pháp luật về đấu giá hàng hoá trong hoạt động thương mại - Pdf 30

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
BỘ MÔN LUẬT THƯƠNG MẠI

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
KHOÁ 2011 – 2014
Đề tài:

PHÁP LUẬT VỀ ĐẤU GIÁ HÀNG HOÁ TRONG HOẠT
ĐỘNG THƯƠNG MẠI

Cán bộ hướng dẫn:
Phạm Mai Phương
Bộ Môn Luật Thương mại
Khoa Luật- ĐHCT

Cần Thơ, 11/2014

Sinh viên thực hiện:
Trần Thị Ánh Hồng
MSSV: 5117306
Lớp: Luật Thương mại K37


MỤC LỤC

MỤC LỤC ......................................................................................................................1
LỜI MỞ ĐẦU ................................................................................................................1
1.

Lý do chọn đề tài ................................................................................................ 1

1.4 Các hình thức bán đấu giá hoá hoá trong hoạt động thương mại ................11
1.4.1. Trên thế giới ................................................................................................ 11
1.4.2 Ở Việt Nam ...................................................................................................12
1.5. Phân biệt giữa đấu đấu giá hàng hoá và đấu thầu hàng hoá, dịch vụ .........14
1.5.1 Hoạt đông mua hay bán ...............................................................................14
1.5.2 Đối tượng mua và bán .................................................................................15
1.5.3 Đặt cọc tham gia mua và bán ......................................................................15
1.5.4 Xét trên gốc độ giá cả ...................................................................................16
1.6 Sự cần thiết phải điều chỉnh bằng pháp luật đối với hoạt động đấu giá ......16
CHƯƠNG 2 NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ ĐẤU GIÁ HÀNG
HOÁ .............................................................................................................................. 18
2.1 Các nguyên tắc trong đấu giá hàng hoá........................................................... 18
2.1.1 Nguyên tắc công khai ...................................................................................18


2.1.2 Nguyên tắc trung thực .................................................................................18
2.1.3. Nguyên tắc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tham gia .......19
2.2. Chủ thể tham gia bán đấu giá ..........................................................................20
2.2.1. Người bán hàng hoá ...................................................................................20
2.2.2. Người tổ chức bán đấu giá .........................................................................22
2.2.3 Người điều hành đấu giá .............................................................................24
2.2.4. Người mua hàng hoá ..................................................................................25
2.4. Trình tự thủ tục bán đấu giá hàng hoá ........................................................... 26
2.4.2. Xác định giá khởi điểm ...............................................................................27
2.4.3. Chuẩn bị bán đấu giá hàng hoá .................................................................28
2.4.4. Tiến hành bán đấu giá ................................................................................31
2.4.5. Hoàn thành văn bản bán đấu giá hàng hoá .............................................32
CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG VÀ PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN PHÁP
LUẬT VỀ ĐẤU GIÁ HÀNG HOÁ ............................................................................35
3.1. Thực trạng pháp luật về đấu giá hàng hoá trong hoạt động thương mại ...35

cùng tham gia trả giá, đồng thời xác đinh mức giá có lợi nhất cho người bán hàng.
Hoạt động bán đấu giá cũng sẽ tạo ra đông lực thúc đẩy quan hệ trao đổi thương mại
phát triển.
Nhưng thực tế các quy định về hoạt đông đấu giá còn quá ít, chưa rõ ràng, cụ thể dẫn
đến hoạt động đấu giá hàng hoá ở nước ta còn khá non yếu. vì vậy việc tìm hiểu và
hoàn thiện pháp luật về đấu giá hàng hoá để nước ta có được thị trường đấu giá chuyên
nghiệp là rất cần thiết. Chính vì thế em quyết định chọn đề tài:” Pháp luật về đấu giá
hàng hoá trong hoạt động thương mại” để làm luận văn tốt nghiệp của mình.
2. Mục đích nghiên cứu ????
Thông qua việc tìm hiểu những quy định pháp luật hiện hành cũng như tìm
hiểu về thực tiễn hoạt động đấu giá hàng hoá, người viết nguyên cứu làm sáng tỏ
những vấn đề còn vướng mắc, đồng thời đưa ra những kiến nghị bổ sung nhằm góp
phần hoàn thiện hơn những quy định pháp luật về đấu giá hàng hoá.
3. Phạm vi nghiên cứu
Việc làm rõ phạm vi nguyên cứu của đề tài có ý nghĩa quan trọng trong việc nêu
rõ những nội dung của đề tài. Phạm vi nguyên cứu cuả đề tài là các quy định của pháp
luật về đấu giá hàng hoá trong hoạt động thương mại. Nội dung của đề tài chủ yếu tìm
1


