Phân tích nội dung cơ bản trong quy định của pháp luật quốc tế về tội phạm rửa tiền - Pdf 34

BÀI LÀM
1. Phân tích nội dung cơ bản trong quy định của pháp luật quốc tế về tội

phạm rửa tiền?
1.1. Khái quát chung về tội rửa tiền.
• Định nghĩa.
Liên quan đến vấn đề này có rất nhiều định nghĩa khác nhau.
Theo định nghĩa thông thường thì rửa tiền được coi là “hành vi biến đổi
các khoản thu nhập nhằm che đậy nguồn gốc phi pháp nguyên thủy của chúng”.
Còn theo FATF (Đặc nhiệm chống rửa tiền quốc tế) thì rửa tiền được hiểu là
“một quá trình chuyển đổi doanh thu từ các hoạt động bất hợp pháp thành các
nguồn vốn hợp pháp”. Giáo sư Byung Ki Lee, Viện nghiên cứu hình sự Hàn
Quốc lại cho rằng rửa tiền cũng có thể là “hành vi của bọn tội phạm biến đổi
các đồng tiền bất hợp pháp thành đồng tiền hợp pháp.”
Tuy nhiên cách hiểu rõ nhất và đầy đủ nhất đó là theo Công ước Vienna
năm 1988 về chống buôn bán chất gây nghiện và Công ước Plermo về chống tội
phạm có tổ chức xuyên quốc gia năm 2000 của Liên hợp quốc. Công ước Viên
1988 lần đầu tiên đã đưa ra khái niệm về rửa tiền và có quy định bắt buộc các
quốc gia thành viên quy định là hành vi tội phạm trong pháp luật nước mình.
Khái niệm này được nêu dưới dạng liệt kê các hành vi cấu thành. Theo đó, rửa
tiền là “Hành vi chuyển đổi hoặc chuyển giao tài sản khi biết rằng tài sản đó
thu được từ buôn bán ma tuý hoặc từ việc tham gia vào hoạt động phạm tội với
mục đích che dấu nguồn gốc tài sản hoặc giúp người thực hiện các hành vi trên
trốn tránh trách nhiệm pháp lý các hành vi của mình; Hành vi che dấu hoặc
nguỵ trang hình thái tự nhiên, nguồn gốc, địa điểm, việc định đoạt, chuyển
nhượng quyền sở hữu tài sản hoặc các quyền liên quan đến tài sản mà biết rõ là
tài sản do phạm tội buôn bán ma tuý mà có; Hành vi mua, tàng trữ hoặc sử
dụng tài sản”.(Điều 3)


Các văn bản pháp lý quốc tế về phòng, chống rửa tiền.

kinh tế đen của Anh chiếm xấp xỉ 7% GDP, ở Mỹ xấp xỉ 9%, Đức 10% trong khi
Ý, Hy Lạp, Tây Ban Nha gần 25% GDP. Ở Nga và các quốc gia Trung, Đông
Âu dự đoán doanh số của nền kinh tế đen lên đến 50% GDP1.
Như vậy, hành vi rửa tiền được xem là một tội phạm “không biên giới” có thể xảy ra từ khi bắt đầu đến kết thúc liên quan đến nhiều quốc gia, muốn
chống lại hành vi rửa tiền hiệu quả, phải có sự hợp tác quốc tế chặt chẽ giữa các
quốc gia.

Nội dung cơ bản trong quy định của pháp luật về tội rửa tiền
• Hành vi khách quan.

1.2.

1 Vũ Duy Cương, “Rửa tiền - Một tội phạm quốc tế điển hình”, Tạp chí khoa học pháp lí, Trường đại

học luật TP. Hồ Chí Minh, tháng 5/2002

2
BÀI TẬP NHÓM THÁNG

LỚP N03.NHÓM 8


Rửa tiền là hành vi rất nguy hiểm. Nó không chỉ gây thiệt hại nghiêm
trọng cho các nền kinh tế mà còn có những ảnh hưởng đến an ninh từng quốc
gia, tác động nghiêm trọng đến sự trong sạch và hoàn chỉnh của hệ thống tài
chính toàn thế giới. Theo Điều 6 Công ước Plarmo những hành vi khách quan
sau sẽ được coi là phạm tội rửa tiền:
Những hành vi phạm tội do cố ý:
i)


buôn bán bất hợp pháp ma túy. Vì vậy FATF (Lực lượng đặc nhiệm tài chính
quốc tế) và các tổ chức quốc tế khác đã mở rộng định nghĩa của Công ước Viên
3
BÀI TẬP NHÓM THÁNG

