Mục lục
trang
Mở đầu………………………………………………………………………….1
Nội dung ……………………………………………………………………….1
I. Khái quát về đấu giá hàng hóa……………………………………………….1
1. Khái niệm về đấu giá hàng hóa……………………………………………...1
2. Đặc điểm của đấu giá hàng hóa……………………………………………...2
3. Vai trò của bán đấu giá hàng hóa…………………………………………....2
4. Khái quát pháp luật về đấu giá hàng hóa…………………………………….3
II. Những vướng mắc trong đấu giá hàng hóa………………………………….4
1. Khi quy định, pháp luật vẫn chưa thống nhất giữa đấu giá tài sản và đấu giá
hàng hóa………………………………………………………………………..4
2. Quy định về đấu giá viên chưa thực sự thuyết phục………………………...6
3. Quy định về giao kết hợp đồng trong bán đấu giá còn chưa hoàn thiện……7
4. Pháp luật chưa có các chế tài cụ thể hơn, đủ “sức” cưỡng chế thực hiện quyền
và nghĩa vụ của các bên trong đấu giá.………………………………………...7
5. Đội ngũ giám sát bán đấu giá còn mỏng, hoạt động kém hiệu quả………...10
III. Đề xuất giải pháp hoàn thiện……………………………………………...11
Kết luận……………………………………………………………………….15
1
MỞ ĐẦU
Đấu giá hàng hóa là một trong những cách thức linh hoạt để chuyển quyền
sở hữu tài sản từ chủ thể này sang chủ thể khác góp phần thúc đẩy hoạt
động kinh tế nói chung, hoạt động mua bán trao đổi hàng hoá nói riêng phát triển
một cách đa dạng. Bán đấu giá đã có mặt ở Việt Nam từ khá lâu nhưng bán đấu
giá hàng hóa với tính chất là hành vi thương mại của thương nhân thì mới được
ghi nhận trong pháp luật những năm gần đây. Nhận thấy lợi ích từ hoạt động
này, nếu hình thành được thị trường bán đấu giá chuyên nghiệp thì sẽ là động lực
Thứ hai, đối tượng của bán đấu giá có thể là những hàng hóa thương mại
thông thường, tuy nhiên, do tính chất đặc thù của việc bán hàng theo phương
thức này mà không phải là hàng hóa nào cũng được các chủ sở hữu quyết định
bán bằng phương pháp đấu giá. Giá bán thực tế có thể thấp hơn hoặc cao hơn giá
mà người bán đưa ra ban đầu.
Thứ ba, hình thức pháp lí của quan hệ bán đấu giá có thể được thiết lập
dưới một dạng đặc biệt là hợp đồng ủy quyền bán đấu giá được xác lập giữa
người bán hàng và người làm dịch vụ bán đấu giá.
3. Vai trò của bán đấu giá hàng hóa.
Đấu giá hàng hóa đảm bảo tính khách quan, trung thực trong mua bán
hàng hóa đặc biệt là trong vấn đề giá cả.
Bán đấu giá hàng hóa giúp cho người mua hàng hóa mua được những
hàng hóa mà họ cần. Khi mà họ có nhu cầu về sản phẩm mình cần, người bán
hàng hóa sẽ cung cấp cho họ thông qua cuộc bán đấu giá.
3
Bán đấu giá hàng hóa được thực hiện một cách công khai, đảm bảo sự
cạnh tranh công bằng, ngăn ngừa được những hành vi tiêu cực gây thiệt hại cho
người bán hàng, người mua hàng và các chủ thể khác có liên quan. Thông qua
hình thức bán đấu giá hàng hóa, quyền lợi của các bên được thỏa mãn một cách
tốt nhất.
Với tính khách quan công khai, thủ tục chặt chẽ, hợp lí, bán đấu giá hàng
hóa, hàng hóa đó sẽ được xử lý nhanh chóng với mức giá mà tài sản đó có thể
đạt được.
Khi tham gia mua hàng hóa đấu giá, người mua hàng sẽ là người quyết
định giá cả đặt mua, do vậy giá của hàng hóa sẽ là giá mà người mua cho là thích
hợp với mình nên hàng hóa đấu giá mang tính tự nguyện cao của người mua.
Bán đấu giá hàng hóa còn bảo đảm lợi ích cho các chủ thể khác có liên
quan.