hiểu các quy định pháp luật về nguyên tắc, chủ thể tham gia vào hoạt động đấu giá
hàng hoá và trình tự thủ tục tiến hành đấu giá hàng hoá trong hoạt động thương mại.
Tìm hiểu những bất cập của pháp luật về đấu giá hàng hoá trong thời gian qua, đồng
thời nêu một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về đấu giá hàng hoá.
4. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nguyên cứu chủ yếu để làm rõ vấn đề, người viết sử dụng các
phương pháp như: phân tích, so sánh, thống kê… Ngoài ra, còn sử dụng một số
phương pháp khác như quy nạp, diễn dịch…
5. Bố cục đề tài
-

kinh tế trong nước, đặc biệt là trong lĩnh vực thương mại. Trong chương này, nội dung
khái quát được đề cập là làm rõ khái niệm về đấu giá cũng như khái niệm về đấu giá
hàng hoá, đặc điểm, phân biệt giữa đấu giá hàng hoá và đấu thầu hàng hoá, dịch vụ.
Bên cạnh đó nguời viết cũng nêu lên hình thức đấu giá, vai trò, lịch sử hinh thành và
phát triển của hoạt động đấu giá hàng hoá. Một phần không thể thiếu nữa là sự cần
thiết cần phải điều chỉnh bằng pháp luật đối với hoạt động đấu giá.
1.1.

Khái niệm đấu giá hàng hoá

Trên thế giới đấu giá hàng hoá đã hình thành từ các nền văn minh cổ đại. Vào
khoảng năm 500 BC ( 500 năm trước công nguyên), theo quy chép của những người
Hy Lạc cổ đại, hình thức bán đấu giá xuất hiện đầu tiên tại Babylon với đối tượng
được mua bán là phụ nữ như một sự cưới hỏi. Bất kể người con gái nào bị gã bán
ngoài cuộc đấu giá đều bị coi là bất hợp pháp. Những người con gái xinh đẹp như hoa
được đưa tới những cuộc bán đấu giá cao cấp, còn những phụ nữ xấu phải có của hồi
môn và bị đưa tới các cuộc bán đấu giá để được chấp nhận. Giá của những người phụ
nữ xấu là số âm, tức là càng xấu thì càng mất nhiều của hồi môn. Tiếp đó, bán đấu giá
được phát triển qua các cuộc chiến tranh của Đế chế La Mã cổ đại, họ bán đấu giá tất
cả mọi thứ từ các chiến loại phẩm của cuộc chiến tranh cho đến tài sản của các con
nợ.1
Để hiểu rõ hơn về đấu giá hàng hoá trước tiên ta tìm hiểu khái quát về đấu giá vì
thuật ngữ đấu giá đã xuất hiện từ khá sớm và là cơ sỡ, nền tảng cho sự xuật hiện của
khái niệm đấu giá hàng hoá.
Thuật ngữ đấu giá xuất hiện từ rất lâu, theo từ điển tiếng Việt thì đấu giá được
giải thích là “ lối bán trước công chúng, ai trả giá cao thì mua được”.2 Như vậy, bản
chất của đấu giá đã được xã hội nhìn nhận là hoạt động cạnh tranh, trả giá để giành
quyền có được loại hàng nào đó.

1

Có thể nói đấu giá hàng hoá là phương thức để bên bán xác định người mua
hàng. Căn cứ vào chủ thể và mục đích của đấu giá mà hoạt động đấu giá có thể chia
thành: đấu giá tài sản trong dân sự và đấu giá hàng hoá trong thương mại. Đối tượng
của bán đấu giá hàng hoá là hàng hoá thương mại được phép lưu thông trên thị trường.
Đấu giá hàng hoá là một hình thức công khai, mà ở đó tất cả những người tham
gia có quyền cạnh tranh bình đẳng để mua hàng hoá. Đấu giá hàng hoá có tính chất
đặc thù thể hiện ở chỗ chỉ có một người bán hàng nhưng có nhiều người tham gia mua
hàng hoá. Những người tham gia mua hàng hoá đều có quyền hỏi đáp thắc mắc, có
quyền xem xét hàng hoá về chất lượng mặt hàng. Khi mà tất cả mọi người tham gia
mua hàng hoá, họ đều muốn mua hàng hoá đó thì không còn cách nào khác là họ phải
cạnh tranh nhau về giá cả, ai là người trả giá cao nhất, người đó sẽ mua được hàng

3

Điều 140 Luật thương mại 1997.