LỚP N03.NHÓM 8


về tội phạm nguồn để bổ sung cả những hành vi phạm tội nghiêm trọng khác.
Nếu như Công ước Viên chỉ quy định 1 tội phạm nguồn của tội rửa tiền thì đến
Công ước Plermo 2000 đã quy định mở rộng hơn phạm vi các tội phạm được coi
là tội phạm nguồn. Công ước này quy định nghĩa vụ đối với các nước thành viên
phải quy định “với phạm vi rộng nhất” các tội phạm nguồn của tội rửa tiền.
Phạm vi các tội phạm nguồn sẽ do Tòa án mỗi nước quyết định, chỉ tuân theo
yêu cầu của Công ước Viên là việc buôn bán bất hợp pháp ma túy phải được coi
là tội phạm nguồn. Và phạm vi các tội trong từng loại tội đã được chỉ định.
Công ước Plarmo 2000 yêu cầu tất cả các nước thành viên phải áp dụng “giới
hạn rộng nhất các tội phạm nguồn” của tội rửa tiền của Công ước này2.. Theo
đó, có tất cả 20 loại tội được coi là tội phạm nguồn của tội rửa tiền (phụ lục).


Yếu tố lỗi
Theo Công ước Viên, một người phạm tội rửa tiền khi người ấy tội
“biết” rằng tiền đó có nguồn gốc từ tội phạm nguồn. Tuy nhiên các nước có thể
mở rộng phạm vi trách nhiệm pháp lý đối với hành vi “rửa tiền do vô ý”, khi kẻ
phạm tội đáng ra phải biết rằng tài sản đó là do phạm tội mà có. Thực tế rất khó
chứng minh yếu tố lỗi vô ý của người thực hiện hành vi, vì vậy Công ước Viên,
Công ước Plarmo, Bốn mươi khuyến nghị và nhiều công cụ pháp lý khác quy
định rằng luật pháp nên cho phép suy luận lỗi từ những hoàn cảnh thực tế khách
quan. Nếu các hoàn cảnh thực tế khách quan khớp với hoàn cảnh đó, thì yêu cầu

“bẩn” luôn dễ dàng được lưu thông tại đây do tại các sòng bạc luôn sẵn sàng lấy
tiền mặt. Sau đó chúng có thể được chuyển thành séc thanh toán – như là số tiền
được bạc và có thể rút séc tại ngân hàng của sòng bạc. Như vậy, có thể thấy,
hoạt động rửa tiền có thể trải qua 3 bước:
- Thâu nhận các khoản tiền từ các hành vi tội phạm;
- Hợp pháp hóa tiền bằng nhiều cách thức khác nhau;
- Sử dụng công khai các khoản tiền đã được làm sạch.
Thậm chí sau bước thứ ba, từ việc sử dụng các khoản tiền đã được làm
sạch đó, các tổ chức tội phạm quốc tế lại tiếp tục cung cấp tài chính cho thế giới
tội phạm như buôn bán ma túy, khủng bố, hối lộ… hoặc lũng đoạn cả nền kinh
tế, chính trị của quốc gia với bàn tay và bộ mặt sạch sẽ. Vì thế toàn bộ quá trình
rửa tiền (dù có lúc bí mật, có lúc công khai) luôn khép kín trong một vòng tròn
lợi nhuận phi pháp.


