văn tập trung vào các vấn đề sau:
- Cơ sở lý luận về CPH DNNN, sự cần thiết phải CPH DNDNN và thực
trạng CPH DNDNN ở Việt Nam;
- Nghiên cứu một số qui định pháp luật về CPH DNNN và liên quan đến
CPH DNNN;
- Nghiên cứu thực trạng triển khai CPH DNDNN, đánh giá thực tiễn áp
dụng các qui định pháp luật về CPH DNNN trong ngành dợc, từ đó tìm ra các
khó khăn, vớng mắc cần khắc phục.
- Một số đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về CPH DNNN.
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
3. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu các qui định pháp luật và phân tích thực
tiễn thực hiện qui định pháp luật về CPH DNNN trong ngành dợc ở Việt Nam
giai đoạn từ 1997 đến 10/2005, từ đó đề xuất những vấn đề cần sửa đổi, bổ sung
các văn bản nói trên, có thể nói cha có văn bản nào đề cập một cách chính thức
khái niệm CPH DNNN. Từ trớc đến nay chỉ có Thông t 50-TC/TCDN ngày
30/08/1996 của Bộ Tài chính hớng dẫn những vấn đề tài chính, bán cổ phần và
phát hành cổ phiếu trong việc chuyển một số DNNN thành công ty cổ phần có
qui định:
Doanh nghiệp nhà n ớc chuyển thành công ty cổ phần (hay gọi là CPH
DNNN) là một biện pháp chuyển DNNN từ sở hữu Nhà nớc sang hình thức
sở hữu nhiều thành phần trong đó tồn tại một phần sở hữu Nhà nớc (Điều 1).
Nh vậy, theo khái niệm này thì DN CPH luôn có một phần vốn thuộc sở
hữu Nhà nớc.
Tuy nhiên khái niệm này theo qui định pháp luật hiện hành đã có sự thay
đổi. Theo khoản 3 Điều 3 Nghị định 187/2004/NĐ-CP ngày 16/11/2004 của
Chính phủ về việc chuyển công ty nhà nớc thành công ty cổ phần thì một trong
những hình thức CPH công ty nhà nớc là bán toàn bộ vốn nhà nớc hiện có tại
doanh nghiệp hoặc kết hợp vừa bán toàn bộ vốn nhà nớc vừa phát hành thêm cổ
phiếu để thu hút vốn.
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Nh vậy, theo qui định hiện hành, có thể hiểu về bản chất CPH DNNN là
quá trình chuyển đổi hình thức hoạt động từ DNNN sang CTCP thuộc sở
hữu của các cổ đông thuộc mọi thành phần kinh tế tham gia mua cổ phiếu,
chuyển đội ngũ quản lý DN từ công chức Nhà nớc sang thành các nhà kinh
doanh, giảm bớt sự can thiệp của Nhà nớc đối với quá trình sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp, từ đó tạo điều kiện cho doanh nghiệp thực sự là
một chủ thể có quyền kinh doanh độc lập trong cơ chế thị trờng.
1.1.2. Đặc điểm cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nớc
Từ khái niệm trên, có thể thấy CPH DNNN ở nớc ta có những đặc điểm
sau:
1.1.2.1. Cổ phần hóa là quá trình chuyển đổi doanh nghiệp nhà nớc
sang công ty cổ phần
Một DNNN sau khi hoàn tất qui trình CPH sẽ không còn tồn tại dới loại
phần đợc thực hiện chủ yếu theo ba hình thức:
Thứ nhất, CPH mà trên 50% cổ phần thuộc sở hữu Nhà nớc đối với các
DNNN trong các lĩnh vực then chốt có khả năng điều tiết nền kinh tế quốc dân.
Trên thực tế, ở các DN này, tồn tại ba loại cổ phần: cổ phần của Nhà nớc đóng
vai trò chi phối; cổ phần của cán bộ, nhân viên trong DN, cổ phần của các nhà
đầu t khác. Do cổ phần nhà nớc chiếm tỷ trọng lớn, nên đóng vai trò chi phối,
định hớng sự phát triển của doanh nghiệp. Các DN này kinh doanh dới sự quản
lý, điều tiết chặt chẽ của Nhà nớc.
