luận văn Pháp luật về cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước- Thực tiễn thực hiện tại công ty cổ phần Giao thông Công chính Thạch Thành - Pdf 27

TÓM LƯỢC
Nước ta đang trong quá trình quá độ đi lên xã hội chủ nghĩa với chủ trương của
Đảng và Nhà nước là thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá nhằm xây dựng một nền
kinh tế tự chủ nhưng không tách rời xu thế toàn cầu hoá. Một trong những công việc
quan trọng trong giai đoạn này là cổ phần hoá các doanh nghiệp Nhà nước.
Vấn đề đổi mới và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp Nhà nước luôn là mối quan
tâm của Đảng từ năm 1986 đến nay, Nghị quyết Hội nghị lần thứ 3 Ban chấp hành
Trung ương Đảng khoá IX nhận định: "Kinh tế Nhà nước có vai trò quyết định trong
việc giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa, ấn định và phát triển kinh tế chính trị xã
hội của đất nước là chủ lực trong hội nhập kinh tế thế giới". Đẩy mạnh cổ phần hoá
doanh nghiệp Nhà nước mà Nhà nước không cần giữ 100% vốn - xem đó là khâu quan
trọng để chuyển biến cơ bản trong việc nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước.
Thêm vào đó là việc Việt Nam gia nhập WTO đã đẩy chủ trương cổ phần hoá
các doanh nghiệp nhà nước nhanh cả về tiến độ và chất lượng để đảm bảo năng lực
cạnh tranh của doanh nghiệp trong nước.
Nhận thức được chủ trương cũng như phương hướng của Đảng và Nhà nước ta
cùng với xu thế phát triển xã hội nói chung, công ty cổ phần giao thông Công chính
Thạch Thành đã tiến hành cổ phần hoá theo chủ trương của Nhà nước. Trong phạm vi
khoá luận này, em sẽ tập trung nghiên cứu các quy định của pháp luật cũng như thực
tiễn áp dụng tại công ty cổ phần giao thông Công chính Thạch Thành. Vì thế em lựa
chọn đề tài: “Pháp luật về cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước- Thực tiễn thực hiện
tại công ty cổ phần Giao thông Công chính Thạch Thành” là đề tài khoá luận của
mình. Nội dung khoá luận được chia thành 3 chương:
Chương 1: Những lý luận cơ bản về pháp luật điều chỉnh về cổ phần hoá doanh
nghiệp Nhà nước.
Chương 2: Thực trạng pháp luật điều chỉnh về cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà
nước và thực tiễn thực hiện tại công ty cổ phần Giao thông Công chính Thạch Thành.
Chương 3: Một số giải pháp để hoàn thiện pháp luật về cổ phần hoá doanh
nghiệp Nhà nước.
LỜI CẢM ƠN
1

xuất và từng bước xây dựng quan hệ sản xuất mới phù hợp với trình độ lực lượng sản
xuất. Để giải phóng lực lượng sản xuất tất yếu phải phát triển mạnh mẽ nền kinh tế
hàng hóa nhiều thành phần, xóa bỏ cơ chế tập trung quan liêu ban cấp, chuyển sang cơ
chế thị trường và xây dựng thể chế kinh tế thị trường, đa dạng hóa các hình thức sở
hữu trong đó kinh tế Nhà nước đóng vai trò chủ đạo. Muốn vậy phải đổi mới mạnh mẽ
DNNN. Theo hướng đó, sau nhiều năm tìm tòi và thức nghiệm trong thực tế, Đảng và
NN ta đã lựa chọn cổ phần hóa như một phương hướng có hiệu quả để đổi mới các
DNNN.
Theo NĐ 109/2007 về chuyển DNNN thành công ty cổ phần nhằm: Chuyển đổi
những doanh nghiệp mà nhà nước không cần giữ 100% vốn sang lại hình doanh
nghiệp có nhiều chủ sở hữu; huy động vốn của các nhà đầu tư trong nước và nước
ngoài để nâng cao năng lực tài chính, đổi mới công nghệ, đổi mới phương thức quản lý
nhằm loại bỏ những tồn tại và yếu kém trong khối doanh nghiệp Nhà nước đồng thời
nâng cao chất lượng hoạt động của khối doanh nghiệp này qua đó nâng cao hiệu quả
và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Đảm bảo hài hoài lợi ích của Nhà nước, doanh
nghiệp, nhà đầu tư và người lao động trong doanh nghiệp
Thời điểm tất cả các DNNN phải chuyển đổi sang hoạt động theo Luật Doanh
nghiệp (1/7/2010) đã qua được hơn 4 năm tuy nhiên tốc độ cổ phần hoá cả về chất
lượng và tốc độ thì không đạt được theo chủ trương mà Đảng và Nhà nước đề ra. Áp
lực rõ ràng là rất lớn, bởi dù chưa tính toán tới khía cạnh chất lượng, chỉ tính về số
lượng, để thực hiện đúng lộ trình này, cũng đã bị chậm trễ. Thậm chí, cũng đã có ý
kiến bày tỏ sự băn khoăn về tính bất khả thi của nhiệm vụ quan trọng này.
Gia nhập WTO thì cạnh tranh không chỉ diễn ra ở cấp độ sản phẩm với sản
phẩm, doanh nghiệp với doanh nghiệp. Cạnh tranh còn diễn ra giữa Nhà nước và Nhà
nước trong việc hoạch định chính sách quản lý và chiến lược phát triển nhằm phát huy
nội lực và thu hút đầu tư từ bên ngoài. Chiến lược phát triển có phát huy được lợi thế
so sánh hay không, có thể hiện được khả năng phản ánh vượt trước trong một thế giới
biến đổi nhanh chóng hay không. Do đó chúng ta phải gấp rút hoàn thành để DNNN
5
cũng như cơ quan quản lý nhà nước làm quen với cách thức và phương pháp điều hành