4


hoá. Thị trường hàng hoá đấu giá là của người bán, người mua phải cạnh tranh nhau để
mua được hàng hoá.4
Về phương diện kinh tế, một cuộc đấu giá là phương thức xác định giá trị của
món hàng chưa biết giá hoặc giá trị thường thay đổi. Trong một số trường hợp, có thể
tồn tại một mức giá tối thiểu hay còn gọi là giá sàn; nếu sự ra giá không đạt đến được
giá sàn, món hàng sẽ không được bán, nhưng người đưa món hàng ra đấu giá vẫn phải
trả chi phí cho nơi người phụ trách việc bán đấu giá.
Khoản 1 Điều 2 Nghi định 17/2010/ NĐ-CP quy định về đấu giá tài sản: Bán
đấu giá tài sản là hình thức bán tài sản công khai theo phương thức trả giá lên, có từ
hai người trở lên tham gia đấu giá theo nguyên tắc và trình tự. thủ tục được quy định
tại Nghị định này. Phương thức trả giá lên là phương thức trả giá từ thấp lên cao cho

1.2.1. Giai đoạn trước 1975
Trước năm 1975, dưới sự đô hộ của thực dân pháp, chính quyền thực dân pháp
đã ban hành Luật dân sự, thương sự và tố tụng để thi hành trong các Toà Nam án Bắc
Kỳ năm 1931; Hoàng Việt Trung Kỳ Hộ luật năm 1936. Và đến năm 1972, ở miền
nam ban hành Sắc lệnh số 029- TT/SLU ngày 20/12/1972 về Bộ luật Thương mại.
Tiếp đó, ngày 20/12/1972 ban hành Sắc lệnh số 030/TT/SLU về Bộ luật dân sự và
thương sự tố tụng để điều chỉnh về đấu giá hàng hoá.
1.2.2. Giai đoạn từ năm 1975 đến tháng 6 năm 2005
Pháp luật về đấu giá hàng hoá vào thời kỳ này chỉ tập trung chủ yếu vào việc xử
lý hàng hoá thi hành án và các hàng hoá xử lý theo quyết định của cơ quan hành chính
nhà nước có thẩm quyền mà không có một khuôn khổ pháp lý chung cho hoạt động
đấu giá cho nên chỉ có hướng dẫn xử lý hàng hoá đấu giá cho từng vụ việc cun thể. Vì
không có khuôn khổ pháp lý chung cho hoạt động đấu giá nên cũng không hình thành
các tổ chức bán đấu giá chuyên nghiệp. Ngoài ra, cơ quan thi hành án, việc tổ chức
đấu giá thường do các cơ quan hành chính thực hiện theo cơ chế hội đồng liên ngành.
Tổ chức đấu giá hàng hoá trong lĩnh vực dân sự, thương mại thông thường hầu như
không được pháp luật quan tâm tới.
1.2.3. Giai đoạn từ tháng 6 năm 2005 đến nay
Nắm bắt được những khó khăn từ thực tiễn của việc đấu giá hàng hoá qua Trung
tâm bán đấu giá tài sản, ngày 14/6/2005, Quốc hội đã ban hành BLDS 2005 sửa đổi,
bổ sung BLDS 1995 và luật Thương mại 2005 sửa đổi , bổ sung luật Thương mại
1997. Hai văn bản mới này điều chỉnh các hoạt động, hành vi dân sự, thương mại
trong điều kiện Việt Nam gia nhập WTO trong đó chú trọng pháp triển các hoạt động
dân sự, thương mại với nhiều hình thức đấu giá. Kể từ khi BLDS 2005 và luật Thương
mại 2005 được ban hành, pháp luật về đấu giá ở nước đã bắt đầu hình thành một cách
có hệ thống và từng bước được hoàn chỉnh. Các văn bản quy phạm pháp luật về đấu
giá đã được xây dựng thống nhất, cụ thể, tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động đấu giá phát
triển, đáp ứng yêu cầu của sự phát triển kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ
nghĩa.
1.3. Vai trò và đặc điểm của đấu giá hàng hoá

- Giảm thiểu thời gian hàng hoá lưu thông trên thị trường, bỏ qua các khâu trung
gian không cần thiết.
- Giảm bớt quá trình đi thương lượng, cho phép bán được hàng của mình theo
những điều kiện và tiêu chuẩn đặt ra.
- Biết được thời điểm chính xác món hàng được đem bán.
Lợi ích của người mua khi tham gia đấu giá:

6

Tailieu-Ebook, Tiểu luận: Nội dung pháp lý cơ bản về đấu giá hàng hoá theo pháp luật Việt Nam, 2013, Trần
Hồng Minh, [truy cập ngày 11-11-2014]
7

Công ty CPĐG, Giới thiệu dịch vụ bán đấu giá tài sản. truy cập ngày 05/09/2014].