Thứ hai, CPH mà Nhà nớc có tham gia cổ phần nhng chiếm tỷ trọng
không lớn, không giữ vị trí chi phối đối với các DN không giữ vai trò then chốt
trong nền kinh tế quốc dân. Với doanh nghiệp loại này, Nhà nớc chỉ tham gia
quản lý, điều tiết ở một mức độ nhất định.
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Thứ ba, CPH mà không có sự tham gia của cổ phần Nhà nớc. Với những
doanh nghiệp này, ngoài việc quản lý theo pháp luật, Nhà nớc khó điều tiết đợc
khuynh hớng phát triển của nó.
1.1.2.3. Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nớc đợc tiến hành thông qua
việc bán cổ phần hoặc phát hành thêm cổ phiếu
Theo qui định hiện hành, có 3 hình thức tiến hành CPH bao gồm phát
hành cổ phiếu thu hút thêm vốn áp dụng đối với những DN CPH có nhu cầu
tăng thêm vốn điều lệ; bán một phần hoặc kết hợp bán bớt một phần vốn nhà n-
ớc vừa phát hành thêm cổ phiếu; bán toàn bộ vốn nhà nớc hiện có tại DN hoặc
kết hợp vừa bán toàn bộ vốn nhà nớc vừa phát hành thêm cổ phiếu.
1.1.3. Mục tiêu, yêu cầu của cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nớc
Việc xác định mục tiêu CPH có ý nghĩa quan trọng trong việc đề ra các
hình thức CPH, quy hoạch đối tợng CPH, mức độ CPH cũng nh các bớc tiến
hành. Mục tiêu CPH đợc xác định dựa trên những nguyên tắc chi phối quá trình
CPH DNNN dới đây:
- Thứ nhất, việc CPH phải góp phần nâng cao vai trò chủ đạo của kinh tế
quốc doanh trong nền kinh tế nớc nhà, làm cho tài sản thuộc sở hữu của Nhà n-
doanh tốt hơn, hiệu quả hơn. Việc chuyển hình thức sở hữu nhà nớc thành sở
hữu của các cổ đông nhằm tạo ra sự thay đổi về phơng thức quản lý, nâng cao
hiệu quả kinh doanh của DN. Theo Luật Doanh nghiệp, tổ chức quản lý trong
nội bộ công ty cổ phần bao gồm ĐHĐCĐ, HĐQT, ban kiểm soát và ban giám
đốc công ty. Mô hình tổ chức quản lý này thể hiện sự phân định rõ ràng về
quyền hạn và trách nhiệm của chủ sở hữu và ngời sử dụng tài sản của công ty để
kinh doanh. Điều này đã tạo thêm động lực và tính năng động trong kinh doanh,
DN đợc quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm, đặc biệt là trong lĩnh vực đầu t phát
triển, phân phối lợi nhuận, tổ chức sản xuất và bổ nhiệm cán bộ.
- Ba là, đảm bảo hài hòa lợi ích của Nhà nớc, doanh nghiệp, nhà đầu t và
ngời lao động trong doanh nghiệp.
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Để thực hiện mục tiêu này, hệ thống văn bản pháp luật của Nhà nớc liên
quan đến CPH DNNN ngày càng đợc hoàn thiện. Việc CPH không chỉ quan
tâm đến lợi ích của Nhà nớc nh điều chỉnh việc xác định giá trị DN gắn với thị
trờng, giảm thất thoát cho ngân sách nhà nớc, mà còn quan tâm đến quyền lợi
của DN, nhà đầu t và ngời lao động trong việc tạo điều kiện để DN hoàn thành
tốt CPH cũng nh các chính sách cho DN sau CPH, tạo điều kiện để các nhà đầu
t có thể mua cổ phần ở các DN với một tỷ lệ nhất định và đề ra các chính sách
cho ngời lao động tại DN CPH.
- Thứ t, thực hiện công khai, minh bạch theo nguyên tắc thị trờng; khắc
phục tình trạng CPH khép kín trong nội bộ doanh nghiệp; gắn với phát triển thị
trờng vốn, thị trờng chứng khoán.