pháp luật này.
6
ThS Trần, Thị Bạch Dương( 2002): Xu hướng hoàn thiện pháp luật về cổ phần
hoá doanh nghiệp nhà nước. Nghiên cứu của tác giả đã đưa ra những xu hướng đẩy
nhanh tốc độ cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước cả về tốc độ và chất lượng.
Tuy nhiên, các công trình này phần lớn đều chỉ tập trung nghiên cứu pháp luật
về cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước một cách lý thuyết, chung chung mà chưa
đi sâu vào tìm hiểu thực trạng áp dụng tại một doanh nghiệp cụ thể. Do vậy em xin
chọn đề tài: “Pháp luật về cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước- Thực tiễn thực hiện
tại công ty cổ phần Giao thông Công chính Thạch Thành” là đề tài khoá luận của
mình.
3. Xác lập và tuyên bố vấn đề nghiên cứu
Khi các văn bản pháp luật được ban hành thì buộc các chủ thể thuộc phạm vi
điều chỉnh phải tuân thủ theo. Cổ phần hoá là chủ trương của Đảng và nhà nước đã
được thể chế hoá thành các quy phạm pháp luật được quy định trong các văn bản pháp
luật: Luật Doanh nghiệp 2005, một số NĐ như NĐ 59/2011 NĐ- CP
Thực hiện yêu cầu của Chính phủ, các bộ, ngành, địa phương, tập đoàn kinh tế,
tổng công ty nhà nước đã nghiêm túc, quyết liệt chỉ đạo, thực hiện các biện pháp mạnh
mẽ, nhiều đơn vị có các biện pháp sáng tạo phù hợp với quy định của pháp luật, nỗ lực
thực hiện cổ phần hóa doanh nghiệp trực thuộc.
Công ty cổ phần giao thông Công chính Thạch Thành có tiền thân là một doanh
nghiệp nhà nước. Thực hiện theo đúng chủ trương của Đảng, định hướng của Nhà
nước năm 2004 công ty đã tiến hành cổ phần hoá và sau 10 năm công ty đã đạt được
nhiều kết quả. Vì vậy trong đợt thực tập tốt nghiệp tổng hợp vừa qua cùng với những
kiến thức được trang bị tại trường đại học Thương Mại, và sự giúp đỡ của giáo viên
hướng dẫn, các cán bộ nhân viên trong công ty nên em xin chọn đề tài:“ Pháp luật về
cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước- Thực tiễn thực hiện tại công ty cổ phần Giao
thông Công chính Thạch Thành” là đề tài khoá luận của mình.
Do kinh nghiệm nghiên cứu còn hạn chế và thời gian hạn hẹp, bài viết này mới chỉ đề
cập được đến một số vấn đề cơ bản nhất, nên sẽ không tránh khỏi những thiếu sót.