Các biện pháp đối kháng tội phạm rửa tiền.
FATF đã đặt ra các biện pháp đối kháng, những biện pháp này phải được
áp dụng từ từ, tương xứng và linh hoạt:

i)

các yêu cầu nghiêm ngặt về nhận dạng khách hàng và tăng cường các cố vấn,
bao gồm các cố vấn tài chính đối với các nước và vùng lãnh thổ cụ thể, cho các
tổ chức tài chính để xác định chủ sở hữu hưởng lợi trước khi thiết lập các mối

ii)

quan hệ với các cá nhân và các công ty từ các nước này;
tăng cường các cơ chế báo cáo thích hợp hoặc tăng cường việc báo cáo một cách
hệ thống các giao dịch tài chính mà cơ sở cho việc làm này là các giao dịch tài

-

Hội đồng bảo an đưa ra các biện pháp đảm bảo an ninh thế giới, chống khủng

-

bố.
Lực lượng đặc nhiệm tài chính về chống rửa tiền (FATF) đưa ra các biện pháp
đối với các nước thành viên không tự nguyện thực hiện Bốn chín khuyến nghị
về chống rửa tiền và chống tài trợ cho khủng bố; các biện pháp về tài chính; cơ

1.3.

chế xác định các nước và vùng, lãnh thổ bất hợp tác (NCCTs).
Sự tương thích của pháp luật Việt Nam và các điều ước quốc tế về tội rửa
tiền.
Ngày 29/6/2009, Quốc hội đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều
của Bộ luật Hình sự 1999 (BLHS), chính thức quy định tội danh Rửa tiền tại
Điều 251 BLHS trên cơ sở sửa đổi tội danh Hợp pháp hóa tiền, tài sản do phạm
tội mà có. Việc sửa đổi, bổ sung này nhằm bao quát các hành vi rửa tiền được đề
cập trong các Công ước quốc tế, tạo cơ sở pháp lý để đấu tranh có hiệu quả đối
với tội phạm rửa tiền ở nước ta, đồng thời góp phần thuận lợi cho hợp tác quốc
tế trong đấu tranh phòng, chống rửa tiền.
6
BÀI TẬP NHÓM THÁNG

LỚP N03.NHÓM 8


Về cơ bản BLHS Việt Nam năm 1999 đã có sự kế thừa các quy định của

Về hành vi phạm tội. Bên cạnh những quy định của BLHS về tội rửa tiền, hiện
nay luật phòng chống rửa tiền đã được thông qua và sẽ có hiệu lực từ ngày
01/01/2013. Tuy nhiên, trong luật phòng chống rửa tiền cũng chưa đưa ra được
các quy định chi tiết về hành vi rửa tiền mà chỉ nêu ra khái niệm rửa tiền là
“hành vi của tổ chức, cá nhân nhằm hợp pháp hóa nguồn gốc của tài sản do
7
BÀI TẬP NHÓM THÁNG

LỚP N03.NHÓM 8


phạm tội mà có…”(khoản 1 Điều 4). Còn về các hành vi cụ thể thì luật này lại
quy định là “được quy định trong BLHS.” Ngoài ra, trong luật có nêu thêm hai
hành vi: một là, trợ giúp cho tổ chức, cá nhân có liên quan đến tội phạm nhằm
trốn tránh trách nhiệm pháp lý bằng việc hợp pháp hóa nguồn gốc tài sản do
phạm tội mà có; hai là, chiếm hữu tài sản nếu tại thời điểm nhận tài sản đã biết
rõ tài sản đó do phạm tội mà có, nhằm hợp pháp hóa nguồn gốc tài sản.
Tóm lại, về tội phạm rửa tiền thì pháp luật việt nam hiện nay tuy là đã có
BLHS năm 1999 và luật phòng chống rửa tiền sắp có hiệu lực nhưng quy định
chưa được cụ thể và chi tiết về dấu hiệu hành vi của loại tội phạm này, mà mới
tập trung vào quy định các vấn đề về các biện pháp phòng ngừa, các tình tiết
tăng nặng trách nhiệm hình sự, không có sự chi tiết so với các Điều ước quốc tế
trên đây.
2. Phân tích tính chất quốc tế của các tội phạm về ma túy?

Khái quát chung về tội phạm ma túy.
• Khái niệm.

2.1.