Hiện nay, việc định giá DN theo cách tổ chức hội đồng đã bị xóa bỏ mà
do các tổ chức chuyên nghiệp thực hiện nhằm nâng cao tính chuyên nghiệp và
tính minh bạch trong hoạt động định giá và đẩy nhanh tiến độ CPH.
Để khắc phục những bất cập trong công tác định giá và bán cổ phần (đặc
biệt là xu hớng CPH nội bộ), đồng thời giảm thiểu tổn thất cho ngân sách nhà n-
ớc trong quá trình CPH, cơ chế bán cổ phần hiện nay đợc điều chỉnh theo hớng:
nâng cao tính công khai, minh bạch, gắn với thị trờng, tạo điều kiện để các nhà
những giải pháp đổi mới DNNN. Tuy nhiên, thực tiễn phát triển kinh tế xã hội
của nớc ta trong thập kỷ qua cho thấy CPH là giải pháp phù hợp với nền kinh tế
nớc ta trong giai đoạn hiện nay, là khâu quan trọng để tạo chuyển biến cơ bản
trong việc nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của DNNN vì nó giải quyết đợc
căn nguyên của những yếu kém trong tổ chức quản lý và hoạt động của DNNN.
Đó là vấn đề sở hữu, làm cho sở hữu doanh nghiệp trở nên đa dạng hơn. Những
giải pháp cải cách DNNN khác chỉ động chạm đến cơ chế quản lý theo hớng
tăng quyền tự chủ của DNNN trong một hoặc một số lĩnh vực cụ thể.
Đối với lĩnh vực dợc, trong bối cảnh nền kinh tế tập trung bao cấp trớc
đây, hệ thống DNDNN còn mang nhiều tính phúc lợi xã hội, hoạt động sản
xuất, kinh doanh, phân phối thuốc chủ yếu là do kế hoạch Nhà nớc giao. Mặc
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
dù trong những năm gần đây, hoạt động của các DNDNN đã hiệu quả hơn trong
cơ chế thị trờng nhng tình trạng thiếu vốn, kỹ thuật công nghệ, trình độ quản lý
kém, ít tiếp cận với công nghệ tiên tiến vẫn phổ biến tại nhiều DNDNN, dẫn
đến việc còn nhiều hạn chế trong đáp ứng nhu cầu thuốc điều trị cho nhân dân,
cha chủ động trong nguồn nguyên liệu làm thuốc mà gần nh bị phụ thuộc hoàn
toàn vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu.
Đứng trớc mục tiêu đáp ứng 60% trị giá thuốc tiêu dùng trong nớc vào
năm 2010 [25], trong thời gian tới, việc đẩy mạnh sắp xếp đổi mới, nâng cao
hiệu quả của các doanh nghiệp dợc đặc biệt là các DNDNN là vô cùng quan
trọng khi mà hàng rào bảo hộ công nghiệp nội địa ngày càng phải tháo bỏ,
thách thức về khả năng cạnh tranh ngày càng gay gắt ngay cả trên thị trờng nội
địa.
Theo thống kê của Cục Quản lý dợc Việt Nam, đến hết 12/2004, số vốn
pháp định của các dự án liên doanh và dự án 100% vốn nớc ngoài đầu t vào
ngành dợc đã lên đến 158 triệu USD. Một số nhà máy đang tích cực đầu t với số
vốn lớn tới 20 triệu USD. Một số công ty phân phối tuy còn núp bóng của các
công ty Việt Nam đã tổ chức màng lới phân phối của họ tới tuyến tỉnh, thậm chí
cả tuyến huyện. Trong khi đó, vốn của toàn bộ các đơn vị trong Tổng công ty
nhng vẫn đảm bảo kiểm soát đợc hoạt động của các DN nếu cần thiết bằng cách
giữ lại một tỷ lệ nào đó vốn nhà nớc. Việc giảm bớt số lợng DNDNN thông qua
chơng trình CPH hoặc đa dạng hóa những DNDNN không thuộc đối tợng Nhà
nớc cần thiết phải nắm giữ (đặc biệt những DN có hiệu quả thấp) sẽ giúp cho
ngân sách nhà nớc giảm bớt các khoản chi để duy trì các DN này, chuyển giao
cho các DNDNN khác đảm nhận. Mặt khác, Nhà nớc lại có thể huy động thêm
các nguồn lực nhàn rỗi trong xã hội để tập trung đầu t, đổi mới, hiện đại hóa
trang thiết bị, công nghệ cho các DNDNN mà Nhà nớc cần nắm giữ và phát
triển.