hoá của công ty.
Thứ hai: Phương pháp nghiên cứu tài liệu: chủ yếu là nghiên cứu các văn bản
quy phạm pháp luật quy định về cổ phần hoá DNNN.
Thứ ba: Phương pháp so sánh, đối chiếu thông tin: trong quá trình thực tập và
viết khoá luận, bên phía Công ty cổ phần giao thông Công Chính Thạch Thành có
cung cấp một số tài liệu để xác thực thông tin được cung cấp, em đã sử dụng phương
pháp so sánh, đối chiếu thông tin từ một số nguồn khác nhau để đảm bảo tính khách
quan.
6. Kết cấu khoá luận tốt nghiệp
Ngoài phần mở đầu và kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, khóa luận gồm 3
chương:
Chương 1: Những lý luận cơ bản về pháp luật điều chỉnh về cổ phần hoá doanh nghiệp
Nhà nước.
Chương 2: Thực trạng pháp luật điều chỉnh về cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước và
thực tiễn thực hiện ở công ty cổ phần giao thông Công chính Thạch Thành.
8
Chương 3: Một số giải pháp để hoàn thiện pháp luật về cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà
nước
CHƯƠNG 1: NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH VỀ
CỔ PHẦN HOÁ CÁC DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC.
1.1 Một số khái niệm cơ bản liên quan đến cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước
1.1.1 Doanh nghiệp Nhà nước (DNNN)
Khái niệm doanh nghiệp Nhà nước
Doanh nghiệp Nhà nước là tổ chức kinh tế do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ
hoặc có cổ phần, vốn góp chi phối được tổ chức dưới hình thức công ty Nhà nước,
công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn.
9
Doanh nghiêp Nhà nước là doanh nghiệp một chủ trong trường hợp Nhà nước sở hữu
toàn bộ vốn điều lệ(tức sở hữu 100%). Doanh nghiệp Nhà nước nhiều chủ sở
hữu trong trường hợp có cổ phần, vốn góp chi phối có tỉ lệ trên 50% và dưới 100%.

trách nhiệm hữu hạn trong đó có tất cả các thành viên đều là công ty Nhà nước hoặc có
10
thành viên là công ty Nhà nước, thành viên được ủy quyền góp vốn. Được tổ chức và
hoạt động theo luật Doanh nghiệp.
Thứ năm, doanh nghiệp cổ phần, vốn góp chi phối của Nhà nước: Là doanh nghiệp mà
cổ phần hoặc vốn góp của Nhà nước chiếm trên 50% vốn điều lệ. Nhà nước giữ quyền
chi phối doanh nghiệp.
Dựa theo nguồn vốn DNNN được chia thành:
Thứ nhất, Doanh nghiệp nhà nước do Nhà nước sở hữu 100% vốn, gồm: công ty Nhà
nước, công ty cổ phần Nhà nước, công ty trách nhiệm hữu hạn Nhà nước một thành
viên, công ty trách nhiệm hữu hạn Nhà nước hai thành viên trở lên.
Thứ hai, Doanh nghiệp do Nhà nước có cổ, vốn góp chi phối, gồm: công ty cổ phần
Nhà nước mà Nhà nước chiếm trên 50% cổ phiếu, công ty trách nhiệm hữu hạn mà
Nhà nước chiếm trên 50% vốn góp.
Dựa theo mô hình tổ chức quản lý:
Thứ nhất, doanh nghiệp Nhà nước có hội đồng quản trị: hội đồng quản trị là cơ quan
đại diện trực tiếp chủ sở hữu Nhà nước, chịu trách nhiệm trước Nhà nước.
Thứ hai, doanh nghiệp Nhà nước không có hội đồng quản trị: giám đốc doanh nghiệp
được Nhà nước bổ nhiệm hoặc thuê để điều hành hoạt động của doanh nghiệp.
1.1.2. Cổ phần hoá
Là quá trình chuyển quyền sở hữu của tài sản hoặc các hoạt động kinh doanh từ Nhà
nước sang cho một thực thể do tư nhân hoặc tổ chức sở hữu.
1.1.3 Cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước
Khái niệm: Là quá trình chuyển một phần hoặc toàn bộ vốn của Nhà nước cho cá
nhân, tổ chức đồng thời chia nhỏ phần vốn của công ty thành nhiều phần bằng nhau
nhằm thay đổi hình thức sở hữu của công ty từ một chủ sở hữu thành nhiều chủ sở
hữu.
Bản chất của cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước là bán một phần hoặc toàn bộ doanh
nghiệp Nhà nước thông qua hình thức bán cổ phần của doanh nghiệp nhằm đem lại
nhiều lợi ích hơn cho cả Nhà nước và cho chính cả bản thân doanh nghiệp:

phần có thể thay đổi, tăng hoặc giảm số chủ sở hữu trong quá trình kinh doanh. Công
ty cổ phần được giám sát chặt chẽ, thường xuyên, có hiệu quả bởi thị trường chứng
khoán và cơ chế hoạt động bên trong của nó.
Công ty cổ phần là loại công ty có rất nhiều ưu điểm so với các loại hình công ty khác:
Công ty cổ phần là một hình thức tổ chức kinh doanh có tư cách pháp nhân; Công ty
được phép phát hành cổ phiếu, trái phiếu. Vì vậy, công ty cổ phần dễ dàng huy động
được một lượng vốn lớn từ các nhà đầu tư khi cần đầu tư mở rộng sản xuất, hiện đại
hóa trang thiết bị, cải tiến công nghệ… Đây là ưu thế nổi bật của công ty cổ phần trong
nền kinh tế thị trường.
Bên cạnh đó cổ đông của công ty góp vốn vào công ty và hưởng lãi hoặc chịu lỗ
tương ứng với tỷ lệ vốn góp vào công ty. Cổ đông chỉ phải chịu trách nhiệm về các
khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn đã góp. Như vậy,
12
các cổ đông chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn đối với phần vốn góp vào công ty. Các cổ
đông chia sẻ rủi ro với nhau trong trường hợp công ty làm ăn thua lỗ ( và chỉ phải chịu
trong phần vốn góp vào công ty) vì vậy đây là loại hình thu hút nhiều nhà đầu tư nên
công ty cổ phần thường có rất nhiều cổ đông. Các cổ đông có thể tự mình tham
gia quản lý công ty hoặc cử người tham gia quản lý công ty.
Về cổ phiếu, trái phiếu của công ty cổ phần được tự do chuyển nhượng ( trừ một số
trường hợp đặc biệt). Vì vậy, nhà đầu tư có thể dễ dàng chuyển hướng đầu tư. Điều
này thể hiện sự đa dạng trong đầu tư, phù hợp với xu hướng phát triển năng động của
nền kinh tế thị trường. Công ty cổ phần cùng với việc phát hành các loại chứng khoán
và việc chuyển nhượng, mua bán chứng khoán và chuyển nhượng, mua bán chứng
khoán. Khi thị trường chứng khoán ra đời, nó sẽ tạo điều kiện cho các nhà kinh doanh
có thể tìm kiếm các nguồn tài trợ cho hoạt động đầu tư sản xuất kinh doanh để mở
rộng sản xuất nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp sau cổ phần hóa.
Có thể thấy công ty cổ phần là một loại hình tổ chức kinh doanh phù hợp với quy
mô sản xuất lớn, thích ứng được những đòi hỏi của nền sản xuất xã hội hóa cao và sự
phát triển của nền kinh tế hiện đại. Hiện nay, công ty cổ phần là mô hình phổ biến trên
thế giới, nhất là ở các nước phát triển.

hoá) cần phải được thể chế hoá thành các quy phạm, các văn bản quy phạm pháp luật.
Thứ ba: Các cam kết về cổ phần hóa các Doanh nghiệp Nhà nước ở Việt Nam khi
hội nhập kinh tế quốc tế
Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, thế giới đã tập trung nhiều chú ý vào sự tồn
tại và hoạt động của các doanh nghiệp do Nhà nước sở hữu hoặc kiểm soát tại
Việt Nam. Khi gia nhập WTO, WTO không đưa ra các quy tắc đối với các Thành
viên về việc ưu tiên một hình thức sở hữu nào đó hay trong việc thành lập và vận hành
các DNNN. Tức là không yêu cầu bắt buộc phải cổ phần hóa các DNNN. Tuy nhiên,
nhằm đảm bảo nguyên tắc minh bạch hóa, nghị định thư gia nhập của tất cả các nước
có nền kinh tế đang chuyển đổi đều có nghĩa vụ thông báo hàng năm cho các Thành
viên WTO khác về các chương trình cổ phần hóa của họ. Giống như các nền kinh tế
chuyển đổi mới gia nhập khác, Việt Nam cam kết sẽ đảm bảo tính minh bạch tối đa
của các chương trình cổ phần hóa đang thực hiện, và để thực hiện mục tiêu này, kể từ
thời điểm gia nhập WTO, Việt Nam sẽ cung cấp cho các thành viên WTO báo cáo
thường niên về tình trạng chương trình cổ phần hóa DNNN ở Việt Nam và các văn bản
pháp luật điều chỉnh vấn đề cổ phần hóa.
1.2.2 Nội dung pháp luật điều chỉnh cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước
Cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước là chuyển đổi các doanh nghiệp Nhà nước từ
chỗ chỉ thuộc sở hữu của Nhà nước thành công ty cổ phần thuộc sở hữu của nhiều cổ
đông. Cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước bản chất là bán một phần hoặc toàn bộ
doanh nghiệp Nhà nước thông qua hình thức bán cổ phần của doanh nghiệp.
Cùng với chủ trương cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước thì viêc ban hành một số văn
bản quy phạm pháp luật quy định, điều chỉnh về cổ phần hoá DNNN cũng được tiến
hành và kết quả là sự ra đời của một số văn bản quy phạm pháp luật mang tính hướng
dẫn, điều chỉnh thực hiện:
Đầu tiên là quy định trong Luật doanh nghiệp 2005: Theo Điều 166 Luật Doanh
nghiệp thì đến 1/7/ 2010 thì các công ty, doanh nghiệp, tập đoàn kinh tế nhà nước phải
14
chuyển đổi sang hình thức công ty cổ phần nhà nước, công ty trách nhiệm hữu hạn
Nhà nước một thành viên hoặc công ty trách nhiệm hữu hạn Nhà nước hai thành viên