7


- Trên cơ sơ cạnh tranh lành mạnh giữa những người mua hàng, người mua có thể
đưa ra giá mua đúng mức giá thị trường và phù hợp với khả năng và điều kiện của
mình.
- loại bỏ được những cuộc thương lượng kéo dài.
- Giảm bớt được thời gian mua hàng.
- Không cần phải lo lắng về các yếu tố phụ thuộc thời gian, vì thời gian mua hàng và
thời gian giao hàng đã được xác định.
- Thủ tục pháp lý và tính hợp pháp của tài sản được bảo đảm.
- Có thời gian và điều kiện để xem xét kỹ chất lượng, giá trị của món hàng định mua.
1.3.2 Đặc điểm
Hoạt động đấu giá hàng hoá ngoài những đặc điểm chung của mua bán hang
hoá thông thường đó là sự thoả thuận giữa các bên về việc chuyển giao quyền sở hữu

vì mục tiêu lợi nhuận. Người tổ chức bán đấu giá, người điều hành đấu giá là người
đứng ra tổ chức, điều hành cuộc đấu giá của cá nhận, tổ chức để thu phí phục vụ;
người bán hàng muốn hàng hoá của minh thông qua đấu giá sẽ được trả giá cao nhất;
người mua hàng thông qua việc trả giá hàng hoá đấu giá sẽ mua được hàng hoá theo
đúng kế hoạch của mình đã đưa ra là mua hàng được hàng hoá rẻ, chất lượng và có thể
sinh lời.
-

Về phương diện pháp lý

Đấu giá hàng hoá là một hành vi pháp lý, do có sự khác nhau về chủ thể, mục
đích mà đấu giá hàng hoá có thể là một hành vi dân sự thông thường hoặc trở thành
một hoạt động thương mại của thương nhân. Đối tượng của bán đấu giá là hàng hoá
thương mại được phép lưu thông. Quan hệ đấu giá được xác lập dưới những hình thức
pháp lý nhất định.
Trong quan hệ thương mại, đấu giá hàng hoá có những đặc điểm chung của
một hoạt đông thương mại. Tuy nhiên bên cạnh đó, đấu giá hàng hoá còn có những nét
đặc thù so với các hoạt động thương mại khác thể hiện ở các đặc điểm sau đây:8
Thứ nhất, đấu giá hàng hoá là phương thức bán hàng đặc biệt
Đấu giá hàng hoá là hoạt động bán hàng ( có thể) thông qua trung gian. Trong
quan hệ đấu giá, trừ trường hợp người bán đấu giá ( người có hàng hoá) tự mình tổ
chức bán đấu giá, các trường hợp khác, ngoài bên bán, bên mua còn có sự tham gia
của trung gian làm dịch vụ bán đấu giá. Bên bán là chủ sở hữu của hàng hoá hoặc
người được chủ sở hữu hàng hoá uỷ quyền hoặc là người có trách nhiệm, lợi ích liên
quan đến hàng hoá bán đấu giá . Bên mua là những tổ chức, cá nhân có nhu cầu mua
hàng hoá và đáp ứng các điều kiện theo quy định của pháp luật để tham gia trả giá.
Người làm dịch vụ bán đấu giá là những tổ chức được người bán hàng hoá uỷ quyền
tiến hành việc bán đấu giá.
Như vậy, quan hệ đấu giá có thể diễn ra giữa các đối tượng sau đây:
+ Người có hàng hoá ( Chủ sở hữu của hàng hoá) người mua;

quyền bán đấu giá hàng hoá. Còn văn bản bán đấu giá thực chất là hợp đồng mua bán
hàng hoá, được xác lập giữa các bên liên quan ( người bán hàng, người mua hàng và tổ
chức bán đấu giá). Van bản này là cơ sở pháp lý để xác lập quyền và nghĩa vụ của các
bên trong quan hệ mua bán hàng hoá đồng thời là căn cứ để xác lập quyền sở hữu của
người mua đối với hàng hoá bán đấu giá.
So với các phương thức bán hàng khác, bán đấu giá hàng hoá đem lại lợi ích cho
người bán và người mua hàng. Nó tạo cơ hội bình đẳng cho những người mua hàng
cùng tham gia trả giá, qua đó xác định một mức giá cạnh tranh có lợi nhất cho người
bán hàng. Nhờ việc tổ chức bán đấu giá mà hàng hoá đem bán sẽ đến tay những người
mua có tiềm năng và hiểu đúng giá trị của chúng nhất. Bán đấu giá còn tập trung được
cung vào cầu về các loại hàng hoá vào một thời gian và địa điểm nhất định, giúp cho
việc xác lập quan hệ mua bán diễn ra nhanh chống. Nếu hình thành được những thị
trường bán đấu giá chuyên nghiệp thì sẽ là động lực rất tốt để thúc đẩy trao đổi quan
hệ thương mại phát triển, nhất là với các quốc gia có những mặt hàng thế mạnh của
mình.