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
1.2.1.3. Tạo điều kiện cho các doanh nghiệp dợc có thể thu hút nguồn
vốn đầu t, khắc phục những tồn tại do các cơ chế trớc đây để lại.
Thông qua việc CPH, các DN có thể phát hành cổ phiếu để thu hút vốn
đáp ứng cho nhu cầu đầu t, hiện đại hóa máy móc thiết bị, công nghệ sản xuất,
mở rộng qui mô và nâng cao năng suất lao động, chất lợng sản phẩm và khả
năng cạnh tranh của DN.
Bên cạnh đó, thông qua việc thực hiện CPH cũng sẽ giúp cho các
DNDNN xử lý các vấn đề tồn tại trong hoạt động sản xuất kinh doanh do cơ chế
cũ để lại nh: xử lý công nợ khó đòi, xử lý hàng hóa tồn kho kém, mất phẩm
chất, xử lý tài sản DN không cần dùng... tạo điều kiện để lành mạnh hóa tình
hình tài chính DN, giúp cho DN hoạt động tốt hơn khi chuyển sang hình thức
CTCP.
Đặc biệt thông qua việc thực hiện CPH, sẽ thay đổi đợc phơng thức quản
lý trong các DNDNN trớc đây để áp dụng phơng thức quản lý mới, tự chủ, linh
hoạt và trách nhiệm hơn trên cơ sở xã hội hóa cao độ quyền sở hữu.
1.2.1.4. Tạo điều kiện để ngời lao động tham gia và thực sự làm chủ
doanh nghiệp, qua đó khai thác triệt để tiềm năng vốn có của doanh nghiệp.
Khắc phục tình trạng chủ hờ trớc đây của DNDNN, CPH đã xác lập
quyền làm chủ thực sự của ngời lao động, ngời quản lý ở các DN, trong đó tạo
điều kiện để ngời lao động trong các DN thực sự làm chủ thông qua việc thực
1.2.2.1. Tổ chức sắp xếp và đổi mới hệ thống cung ứng thuốc tạo ra cơ
cấu hợp lý trong khu vực kinh tế nhà nớc, nhằm góp phần ổn định thị trờng
thuốc chữa bệnh trớc mắt và lâu dài; thực hiện đa dạng hóa nhiều hình thức sở
hữu vốn để sử dụng có hiệu quả tài sản Nhà nớc và huy động thêm vốn ngoài xã
hội vào việc sản xuất kinh doanh thuốc, tạo thêm động lực mạnh mẽ trong DN,
phát huy tính năng động, nhạy bén, tự chủ, tự chịu trách nhiệm của DN trong cơ
chế thị trờng. Trên cơ sở đó, chuyển đổi Tổng công ty dợc Việt Nam sang tổ
chức và hoạt động theo mô hình công ty mẹ - công ty con sau khi các DN thành
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
viên độc lập đã chuyển đổi sở hữu theo danh sách và kế hoạch tổng thể sắp xếp,
đổi mới DNDNN [27].
1.2.2.2. Chuyển đổi những công ty dợc nhà nớc mà Nhà nớc không cần
giữ 100% vốn sang loại hình doanh nghiệp có nhiều chủ sở hữu.
Theo Quyết định số 117/2003/QĐ-TTg của Thủ tớng Chính phủ ngày
11/06/2003 về việc phê duyệt phơng án tổng thể sắp xếp, đổi mới DNNN trực
thuộc Bộ Y tế giai đoạn 2003 - 2005, sẽ có 7 doanh nghiệp dợc Nhà nớc tiếp tục
nắm giữ 100% vốn. Tuy nhiên, căn cứ tiêu chí DN mà Nhà nớc giữ 100% vốn
theo Quyết định 155/2004/QĐ-TTg của Thủ tớng Chính phủ ngày 24/08/2004
thì chỉ có hai doanh nghiệp dợc đáp ứng các điều kiện qui định. Vì vậy, để đạt
đợc mục tiêu này, Bộ Y tế phải xây dựng đợc kế hoạch sắp xếp DNNN, tổng
công ty nhà nớc thuộc Bộ Y tế giai đoạn tới.