Thứ ba: Doanh nghiệp 100% vốn Nhà nước chưa chuyển thành công ty trách nhiệm
hữu hạn một thành viên.
Và điều kiện để các doanh nghiệp thuộc đối tượng được cổ phần hoá là không thuộc
diện Nhà nước cần nắm giữ 100% vốn điều lệ. Danh mục doanh nghiệp thuộc diện
15
Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ do Thủ tướng Chính phủ quyết định trong từng
thời kỳ hoặc còn vốn Nhà nước sau khi đã được xử lý tài chính và đánh giá lại giá trị
doanh nghiệp.
Các hình thức khi cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước:
Theo Nghị định số 59/2011/NĐ-CP có một số hình thức cổ phần hóa sau:
1. Giữ nguyên vốn nhà nước hiện có tại doanh nghiệp, phát hành cổ phiếu thu hút thêm
vốn.
2. Bán một phần vốn nhà nước hiện có tại doanh nghiệp.
3. Bán toàn bộ vốn nhà nước hiện có tại doanh nghiệp.
Thực hiện các hình thức 2 hoặc 3 kết hợp với phát hành cổ phiếu thu hút thêm vốn.
Ngoài ra còn quy định về trình tự cổ phần hoá các doanh nghiệp Nhà nước theo các
bước sau:
Bước 1: Xây dựng phương án cổ phần hóa.
Tại bước thứ nhất này, đầu tiên yêu cầu cần lập ra một Ban chỉ đạo để chuẩn bị các
công tác cũng như chỉ đạo các bước tiến hành chuyển đổi cổ phần cho các doanh
nghiệp. Sau đó Ban chỉ đạo này sẽ có nhiệm vụ phối hợp với các doanh nghiệp tiến
hành điều tra, lấy số liệu hồ sơ về doanh nghiệp. Các bước tiến hành chuyển đổi gồm
có: Chuẩn bị các hồ sơ tài liệu của doanh nghiệp như hồ sơ pháp lý về thành lập doanh
nghiệp, hồ sơ pháp lý về tài sản, vốn của doanh nghiệp, hồ sơ về công nợ, báo cáo tài
chính, hồ sơ tài sản , hồ sơ các nguồn vay dài hạn và ngắn hạn Sau đó tổng hợp
thống kê lại và lập danh sách thống kê các vấn đề tài chính và cơ cấu tổ chức của
doanh nghiệp. Lập phương án sử dụng đất của doanh nghiệp và danh sách phương án
sắp xếp lao động đang quản lý. Từ đó sẽ tiến hành kiểm kê, xử lý những vấn đề về tài
chính và tổ chức xác định giá trị doanh nghiệp. Cuối cùng là bước định giá và công bố
giá trị doanh nghiệp để bắt đầu tiền hành bán cố phần.