10


1.4 Các hình thức bán đấu giá hoá hoá trong hoạt động thương mại
1.4.1. Trên thế giới
Hiện nay, có rất nhiều hinh thức đấu giá khác nhau, góp phần tạo nên sự phong
phú, da dạng về hình thức đấu giá nói chung và đấu giá hàng hoá nói riêng. Các hình
thức đấu giá tiêu biểu như là:
Đấu giá kiểu Anh: đây là hình thức được nhiều người biết đến nhất. Người
tham gia trả giá công khai với nhau, giá đưa ra sau bao giờ cũng cao hơn giá đưa ra
trước đó. Cuộc bán đấu giá kết thúc khi không ai đưa ra giá cao hơn hoặc khi đạt tới
“giá trần”, khi đó người ra giá cao nhất sẽ mua được món hàng đó với giá mình đã trả.
Người bán có thể đặt ra giá sàn nếu người điều khiển không thể nâng giá cao hơn mức
giá sàn thì việc bán đấu giá có thể thất bại.

dụ, nếu một cuộc bán đấu giá quy đinh mức giá cao nhất là 10; năm giá cao nhất là 10.
10, 9, 8,8 thì 9 sẽ thắng cuộc vì là người ra giá duy nhất đạt giá cao nhất. Hình thức
này phổ biến trong các cuộc đấu giá trực tuyến.
Đấu giá mở: đây là hình thức sử dụng trong thị trường chứng khoán và trao đổi
hàng hoá. Viêc mua bán diễn ra trên sàn giao dịch và người giao dịch đưa ra giá bằng
lời ngay tức thì. Những giao dịch có thể đồng thời diễn ra ở nơi khác nhau trong sàn
mua bán. Hình thức này dần được thay thế bởi hình thức thương mại điện tử.
Đấu giá giá trần: hình thức đấu giá này có giá bán ra định trước, người tham gia
có thể kết thúc cuộc đấu giá bằng cách đơn giản chấp nhận mức giá này. Mức giá này
do người bán định ra. Người đấu giá có thể chọn ra giá hoặc sử dụng luôn mức giá
trần. Nếu không có người chọn giá trần thì cuộc bán đấu giá sẽ kết thúc với người trả
giá cao nhất.
Đấu giá tổ hợp: trong một số trường hợp khác, sự định giá của người mua là
một tập món hàng với số lượng và chủng loại khác nhau ( gọi là tổ hợp). Ví dụ, nếu
bánh xe đạp và khung xe được bán rời ra trong một cuộc bán đấu giá, thì đối với người
ra giá một tổ hợp bao gồm 1 bánh xe hoặc 1 khung xe chẳng có giá trị gì cả, nhưng hai
bánh xe và một khung xe thì lại đáng giá đến $200. Nếu bị buộc phải mua từng phần
trong những cuộc đấu giá khác nhau, người ra giá có thể gặp trường hợp oái oăm:
thắng được một số món được rao bán trước nhưng lại thua khi đấu giá những món
được rao bán sau; mặt khác, thua ngay trong cuộc đấu giá đầu tiên thì chắc chắn anh ta
sẽ không có được tổ hợp mong muốn. Tình thế này có thể được giải quyết bằng cách
bán tất cả các món đồng thời cho phép người mua đăng ký ra giá cho một tổ hợp các
món hàng. Sự ra giá theo tổ hợp như vậy sẽ đề nghị một giá để trả cho tất cả các món
hàng, nếu thắng thì có được tổ hợp, ngược lại sẽ không phải mua bất cứ món gì trong
tổ hợp.9
1.4.2 Ở Việt Nam
Phương thức bán đấu giá hàng hoá được hiểu là cách thức để tiến hành một
cuộc bán đấu giá. Đấu giá hàng hoá được hiểu là một quy trình phức tạp.Quy trình này
có thể tiến hành theo nhiều hình thức khác nhau, tuỳ vào đối tượng hàng hoá, mục đích
và điều kiện tổ chức cuộc đấu giá. Có thể chia thành các hành thức sau:10

tâm lý luôn sợ để tuột mất cơ hội mua hàng vào tay người khác nên vội vàng chấp
nhân mức giá mà chưa hẵn là hợp lý. Còn người bán thì cũng không được cảm thấy
thoả mãn về giá cả vì giá cả rất ít khi có người nào chấp nhận ngay mức giá khỏi điểm.
- Căn cứ vào hình thức biểu đạt trong cuộc đấu giá, có đấu giá dùng lời
và đấu giá không dùng lời nói.
Đấu giá dùng lời nói là hình thức trong phiên bán đấu giá, nhân viên điều hành đấu
giá dùng lời nói của mình để đưa ra giá khởi điểm. Những người mua sẽ đặt giá cũng
bằng lời nói hoặc bằng việc làm dấu hiệu để người điều hành cuộc đấu giá biết. Hình
thức đấu giá dùng lời nói có ưu điểm là sự trả giá của mọi người điều được công khai,
người trả giá cao nhất được xác định ngay mà không phải mất nhiều thời gian để so
sánh, vì thế cuộc đấu giá nhanh chông kết thúc.
Đấu giá không dùng lời nói là hình thức mà việc trả giá của người mua không được
thể hiện bằng lời nói hoặc viêc làm dấu hiệu mà được viết ra giấy hoặc thông qua một
hình thức nào đó sẽ thông báo cho nhân viên điều hành đấu giá biết. Nhân viên điều
hành sẽ thông báo mức giá cao nhất qua mỗi lân trả giá trên cở sở so sánh mức giá
chấp nhận mà họ được thông báo. Việc đấu giá kéo dài cho tới lần trả giá mà không có
ai trả giá cao hơn giá đã trả cao nhất của lần trả giá trước đó. Tuy thủ tục có phức tạp
và làm mất nhiều thời gian hình nhưng hình thức này hạn chế được tình trạng chạy đua
giữa những người mua nâng giá lên cao một cách quá đáng so với giá trị thực của hàng