1.2.2.3. Tập trung nguồn lực cho việc đầu t các lĩnh vực trọng điểm theo
chủ trơng, chính sách của Chính phủ và Bộ Y tế: sản xuất nguyên liệu làm
thuốc, thuốc kháng sinh, sản xuất thuốc thiết yếu, thuốc đặc trị, thuốc thay thế
thuốc nhập khẩu...; tổ chức lại hệ thống phân phối thuốc...
1.2.2.4. Huy động vốn của các cá nhân, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội
trong nớc và ngoài nớc để đầu t đổi mới công nghệ, xây dựng các dây chuyền
GP.
Các doanh nghiệp dợc là các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh mặt hàng
đặc biệt, đó là thuốc, một mặt hàng ảnh hởng trực tiếp đến sức khỏe và tính
Nhà nớc trao, cơ quan chủ quản vừa có quyền ban hành các cơ chế, chính sách
riêng áp dụng cho doanh nghiệp, đặc biệt là các loại giấy phép con, vừa có
quyền ban phát cho DN những u ái trong phê duyệt dự án đầu t, cấp phát vốn,
bổ sung vốn điều lệ... Để đợc nh vậy, các DNNN thờng phải có những chi phí
nhất định cho những cơ quan và cá nhân có thẩm quyền quyết định. Sau khi
CPH, không còn tồn tại cơ quan chủ quản và cũng không còn cơ chế xin - cho
đối với DN nữa. Mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của DN sẽ bị chi phối bởi
các qui luật thị trờng và pháp luật. Mối quan hệ giữa Nhà nớc và các CTCP chỉ
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
là quan hệ giữa cổ đông với công ty. Chính vì vậy, mặc dù nhận thức về CPH
của các cơ quan quản lý, các cấp lãnh đạo đã đợc nâng cao rõ rệt, nhng chủ tr-
ơng CPH cha đợc sự hởng ứng tích cực của lãnh đạo các ngành, các cấp chính
quyền trong các cơ quan nhà nớc.
+ Đối với Giám đốc, ngời quản lý DNDNN: Các DNDNN hoạt động
trong cơ chế thị trờng cha lâu nhng đã xuất hiện đội ngũ các nhà quản lý DN có
khả năng kinh doanh. Tuy nhiên sự bao cấp của Nhà nớc đối với DN, cơ chế
xin - cho là mảnh đất tốt cho những hoạt động lãng phí, tham nhũng. CPH tạo
ra sự giám sát chặt chẽ của chủ sở hữu (cổ đông) đối với giám đốc và cán bộ
quản lý của DNNN CPH. Điều này có nghĩa là giám đốc, các nhân viên quản lý
không dễ dàng thực hiện hành vi vụ lợi nh khi DN đang hoàn toàn thuộc sở hữu
Nhà nớc. Ngoài ra nhiều giám đốc lo ngại rằng khi chuyển sang CTCP cha chắc
họ đã đợc cử hoặc đợc bầu làm thành viên HĐQT, cha chắc đợc cử làm giám
đốc. Bên cạnh đó, họ phải bỏ chính tiền túi của mình để mua cổ phần chứ
không phải việc sử dụng vốn Nhà nớc nh trớc đây. Vì vậy nhiều lãnh đạo DN
vẫn cha thực sự quyết tâm trong CPH DN mình quản lý.
+ Đối với ngời lao động: hiện nay, ngời lao động trong các DN dợc đã
thích ứng đợc về ý thức, tác phong và hiệu quả công việc trong điều kiện cạnh
tranh, đã hiểu đợc rằng CPH DNNN là xu thế tất yếu. Việc chuyển đổi phơng
thức quản lý đối với công ty CPH sẽ tạo cơ chế minh bạch hóa, công khai hóa
hoạt động của DN, đặc biệt vấn đề tài chính. Ngời lao động đợc đóng cổ phần,
những điều tốt đẹp hơn.