Các quy định liên quan đến thoái vốn đầu tư ngoài ngành cần linh hoạt và phải bao
quát được thực tiễn đa dạng của các loại vốn cần thoái, phải điều chỉnh việc thoái vốn
dưới hình thức cổ phần, vốn góp, và các hình thức khác như bán tài sản, chuyển
nhượng dự án, chuyển nhượng quyền sử dụng đất Các quy định về thực hiện bảo
toàn và phát triển vốn tại DNNN cần phải quy định phù hợp với cơ chế thị trường.
Các quy định về định giá vốn tại DNNN cũng cần dễ hiểu và phải tuân theo nguyên
tắc thị trường, không cản trở quá trình thoái vốn của các DNNN
Cần quy định về việc phát hành nhiều loại cổ phần ngoài cổ phần phổ thông, còn cần
phát hành loại cổ phần ưu đãi để đáp ứng được nhu cầu đa dạng của các nhà đầu tư,
nhất là trong bối cảnh thị trường chứng khoán suy giảm, để không làm ảnh hưởng
đáng kể đến tốc độ cổ phần hóa.
Quy định về quá trình cổ phần hoá cần rõ ràng, cần thống nhất để dễ dàng trong khâu
thực hiện
17
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH VỀ CỔ PHẦN HOÁ
DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN TẠI CÔNG TY
CỔ PHẦN GIAO THÔNG CÔNG CHÍNH THẠCH THÀNH
2.1 Tổng quan tình hình và các nhân tố ảnh hưởng đến vấn đề cổ phần hoá doanh
nghiệp Nhà nước
2.1.1 Tổng quan tình hình cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước
2.1.1.1 Tính tất yếu phải cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước
Cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước là nhiệm vụ quan trọng và mang tính tất yếu: do
yêu cầu của bản thân thị trường, nền kinh tế, của chính doanh nghiệp Nhà nước và hơn
thế công ty cổ phần chính là loại hình công ty có nhiều ưu điểm nhất được hình thành
và phát triển mạnh mẽ ở các nước phát triển.
Thứ nhất yêu cầu về hiệu quả trong nền kinh tế
Hiệu quả hoạt động: theo mô hình xã hội chủ nghĩa truyền thống, sở hữu Nhà nước
được thiết lập nhằm mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn, đảm bảo tính công bằng trong
xã hội với mục tiêu” làm theo năng lực hưởng theo nhu cầu”. Nhưng trên thực tế, nền
kinh tế kế hoạch hoá tập trung đã vận hành không tốt như mong đợi. Nó thể hiện nhiều

nhận việc nhà nước giữ độc quyền cho các Doanh nghiệp của mình. Cạnh tranh bình
đẳng đòi hỏi không chỉ xoá bỏ độc quyền mà cần phải xoá bỏ cả bao cấp. Dưới áp lực
nền kinh tế thị trường thì việc cổ phần hoá các DNNN là điều tất yếu.
Cuối cùng loại hình công ty cổ phần bộc lộ là loại hình công ty tối ưu nhất hiện nay
với nhiều ưu điểm: chế độ trách nhiệm của công ty cổ phần là trách nhiệm hữu hạn,
các cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong
phạm vi vốn góp nên mức độ rủi do của các cổ đông không cao tuy nhiên sẽ làm
những người quản lý trong công ty chịu trách nhiệm cao hơn; Số lượng cổ đông trong
công ty không giới hạn tối đa; Khả năng hoạt động của công ty cổ phần rất rộng, trong
hầu hết các ngành nghề, lĩnh vực. Sau 3 năm hoạt động, việc chuyển nhượng vốn trong
công ty cổ phần là tương đối dễ dàng, do vậy phạm vi đối tượng được tham gia công ty
cổ phần là rất rộng, ngay cả các cán bộ công chức cũng có quyền mua cổ phiếu của
công ty cổ phần.
2.1.1.2 Đánh giá chung về quy định của pháp luật về cổ phần hoá và việc thực hiện cổ phần
hóa DNNN từ năm 2005 đến nay
Từ khi có chủ trương cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước, thì chủ trương này đã
được thể chế hoá trong luật. Rất nhiều văn bản quy phạm pháp luật được ban hành
nhằm điều chỉnh vấn đề này một cách thống nhất và có hiểu quả nhất: như trong luật
Doanh nghiệp 2005, NĐ 59/2011 NĐ- CP….
Hiện nay, việc cổ phần hóa các doanh nghiệp Nhà nước chủ yếu là thực hiện theo các
nghị định, thông tư hoặc các quyết định mang tính chất hành chính của các cấp. Có thể
nói, quá trình cổ phần hóa đã có các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh một cách
cơ bản như về đối tượng, quá trình, hình thức, các vấn đề liên quan đến vốn và tài sản,
người lao động trong quá trình cổ phần hóa.
Trong giai đoạn từ năm 2011 đến nay, khi kế hoạch cổ phần hóa liên tục bị chậm tiến
độ, Chính phủ, các bộ, ngành, UBND cấp tỉnh đã ban hành rất nhiều văn bản nhằm
19
đẩy nhanh quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước. Ví dụ, trong năm 2014
Chính phủ và Thủ tướng đã ban hành một số văn bản pháp luật như: Nghị quyết
15/NQ-CP năm 2014 về giải pháp đẩy nhanh cổ phần hóa, thoái vốn nhà nước tại