13


hoá, vì mỗi người mua sẽ không biết được mức giá mà người mua khác trả trong mỗi
lần trả giá.
Luật thương mại 2005 quy định đấu giá hàng hoá dựa trên hai hình thức đấu
giá cơ bản giống với hình thức đấu giá kiểu Anh và đấu giá kiểu Hà Lan tương ứng là
đấu giá theo phương thức trả giá lên và phương thức đặt giá xuống.
1.5. Phân biệt giữa đấu đấu giá hàng hoá và đấu thầu hàng hoá, dịch vụ
Việc phận biệt giữa đấu giá hàng hoá và đấu thầu hàng hoá, dịch vụ là hết sức


đấu giá là bên có nhu cầu bán hàng hoá cho bên tham gia đấu giá. Mục đích của việc
bán là nhằm bán được hàng hoá với giá cao nhất có thể từ các bên tham gia đấu giá.
1.5.2 Đối tượng mua và bán
Xét về đối tượng của đấu giá hàng hoá và đấu thầu hàng hoá, dịch vụ thì ta thấy
trong đấu giá đối tương bên bán đưa ra là những hàng hoá được phép lưu thông. Thông
thường, hầu hết chỉ những hàng hoá có đặc thù về giá trị cũng như giá trị sử dụng mới
được cân nhắc để lựa chọn bán theo phương thức bán đấu giá. Những hàng hoá này
khó xác định giá trị thực của nó như các hàng hoá khác. Hàng hoá đấu giá phải rõ
ràng, cụ thể, người mua có thể trực tiếp kiểm tra, đánh giá chất lượng hàng hoá trước
khi tham gia đấu giá.11 Nhưng ngược lại, trong đấu thầu hàng hoá, dịch vụ không chỉ
là hàng hoá được phép lưu thông mà các bao gồm cả các loại dịch vụ được phép thực
hiện. Đối tượng chào bán của nhà thầu chỉ có trên hồ sơ và bên mua chỉ thấy được
hàng hoá và trực tiếp kiểm tra, đánh giá chất lượng của hàng hoá sau khi nhà thầu thực
hiện xong hợp đồng được ký kết. Sở dĩ đấu thầu không phải là đối tượng của hoạt
động đấu giá hàng hoá như hoạt động đấu thầu hàng hoá dịch vụ là vì quá trình sản
xuất và quá trình sử dụng diễn ra đồng thời. Người ta chỉ có thể cảm nhận, đánh giá từ
đó xác định giá trị của dịch vụ sau khi đã sử dụng dịch vụ. Điều này không đảm bảo để
các người mua xem trước sản phẩm đấu giá và tự do cạnh tranh. Thực tế, có thể có
một số hàng hoá khó xác định được giá trị nhưng không phải là không thể xác định
được. Chẳng hạn việc bán đấu giá bất động sản, nếu không xác định được chính xác
giá trị của bất động sản đem ra đấu giá, người ta có thể xác định một “vùng giá” để
định hướng cho người mua.
1.5.3 Đặt cọc tham gia mua và bán
Trong đấu giá hàng hoá, người tham dự chỉ cần đặt cọc một lần để xác định
trách nhiệm khi tham gia đấu giá, vì trong đấu giá hàng hoá người điều hành đấu giá
phải lập văn bản đấu giá hàng hoá ngay tại cuộc đấu giá, nếu đây là cuộc đấu giá thành
thì nó là văn bản ràng buộc đối với bên mua và được xem là hợp đồng giữa các bên.
Đấu giá không có giai đoạn thương thảo, hoàn thiện và ký kết hợp đồng . Còn đối với
đấu thầu hàng hoá dịch vụ để mua được hàng hoá, dịch vụ của người bán ( nhà thầu)