1.2.3.2. Về cơ sở vật chất của doanh nghiệp
Cơ sở vật chất của DNDNN nói chung ngày càng đợc hiện đại, góp phần
sản xuất nhiều mặt hàng thuốc có chất lợng cao phục vụ nhu cầu của ngời tiêu
dùng. Tuy nhiên, phần lớn DNDNN, đặc biệt là DNDNNĐP, qui mô hoạt động
rất nhỏ bé, một số DN của tỉnh vốn điều lệ chỉ xấp xỉ trên dới 01 tỷ đồng, còn
hầu hết các DN của huyện vốn điều lệ cha đợc 01 tỷ đồng, trang thiết bị hiện
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
đại hầu nh không có hoặc cách đây từ vài chục năm nên rất hạn chế trong việc
kinh doanh sản phẩm. Hơn nữa một số DN hiệu quả kinh doanh không cao,
không có mặt hàng mới, bạn hàng không nhiều, không hấp dẫn ngời lao động
và các nhà đầu t mua cổ phần do không tin tởng vào khả năng hoạt động kinh
doanh của DN trong tơng lai đặc biệt khi hội nhập với khu vực và thế giới. Vì
vậy, gặp khó khăn trong việc bán cổ phần khi CPH.
1.2.3.3. Kết quả hoạt động của DN đã CPH và kinh nghiệm thực tiễn
của các nớc về CPH
Hầu hết các DNNN và DNDNN sau khi chuyển sang CTCP hoạt động có
hiệu quả: năng suất lao động, thu nhập của ngời lao động, các khoản nộp ngân
sách đều tăng. Điều đó chứng tỏ khả năng ổn định và phát triển của DN, nh
những bằng chứng đầy tính thuyết phục rằng CPH DNNN với phơng thức sở
hữu, quản lý mới sẽ tạo điều kiện cho các DN hoạt động tốt hơn chứ không phải
nhằm tớc bỏ các đặc quyền của DN. Do đó, đã khuyến khích các DN và ngời
lao động tham gia vào quá trình CPH DNNN.
Hơn nữa, các kinh nghiệm thực tiễn phong phú của các nớc trên thế giới
trong quá trình CPH, t nhân hóa DNNN sẽ là những bài học bổ ích và quí giá để
Nhà nớc ta tiến hành hoạch định chính sách và tổ chức thực hiện công việc CPH
DNNN tại Việt Nam.
1.2.3.4. Trạng thái phát triển kinh tế
Trạng thái phát triển của nền kinh tế có ảnh hởng rất lớn đến việc CPH
DNNN nói chung cũng nh DNDNN nói riêng, ở nớc ta.
doanh và bình đẳng trớc pháp luật. Các quyền cơ bản đó của doanh nghiệp dợc
đợc qui định trong Hiến pháp, trong các đạo luật, đặc biệt là Luật Dợc vừa đợc
Quốc hội thông qua ngày 14/06/2005.
Đảng và Nhà nớc ta đã nhận thức đợc tầm quan trọng của vấn đề CPH
các DNNN và quyết tâm thực hiện. Để thực hiện CPH DNNN, Nhà nớc ta đã
ban hành nhiều chủ trơng, chính sách và nhiều văn bản pháp luật khác nhau.
Điều này thể hiện ở hệ thống các văn bản qui phạm pháp luật qui định chuyển
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
một số DNNN thành CTCP từ năm 1990 đến nay. Những qui định này góp phần
xác định rõ quan điểm và phơng hớng chỉ đạo thống nhất ở mọi cấp, mọi ngành
cho đến từng DN triển khai thực hiện.
Khi các DNDNN tiến hành CPH thì hệ thống văn bản về CPH DNNN đã
và đang đợc hoàn thiện. Những khúc mắc trong CPH dần đợc tháo gỡ. Cơ chế
chính sách CPH theo hớng mở rộng u đãi hơn, đơn giản hóa thủ tục, đảm bảo
thỏa đáng các chính sách đối với ngời lao động.
Tiền đề pháp lý của CPH DNDNN đợc tạo nên bởi những yếu tố chủ yếu
sau:
Thứ nhất, tuy cha đợc ban hành trong một văn bản có hiệu lực pháp lý
cao nhng trong hệ thống pháp luật hiện hành đã tồn tại nhiều qui định pháp luật
điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh từ CPH DN. Các qui định này tập trung
chủ yếu tại Nghị định số 187/2004/NĐ-CP và các văn bản hớng dẫn thi hành.