20
chính sách quản lý doanh nghiệp sau cổ phần hóa như: chính sách tiền lương, tiền
thưởng… vẫn còn áp dụng như trước chuyển đổi chưa đem lại nhiều lợi ích cho người
lao động.
Về thực trạng tốc độ cổ phần hoá: khi giai đoạn 2007-2010 chỉ đạt khoảng 30% kế
hoạch cổ phần hóa, năm 2011 được 12 doanh nghiệp, năm 2012 được 13 doanh
nghiệp, năm 2013 được 74 doanh nghiệp, đều quá thấp so với yêu cầu. Nhiều địa
phương, bộ ngành, tập đoàn, tổng công ty nhà nước không cổ phần hóa được doanh
nghiệp nào trong thời gian qua. Trong 5 tháng đầu năm 2014, mới cổ phần hóa được
17 doanh nghiệp, tương đương 3,9% số doanh nghiệp phải cổ phần hóa 2 năm 2014-
2015 và 10,4% kế hoạch năm 2014.…(nguồn: />Theo thống kê đấu giá cổ phần của các công ty, tổng công ty nhà Nước trong quý I và
quý II/2014 cho thấy, trung bình có 27% số cổ phần chào bán trúng giá, trong đó, có
tới một nửa số doanh nghiệp chỉ bán được dưới 2% tổng số cổ phần chào bán. Việc
thoái vốn ngoài ngành của các tập đoàn, tổng công ty Nhà nước hết sức khó khăn, mới
đạt 4.164 tỷ đồng trên tổng số 21.797 tỷ đồng cần thoái (19%), các nhà đầu tư bên
ngoài chỉ mua 267 tỷ đồng, còn lại 3.894 tỷ đồng là trong nội bộ.( nguồn:
/>Chậm trễ trong cổ phần hóa có nguyên nhân khách quan là khủng hoảng tài chính và
suy thoái toàn cầu ảnh hưởng nặng nề đến nền kinh tế nước ta, thị trường tài chính khó
khăn, thị trường chứng khoán giảm sút, sức mua cổ phần thấp, nguồn cung dường như
vượt quá năng lực hấp thụ của thị trường, nhà đầu tư còn lo ngại khi thị trường tồn tại
nhiều rủi ro…
2.1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến việc cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước.
Quá trình cổ phần hóa DNNN chịu ảnh hưởng của rất nhiều yếu tố từ bên môi
trường bên ngoài như các chính sách của Đảng và Nhà nước, bản thân nền kinh tế và
các yếu tố từ ngay bên trong doanh nghiệp.
Nhân tố thứ nhất đó là chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về cổ phần
hoá, pháp luật điều chỉnh:
Chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đặt ra trong mỗi thời kì là khác nhau vì
vậy việc thể chế hoá pháp luật cũng cần đáp ứng đúng chủ trương, chính sách của
Đảng và Nhà nước. Khi bắt đầu có chủ trương cổ phần hoá thì các hoạt động mang

nhà nước
Để đẩy mạnh tốc độ cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước các cấp, các ngành đã vào
cuộc triển khai một cách quyết liệt, trong đó công tác hoàn thiện hành lang pháp lý đã
được quan tâm hàng đầu. Nhiều nghị định, quyết định quan trọng đã được ban hành
nhằm phục vụ cho công tác sắp xếp đổi mới DNNN như: Tiêu chí danh mục phân loại
DNNN, quy định về tập đoàn kinh tế nhà nước và tổng công ty nhà nước, giám sát,
kiểm tra, thanh tra đối với DNNN trong việc chấp hành pháp luật và tuân thủ các quyết
định của chủ sở hữu, quy chế công bố thông tin cổ phần hóa DNNN… Năm 2011,
Chính phủ ban hành Nghị định 59/2011/NĐ-CP ngày 18/7/2011 về chuyển doanh
nghiệp (DN) 100% vốn Nhà nước thành công ty cổ phần. Mới đây nhất là Quyết định
51/2014/QĐ-TTg về một số giải pháp đẩy mạnh cổ phần hóa, thoái vốn nhà nước tại
doanh nghiệp và hướng dẫn thực hiện.
22
Nghị định số 59/2011/NĐ-CP với những quy định mới nhằm thực hiện chủ trương
của Đảng về tiếp tục hoàn thiện cơ chế cổ phần hóa gắn với thị trường, ngăn ngừa thất
thoát tài sản nhà nước, nâng cao tính công khai, minh bạch, tăng cường sự giám sát
của các cơ quan quản lý Nhà nước đối với công tác cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà
nước.
Thông tư số 202/2011/ TT-BTC ngày 30/12/2011 cũng được ban hành hướng dẫn
về xử lý tài chính và xác định giá trị doanh nghiệp khi thực hiện cổ phần hóa và Thông
tư số 196/2011/TT-BTC ngày 26/12/2011 hướng dẫn bán cổ phần lần đầu và quản lý,
sử dụng tiền thu từ cổ phần hóa của các DN 100% vốn nhà nước thực hiện chuyển đổi
thành công ty cổ phần.
Với những hành lang pháp lý được hoàn thiện theo yêu cầu thực tiễn cùng sự vào cuộc
mạnh mẽ của các cấp, các ngành, tái cơ cấu DNNN bước đầu đã mang lại nhiều kết
quả khả quan. Các quy định này đều hướng tới việc thực hiện thành công chủ trương
cổ phần hóa, mang lại nhiều hiệu quả cho doanh nghiệp, người lao động, nhà nước…
Tuy nhiên, cùng với những nguyên nhân khách quan từ thị trường, bản thân cơ chế,
chính sách và tổ chức thực hiện pháp luật về cổ phần hóa, thoái vốn nhà nước còn
nhiều bất cập. Việc xác định giá trị doanh nghiệp vẫn gặp khó khăn, nhất là giá trị