hình thành được những thị trường bán đấu giá chuyên nghiệp thì sẽ là động lực rất tốt
để thúc đẩy quan hệ trao đổi thương mại phát triển, nhất là với những quốc gia có mặt
hàng thế mạnh của mình.12 Trên thực tế hoạt đông đấu giá tồn tại nhiều sai phạm như:
các hành vi thông đồng, dìm giá nhằm trục lợi bắt chính, hiện tượng “băng nhóm, đầu
gấu, xã hội đen” khống chế đe doạ người tham gia đấu giá… thực trạng này đã ảnh
hưởng không nhỏ đến tính công khai, minh bạch trong hoạt động bán đấu giá, gây mất
lòng tin của người tham gia đấu giá làm thiệt hai không nhỏ đến người có tài sản bán
đấu giá gây bất lợi cho cả người tham đấu gia đấu giá và người có tài sản đem bán đấu
giá. Làm mất đi vai trò quan trọng của hoạt đông đấu giá là mang lại lợi ích cho cả
người mua và người bán.
Chính vì thế, pháp luật của nhiều quốc gia trong đó có Việt Nam đều xây dựng
các quy định nhằm đảm bảo cạnh tranh công bằng, lành mạnh giữa những người tham
gia đấu gia. Đồng thời cũng ban hành những quy định nhằm bảo vệ quyền lợi của
người bán đấu giá, Nếu không có sự điều chỉnh bằng pháp luật thì hoạt động đấu giá sẽ
diễn ra như một màn kịch được dựng lên bởi bàn tay đạo diễn của những kể thông
đồng dìm giá làm mất đi tính cạnh tranh lạnh mạnh. Nếu không có sự điều chỉnh bằng
12

Trường Đại học Luật Hà Nội – Giáo trình luật thương mại Việt Nam, tập II – Nxb Công an nhân dân, năm
2006.

16


pháp luật hoạt động đấu giá sẽ trở thành mảnh đất mầu mỡ cho các thế lực xấu, các
băng nhóm xã hội đên hoành hành. Và đương nhiên một khi đấu giá đã không còn trỏ
nên công bằng, lành mạnh, tự nguyện đối với cả bên mua lẫn bên bán thì hoạt động
đấu giá dần sẽ mất đi là điều không thể tránh khỏi. Bởi thế mới thấy, hoạt động đấu giá
muốn tồn tại đúng với bản chất tốt đẹp của nó, đúng với những gì mà các bên trong
phiên đấu giá mong muốn đạt được thì sự điều chỉnh của pháp luật đối với hoạt động

Đây là nguyên tắc đặc thù quan trọng, cơ bản nhất trong bán đấu giá hàng hoá.
Nguyên tắc trung thực có quan hệ chặt chẽ, gắn bó mật thiết với nguyên tắc công khai.
Nếu nguyên tắc trung thực không được đem vào để thực hiện trong đấu giá hàng hoá
thì sẽ xảy ra tình trạng thông đồng, thiên vị, quấy phá làm ảnh hưởng phương hại đến
các chủ thể có liên quan. Chẳng hạn có sự thông đồng giữa người bán hàng hoá với
người bán đấu giá hàng hoá để lừa dối người mua hàng hoá. Nhiều cuộc bán đấu giá
không trung thực dẫn đến sự dối trá, lừa lọc khách hàng làm cho họ không yên tâm.
13

Trường đại học luật Hà Nội, Giáo trình luật thương mại tập II, nhà xuất bản Công an nhân dân, năm 2006,
trang 190-192
14
Điều 188 Luật thương mại 2005.

18


Các thông báo về cuộc bán đấu giá và thông tin về hàng hoá, các giấy tờ có liên
quan đến hàng hoá bán đấu giá, những đặc điểm khuyết tật không nhìn thấy của hàng
hoá ( nhất là khi hàng hoá là những tài sản có giá trị về mặt lịch sử, nghệ thuật), các
giấy tờ xác định tư cách người tham gia đấu giá phải thật rõ ràng, chính xác và đầy đủ
để không tạo ra sự nhầm lẫn hay lừa dối với các bên mà sự nhầm lẫn hay lừa dối đó sẽ
làm cho cuộc đấu giá bị vô hiệu. Người bán cần phải trung thức khi xác định giá khởi
điểm của hàng hoá. Không nên đưa mức giá khởi điểm quá cao so với giá trị thực của
hàng hoá sẽ làm cho người mua bị thiệt. Người mua có quyền trả lại hàng hoá đó cho
tổ chức bán đấu giá và yêu cầu bồi thường thiệt hại nếu chất lượng của hàng hoá
không đúng như thông báo. Tổ chức bán đấu giá không phải chịu trách nhiệm về giá
trị, chất lượng hàng hoá bán đấu giá hàng hoá trừ trường hợp không thông tin đầy đủ
cho người mua. Yêu cầu về tính trung thức còn thể hiện ở việc pháp luật quy định
những người có than phận pháp lý hay hay hoàn cảnh đặc biệt mà sự tham dự của họ

quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong thời hạn chậm nhất là bảy ngày làm việc trước khi
tiến hành bán đấu giá hàng hoá đó theo quy định tại Điều 197 của Luật này”
Việc tổ chức đấu giá hàng hoá phải tuân thủ theo những nguyên tắc nhất định
trên nhằm đảm bảo sự cạnh tranh công bằng và tính trung thực của việc bán hàng hoá.
2.2. Chủ thể tham gia bán đấu giá
Tham gia vào quan hệ đấu giá hàng hoa có nhiều loại chủ thể khác nhau,
thường có các chủ thể tham gia là: người bán hàng hoá, người tổ chức, người điều
hành cuộc đấu giá, người mua hàng hoá. Luật thương mại 2005 đã xác định địa vị
pháp lý của từng loại chủ thể cũng như quyền và nghĩa vụ của họ.
2.2.1. Người bán hàng hoá
Theo quy định tại khoản 2 Điều 186 Luật thương mại 2005 “ Người bán hàng
hoá là chủ sở hữu của hàng hoá, người được chủ sở hữu hàng hoá uỷ quyền được bán
hoặc người có quyền bán hàng hoá của người khác theo quy định của pháp luật.”15
Như vậy, ở đây người bán không phải là người tổ chức đấu giá hàng hoá mà là người
mang hàng hoá của minh đi bán bằng cách ký hợp đồng dịch vụ với người tổ chức đấu
giá hàng hoá hoặc người bán hàng có thể là một trung gian, làm cầu nối giữa người có
hàng hoá ( chủ sở hữu của hàng hoá) và người tổ chức bán đầu giá. Trong trường hợp
là một bên trung gian, người bán hàng hoá có thể đống vai trò thay mặt người có hàng
hoá thiết lập các quan hệ với người tổ chức đấu giá vì quyền lợi của người có hàng
hoá, theo sự uỷ quyền của người có hàng hoá. Mặc khác, người bán hàng hoá cũng có
thể là những người không có quan hệ trực tiếp, không nhận được sự đồng thuận của
người có hàng hoá nhưng lại có quyền bán hàng hoá đó. Quyền này có thể được phát
sinh từ những quan hệ pháp lý, những thoả thuận trước đó giữa người bán hàng hoá và
chủ sở hữu hàng hoá hoặc có thể pháp sinh theo quy định của pháp luật.
Người bán hàng hoá với tư cách độc lập với người tổ chức đấu giá có quyền:
- Nhận tiền hàng đã bán đấu giá và khoản tiền chênh lệch thu được trong trường
hợp người trả giá rút lại giá đã trả hoặc nhận lại hàng hoá trong trường hợp đấu giá
không thành;

15

hưởng đến giá dịch vụ; thứ hai, trong trường hợp đấu giá không thành thì người bán
phải trả mức thù lao bằng 50% của mức thù lao xác định trong trường hợp thứ nhất
Ngoài ra, trong trường hợp giữa người bán hàng hoá và người tổ chức bán đấu
giá hàng hoá không thoả thuân về ch phí liên quan đến cuộc đấu giá thì người bán phải
chịu chi phí vận chuyển hàng hoá đến địa điểm đã thoả thuận và chi phí bảo quản hàng
hoá trong trường hợp không giao hàng hoá cho người tổ chức đấu giá bảo quản.18

16

Điều 191 Luật Thương mại 2005
Điều 192 Luật Thương mại 2005
18
Khoản 1 Điều 212 Luật Thương mại 2005
17

21


2.2.2. Người tổ chức bán đấu giá
Ngươi tổ chức đấu giá là thương nhân có đăng ký kinh doanh dịch vụ đấu giá
hoặc là người bán hàng của mình trong trường hợp người bán hàng tự tổ chức đấu
giá.19
Như vậy, người tổ chức bán đấu giá bao gồm người tự mình tổ chức bán đấu giá
hàng hoá và người tổ chức bán đấu giá là một thương nhân lấy hoạt động dịch vụ tổ
chức đấu giá hàng hoá làm nghành nghề của mình. Về bản chất người tổ chức đấu giá
hàng hoá là người tiến hành các công việc cụ thể cần thiết cho buổi đấu giá, người tổ
chức bán đấu giá chuyên nghiệp sẽ làm tôt công việc nay hơn bất kỳ ai và nếu người
người bán hàng không tự minh tổ chức bán hàng hoá ma thuê một một người tổ chức
bán đấu giá tiến hành đấu giá thì giữa hai người này phải hình thành một hợp đồng
dịch vụ tổ chức bán đấu giá trước khi các công việc liên quan đến bán đấu giá hàng


22


Trích đoạn Thực trạng pháp luật về đấu giá hàng hoá trong hoạt động thương mại Những khó khăn, vướng mắc của pháp luật về đấu giá hàng hoá trong Nguyên nhân khó khăn, vướn mắc của pháp luật đấu giá hàng hoá trong Phương hướng hoàn thiện Giải pháp hoàn thiện
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status