Toàn bộ các văn bản này tạo nên lĩnh vực pháp luật về CPH khá đặc thù. Bên
cạnh đó, các quan hệ phát sinh từ CPH còn có các qui định của các lĩnh vực
pháp luật có liên quan trực tiếp khác điều chỉnh nh qui định của các luật về
doanh nghiệp, các qui định về chứng khoán...
Thứ hai, trong hệ thống pháp luật đã tồn tại các loại công ty đối vốn.
Đặc điểm của các loại hình công ty đối vốn là tính trờng tồn của chúng bất chấp
sự thay đổi cổ đông, là tính dễ chuyển nhợng phần vốn góp và khả năng thanh
khoản của các cổ phần mà chúng phát hành. Đây là tiền đề pháp lí quan trọng vì
không thể tiến hành CPH nếu trong hệ thống pháp luật không có các công ty
Nam theo các giai đoạn:
1.3.1. Giai đoạn thí điểm (Từ 1990 đến 5/1996)
Văn bản pháp luật đầu tiên về CPH DNNN là Quyết định số 143/HĐBT
ngày 10/05/1990 của Hội đồng Bộ trởng. Quyết định này đã đa ra một số điều
kiện để chọn các DNNN làm thí điểm CPH. Theo Quyết định này, chỉ những
DNNN kinh doanh có lãi, tập thể DN đoàn kết và có khả năng mua cổ phần mới
đợc tiến hành CPH. Tuy nhiên, trong hai năm 1990 và 1991, việc CPH DNNN
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
đợc chọn làm thí điểm không thực hiện đợc. Quyết định số 143/HĐBT cha tạo
đợc những cơ sở pháp lý đầy đủ cho CPH. Hơn nữa, các tiêu chí cho việc chọn
DNNN thí điểm CPH hoàn toàn dựa vào mong muốn chủ quan của DN, ý chí
của chủ sở hữu không đợc thể hiện rõ.
Chơng trình CPH DNNN ở Việt Nam thực sự bắt đầu từ năm 1992 với
việc Chủ tịch Hội đồng Bộ trởng (nay là Chính phủ) ban hành Quyết định số
202-CT ngày 08/06/1992 và Chỉ thị số 84/TTg ngày 04/03/1993 của Thủ tớng
Chính phủ.
Tuy nhiên trong thời gian 5 năm thí điểm CPH, cả nớc chỉ tiến hành CPH
đợc 5 doanh nghiệp thuộc 3 Bộ và 2 địa phơng [37].
Nguyên nhân là CPH DNNN mới chính thức đợc thực hiện tại Việt Nam
nên các ngành, các địa phơng cho đến các đơn vị kinh tế cơ sở hầu nh cha hiểu
rõ về chủ trơng CPH DNNN. Bên cạnh đó, hệ thống văn bản pháp luật điều
chỉnh về CPH còn cha rõ ràng, đầy đủ, cha lờng hết đợc những khía cạnh phát
sinh trong tiến trình CPH DNNN nh:
- Đối tợng CPH giai đoạn này vẫn còn khá hẹp. Đối tợng mua cổ phiếu
chủ yếu là cán bộ công nhân viên trong DN tuy có cho phép cổ đông trong nớc
ngoài DN nhng mức độ khuyến khích cha cao.
- Còn quá nhiều u đãi cho DNNN, đặc biệt là các chính sách tài chính, tín
dụng nên dẫn đến các DN cảm thấy bị thiệt thòi, khó khăn khi chuyển sang
hình thức CTCP;
- Việc xử lý các tồn tại về tài chính trong DN cha có hớng dẫn cụ thể, rõ
Kết quả này cho thấy hệ thống cơ chế chính sách về CPH vẫn còn cha
hoàn chỉnh. Nghị định 28/CP và Nghị định 25/CP của Chính phủ còn nhiều vấn
đề cần nghiên cứu và hoàn thiện:
- Việc huy động vốn cha đợc khai thác tốt là do Nghị định 28/CP giới
hạn vốn đầu t của các nhà đầu t trong nớc 5 - 10% giá trị doanh nghiệp; cha qui
định về việc bán cổ phần cho ngời nớc ngoài.