hiện nay: Ở các nước trên thế giới thì việc định giá doanh nghiệp hoặc loại tài sản
trong doanh nghiệp(bất động sản, máy móc thiết bị phương tiện vận tải) đều có thể áp
dụng các phương pháp khác nhau để xác định và kiểm tra nhằm đảm bảo tính chính
xác của việc đánh giá. Thậm chí còn có cả phương pháp đấu giá qua thị trường chứng
khoán. Còn ở Việt Nam công tác định giá doanh nghiệp do chưa có quy định thống
nhất nên còn bị phụ thuộc nhiều vào người mua(từ công tác chuẩn bị như: kiểm kê, đối
chiếu công nợ… đến việc thống nhất về giá bán doanh nghiệp) lại mang tính chất
khoán trắng, thiếu sự kiểm tra kiểm soát nên đã dấn đến hiện tượng giá trị doanh
nghiệp được định chưa sát với thị trường, chỉ bán trong nội bộ doanh nghiệp chứ
không bán ra bên ngoài…
Vướng mắc tiếp theo đó là chưa có quy định về tiếp cận tín dụngcho doanh nghiệp
sau khi cổ phần hóa: khi DNNN được cổ phần hóa và chuyển sang hoạt động dưới
hình thức công ty cổ phần thì không được coi là thành phần kinh tế nhà nước. Điều đó,
dẫn đến hậu quả bất đắc dĩ là các ngân hàng thương mại nhìn doanh nghiệp cổ phần
hóa với sự e dè, ngờ vực khi các doanh nghiệp này tiến hành vay vốn. Trong lĩnh vực
đấu thầu, xuất – nhập khẩu doanh nghiệp cổ phần hóa không còn những lợi thế như
trước.
Ngoài ra, khi còn là DNNN, doanh nghiệp sẽ được bổ sung vốn qua kênh đầu tư cơ
bản hoặc bổ sung vốn lưu động, xóa nợ hoặc được bảo lãnh nợ, ít bị nguy cơ tuyên bố
phá sản. Các DNNN còn được ưu tiên nhận những dự án đầu tư, ưu tiên cấp hạn ngạch
trong xuất – nhập khẩu, ưu tiên được liên doanh với các đối tác nước ngoài. Tất cả
những ưu thế đó sẽ bị mất đi sau cổ phần hóa, khiến nhiều DNNN cố tình trì hoãn cổ
phần hóa, mặc dù đang thua lỗ hoặc bên bờ vực phá sản. Vì vậy pháp luật cần quy
định cụ thể về việc tạo điều kiện cho doanh nghiệp cổ phần hóa có thể tiếp cận tín
dụng để họ chủ động, tích cực trong việc tiến hành cổ phần hóa.
24
Tiếp theo là việc thiếu quy định trong vấn đề lao động dôi dư và vấn đề bán cổ
phần: sau cổ phần hóa, các DNNN còn phải đối mặt với một vấn đề lớn là kế thừa một
lực lượng lao động dôi dư đáng kể từ doanh nghiệp cũ chuyển sang có trình độ thấp,
lao động đã quen với kiểu sản xuất thụ động, không làm theo năng suất. Vì vậy lượng

nghiệp phụ thuộc vào thiết bị công nghệ nhập khẩu. Chỉ có khoảng 8% số doanh
nghiệp đạt trình độ công nghệ tiên tiến. Mức độ đầu tư cho khoa học công nghệ rất
25

Trích đoạn CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH VẤN ĐỀ CỔ PHẦN HOÁ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status