1. Khi quy định, pháp luật vẫn chưa thống nhất giữa đấu giá tài sản và đấu
giá hàng hóa. Cụ thể:
Về luật áp dụng:
Liên quan đến đấu giá, ngoài luật chung là Bộ Luật dân sự năm 2005 đang
điều chỉnh thì hiện nay Luật Thương mại năm 2005 và Nghị định 17/2010/NĐCP cũng đang điều chỉnh vấn đề này. Sẽ áp dụng luật nào khi mà “tài sản bán
đấu giá” theo Khoản 4 Điều 2 Nghị định 17/2010/NĐ-CP là động sản, bất động
sản, giấy tờ có giá và các quyền tài sản được phép giao dịch, còn “hàng hóa”
trong “đấu giá hàng hóa” theo Luật Thương mại năm 2005 là tất cả các loại
5
động sản, kể cả động sản hình thành trong tương lai, bao gồm những vật gắn
liền với đất đai.
Về khoản tiền đặt cọc khi đăng ký tham gia đấu giá:
Với quy định về khoản tiền đặt cọc mà người tham gia đấu giá tài sản khi
đăng ký phải đặt trước cho ban tổ chức đấu giá tài sản với mức tối thiểu là 1% và
mức tối đa không quá 15% giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá (theo khoản1,
Điều 29, Quy định về đấu giá tài sản) rõ ràng có mâu thuẫn với khoản 2, Điều
199, Luật Thương mại năm 2005 với mức đặt cọc không quá 2% giá khởi điểm
hàng hóa được đấu giá. Khoản tiền đặt trước phải chăng là không nên quy định
mức tối đa là 15% của giá khởi điểm mà nên quy định rõ khoản tiền đặt trước là
15% giá khởi điểm để tránh tình trạng có quá nhiều người tham gia vào cuộc đấu
giá khi tổ chức bán đấu giá, người có tài sản thỏa thuận khoản tiền đặt trước
thấp. Mặt khác, quy định như vậy cũng bảo đảm đơn giản hóa thủ tục bán đấu
giá, không cần tiến hành thủ tục bán đấu giá, thủ tục “thỏa thuận” giữa tổ chức
bán đấu giá và người có tài sản đấu giá.
Về đấu giá không thành và xử lý hậu quả của việc đấu giá không thành
Theo Điều 202, Luật thương mại quy định, cuộc đấu giá được coi là không
thành trong trường hợp: (i) không có người tham gia đấu giá, trả giá; (ii) giá cao
nhất đã trả thấp hơn mức giá khởi điểm. Trong khi đó, trường hợp đấu giá không
giá viên thực sự chuyên nghiệp phải chăng cần đặt tiêu chuẩn của đấu giá viên
lên cao nữa, cần quy định cụ thể hơn về trách nhiệm của đấu giá viên. Mọi cuộc
bán đấu giá đều phải do đấu giá viên điều hành và đấu giá viên là người chịu
trách nhiệm hoàn toàn về cuộc bán đấu giá.
7
3. Quy định về giao kết hợp đồng trong bán đấu giá còn chưa hoàn thiện.
Pháp luật không cấm khách hàng từ chối mua sau khi thắng đấu giá, cũng
không cấm người tổ chức bán đấu giá tài sản cho người trả giá liền kề người bỏ
cuộc, không cấm khách hàng không được quyền thỏa thuận với nhau về giá… do
vậy đã tạo điều kiện cho khách hàng “lách luật”, “thông đồng giá”, đưa giá cao
hơn giá thực tế rồi rút lui, chấp nhận bỏ cọc để lũng đoạn kết quả đấu giá. Sau đó
chia nhau, làm lợi cho một nhóm người gây thiệt hại cho ngân sách Nhà nước.
Các quy định về hoạt động đấu giá hiện nay chưa dự liệu đến tình huống này nên
khi khách hàng liên kết với nhau để ép giá thì chủ sở hữu phải chấp nhận.
Pháp luật Việt Nam về đấu giá hàng hóa chưa làm rõ về giá trị pháp lý của
các quan hệ có tính chất tiến triển hướng tới việc giao kết hợp đồng đấu giá
nhưng thực tế thì hợp đồng không được giao kết do một bên tự động chấm dứt và
làm ảnh hưởng tới bên kia thì quan hệ này có tính chất ràng buộc hay không đối
với các bên chưa được làm rõ.
Pháp luật về bán đấu giá còn chưa đủ quy định để tạo nên một cơ sở pháp
lý vững chắc bảo vệ quyền của người bán, người tổ chức đấu giá và người mua.
Cần phải có những quy định mang tính chuyên biệt để điều chỉnh những tình
huống không dự liệu trước được.
4. Pháp luật chưa có các chế tài cụ thể hơn, đủ “sức” cưỡng chế thực hiện
quyền và nghĩa vụ của các bên trong đấu giá.
Chế tài xử lý vi phạm về bán đấu giá đặt ra với các đối tượng là người
tham gia đấu giá, người bán đấu giá và người điều hành cuộc bán đấu giá. Thực
cuộc bán đấu giá lại chưa được chú trọng đến mức cần thiết.
9
Việc từ chối mua hàng sau phiên đấu giá mà không có sự đồng ý của
người bán, người có tài sản cũng là một ví dụ.
Pháp luật quy định xử phạt vi phạm hành chính về đấu giá từ 300.000 đến
20.000.000 đồng đối với những tài sản có giá trị hàng chục thậm trí hàng trăm
hay hàng nghìn tỷ đồng thì vẫn chưa phải là thỏa đáng và chưa đủ tính răn đe?
Việc không thực hiện quyền và nghĩa vụ theo đúng các quy định về đấu
giá đã gây ảnh hưởng đến mục đích của phiên đấu giá như: (i)bán tài sản với
mức giá cao nhất có thể nhằm thu lợi nhuận; (ii) khuyếch trương thương hiệu và
uy tín của tất cả các bên khi tổ chức đấu giá công khai; và thậm chí (iii) nêu cao
tinh thần “vì người nghèo” của biết bao con người có tấm lòng cao thượng...
Vậy, trước những bất cập và “bất cẩn” nói trên của pháp luật, chúng ta lấy
cơ chế gì để điều chỉnh?
Với những vi phạm trong đấu giá, ngoài việc xử phạt vi phạm hành chính
theo quy định hiện nay, tại sao chúng ta không sử dụng đến việc yêu cầu thực
hiện hợp đồng đã được ký kết giữa các bên theo Luật Thương mại năm 2005.
Việc không thực hiện quyền và nghĩa vụ theo hợp đồng đã ký kết mà không có
sự đồng ý của bên còn lại, gây thiệt hại thì phải thực hiện bồi thường thiệt hại.
Việc bồi thường thiệt hại, căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại được
quy định rất rõ tại Điều 302, Điều 303, Luật Thương mại năm 2005.
Trường hợp nếu lỗi do bên tổ chức đấu giá gây ra làm chủ sở hữu tài sản
không thực hiện được việc bán tài sàn thì tổ chức đấu giá phải bồi thường thiệt
hại. Tuy nhiên, trường hợp này là rất khó xác định, bởi lẽ, tổ chức đấu giá chỉ
như một đơn vị đại diện thay mặt chủ sở hữu tài sản thực hiện việc bán đấu giá
tài sản hàng hóa theo quy định của pháp luật.
10
Tài sản phải bán đấu giá theo quy định của pháp luật bao gồm tài sản thi
hành án theo pháp luật về thi hành án, tài sản là tang vật, phương tiện vi phạm
hành chính theo pháp luật về xử lý vi phạm hành chính, tài sản nhà nước có
quyết định bán đấu giá của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, tài sản là quyền sử
dụng đất khi nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất được cơ quan có thẩm
quyền quyết định bán đấu giá theo pháp luật về đất đai; tài sản bảo đảm được xử
lý bằng bán đấu giá và các tài sản khác phải được bán đấu giá theo quy định của
pháp luật. Thống nhất nguyên tắc, trình tự, thủ tục bán đấu giá với các loại tài
sản bắt buộc phải bán đấu giá theo quy định của pháp luật có thể khắc phục được
tình trạng manh mún, thiếu chuyên nghiệp trong hoạt động bán đấu giá tài sản
hiện nay.
Sửa đổi, bổ sung các quy định về trình tự, thủ tục bán đấu giá tài sản theo
hướng bảo đảm sự công khai, minh bạch, khách quan, hạn chế hiện tượng thông
đồng, dìm giá, tránh thất thoát tài sản của nhà nước, bảo vệ quyền, lợi ích hợp
pháp của tổ chức, cá nhân có tài sản bán đấu giá (các quy định về khoản tiền đặt
trước, rút lại giá đã trả, từ chối mua, ký hợp đồng bán đấu giá tài sản, bảo vệ
quyền lợi ích, hợp pháp của người mua được tài sản bán đấu giá ngay tình... cần
được sửa đổi, bổ sung cho phù hợp).
Thứ hai, tiếp tục thực hiện chủ trương xã hội hóa hoạt động bán đấu
giá tài sản gắn với lộ trình cụ thể. Đặc biệt, cần tạo sự bình đẳng giữa các tổ
chức bán đấu giá tài sản để thúc đẩy sự phát triển của dịch vụ bán đấu giá tài sản,
quy định doanh nghiệp bán đấu giá tài sản và Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài
12
sản có quyền bình đẳng trong việc bán đấu giá các tài sản phải được bán đấu giá,
tùy thuộc vào quyết định của cơ quan, người có thẩm quyền lựa chọn tổ chức đủ
năng lực để bán đấu giá tài sản (trừ trường hợp tang vật, phương tiện vi phạm
hành chính phải được chuyển giao cho Trung tâm dịch vụ bán đấu giá để bán đấu
luật hoặc ngành kinh tế, đặc biệt phải tốt nghiệp chương trình đào tạo nghề đấu
giá.
Trình tự, thủ tục cấp thẻ đấu giá viên, quản lý đấu giá viên khi hành nghề...
cũng cần được quy định chặt chẽ hơn so với hiện nay. Đây là những yêu cầu hết
sức cần thiết để chuyên nghiệp hóa hoạt động bán đấu giá tài sản trong điều kiện
coi đấu giá là một nghề trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN.
Cần quy định cụ thể cách tính các loại thời hạn trong đấu giá hàng hóa để
khắc phục các vướng mắc có liên quan trong thực tế.
Quản lí nhà nước về bán đấu giá cần được phân cấp quản lí rõ ràng, cụ thể
hơn để chức năng, nhiệm vụ giữa cơ quan Nhà nước không có sự chồng chéo,
mâu thuẫn lẫn nhau.
Bên cạnh việc quy định đầy đủ các vấn đề thiết yếu trên thực tế thì còn
cần phải đảm bảo tính hợp lí, khoa học trong các quy định về trình tự, thủ tục
bán đấu giá nhằm tránh gây phiền hà cho tổ chức, cá nhân có hàng hóa bán đấu
giá, cho cuộc bán đấu giá được diễn ra nhanh chóng, khách quan. Thủ tục bán
đấu giá hàng hóa cần có những sửa đổi, bổ sung về thủ tục kí kết hợp đồng ủy
quyền bán đấu giá hàng hóa để việc kí kết thuận lợi đảm bảo lợi ích của người có
quyền.
Hơn nữa, cần quy định thủ tục chuyển quyền sở hữu, quyền sử dụng đơn
giản hơn và nhanh chóng hơn để tạo điều kiện thuận lợi cho việc chuyển quyền
đồng thời nâng cao hiệu lực của văn bản bán đấu giá hàng hóa. Quyền sở hữu,
quyền sử dụng hàng hóa bán đấu giá của người mua hàng hóa cần được đảm bảo
14
theo hướng đã mua hàng hóa qua tổ chức đấu giá với trình tự thủ tục chặt chẽ,
công khai thì người mua trở thành chủ sở hữu, chủ sử dụng hàng hóa trong mọi
trường hợp. Nếu quyền và lợi ích của người có hàng hóa đấu giá bị xâm phạm
thì cá nhân, tổ chức có hành vi vi phạm pháp luật phải chịu trách nhiệm, kể cả
hiệu quả của hoạt động đấu giá hàng hóa. Nhiều vụ việc thể hiện sự chấp hành
chưa tốt pháp luật về đấu giá của các chủ thể tham gia đấu giá hàng hóa. Một số
cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, điển hình như cơ quan có thẩm quyền đăng kí
quyền sở hữu, quyền sử dụng hàng hóa còn tắc trách hoặc chẫm trễ trong việc
cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng hàng hóa đã bán đấu giá đối
với tài sản mà pháp luật quy định phải đăng kí quyền sở hữu, quyền sử dụng.
Tình trạng chảy máu rừng, chảy máu động vật hoang dã… qua con đường bán
đấu giá vẫn là vấn đề gây nhiều tranh cãi… Hiểu rõ những vấn đề còn hạn chế
liên quan đến bán đấu giá tài sản sẽ phần nào giúp cho việc thực hiện bán đấu giá
trở nên công bằng, lành mạnh hơn góp phần vào quá trình phát triển kinh tế của
đất nước.
Trên đây là bài tiểu luận của em về đề tài: “Phân tích những vướng mắc
trong quy định của pháp luật về đấu giá hàng hoá và đề xuất giải pháp hoàn
thiện”. Do kiến thức còn hạn chế nên việc phát hiện ra những vướng mắc trong
quá trình áp dụng pháp luật về đấu giá hàng hóa cũng như việc đề ra những biện
pháp nhằm khắc phục những vướng mắc đó còn chưa đầy đủ.
Em mong nhận được sự góp ý từ phía thầy cô! Em xin trân thành cảm ơn!
16
Danh mục tài liệu tham khảo
1. Giáo trình Luật thương mại tập II, Trường đại học Luật Hà Nội, NXB.CAND
Hà Nội – 2009.
2. Luật thương mại năm 2005.
3. Bộ luật dân sự năm 2005.
4. Nghị định của Chính phủ số 17/2010/NĐ- CP ngày 04/03/2010 về bán đấu giá
tài sản.
6. Khóa luận tốt nghiệp: Tìm hiểu pháp luật về đấu giá hàng hóa ở Việt Nam
Sinh viên thực hiện: Phạm Dương Minh Thu, KT27D