Điều 3 Công ước của Liên hợp quốc về chống buôn bán bất hợp pháp các chất
ma tuý và các chất hướng thần năm 1988, các quốc gia thành viên sẽ xác định
hình phạt tương ứng như tù giam hoặc các hình thức tước quyền tự do khác, phạt
tiền và tịch thu tài sản. Bên cạnh đó có thể quy định bổ sung cho việc kết án
hoặc hình phạt đối với người phạm các tội quy định tại khoản 1 của Điều này,
các biện pháp như cai nghiện, giáo dục, chăm sóc sau điều trị phục hồi tái hoà
nhập vào xã hội.

2.2.

Tính quốc tế của tội phạm ma túy.
Theo công ước chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia cũng như các
văn bản pháp lý quốc tế về tội phạm ma túy thì tội phạm ma túy là tội phạm có
10
BÀI TẬP NHÓM THÁNG

LỚP N03.NHÓM 8


tổ chức xuyên quốc gia. Tính quốc tế của tội phạm này được biểu hiện qua một
số khía cạnh sau:


Hậu quả của tội phạm ma túy đối với cộng đồng quốc tế.
Ma túy đang là hiểm họa toàn cầu, là nguyên nhân gây ra các tệ nạn xã hội
làm mất an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Đây là hiểm họa không chỉ riêng cho
từng người, từng gia đình, từng dân tộc, mà là hiểm họa chung cho nhân loại.
Toàn thế giới đang tập trung ngăn ngừa, đấu tranh chống tội phạm ma túy. Số
lượng người nghiện và số vụ buôn lậu ma túy không những không giảm mà có
xu hướng ngày càng tăng.


như pecmaganat thu hơn 640 tấn; Afganistan thu 375 lít acetic anhydric, 675 kg
amonium. ATS là loại ma tuý bị bắt giữ tăng nhanh nhất (trên 25 tấn), trong đó
Methamphetamine chiếm 68%, Amphetamine 17%, thuốc lắc 13%, 2% chưa
được phân loại. Toàn cầu hiện có khoảng 200 triệu người nghiện ma tuý, trong
đó có 160,9 triệu người nghiện sử dụng cần sa; 26,2 triệu người sử dụng
Amphetamine; 7,9 triệu người sử dụng Ecstacy; 13,7 triệu người sử dụng
cocain; 15,9 triệu người sử dụng thuốc phiện và 10,6 triệu người sử dụng heroin.
Hoạt động tội phạm ma túy trên Thế giới và khu vực đã và đang diễn ra hết
sức phức tạp và có xu hướng gia tăng. Ngày 16/7/2012, Cơ quan phòng chống
ma túy và tội phạm của Liên hợp quốc (UNODC) đã phát động chiến dịch
truyền thông mới nhằm nâng cao nhận thức của cộng đồng về mối đe dọa của
các nhóm tội phạm có tổ chức nói chung và các tội phạm về ma túy nói riêng.
Chiến dịch truyền thông của UNODC nêu bật những khoản lợi nhuận liên quan
các hành động tội phạm có tổ chức như buôn bán ma túy và vũ khí, tội phạm
Internet và di cư trái phép. Ước tính số tiền mà các tổ chức quốc tế thu được
thông qua các hoạt động nói trên mỗi năm lên tới 870 tỉ USD tương đương 1,5%
Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) toàn cầu, hay cao gấp 6 lần tổng chi phí dành
cho viện trợ phát triển chính thức trên thế giới trong đó buôn bán ma túy là hoạt
động sinh lợi nhất (320 tỷ USD/năm) 3.
Chính vì lợi nhuận khổng lồ của các hành vi buôn bán trái phép ma túy
đem lại dẫn đến xu hướng gia tăng loại tội phạm này. Không chỉ diễn biến phức
tạp trong biên giới một quốc gia mà tội phạm ma túy đã và đang phát triển đến
các khu vực và các nước trên thế giới. Sự phát triển đó biểu hiện ở sự gia tăng
lượng ma túy cung ứng cho quốc tế, đa dạng hóa các tuyến vận chuyển ma túy,
sự gia tăng về thủ đoạn cũng như về mạng lưới.


Hợp tác Quốc tế trong đấu tranh phòng chống tội phạm ma túy.
Với tính chất phức tạp và nguy hiểm, cộng đồng quốc tế luôn coi tội phạm

tiêu dùng sau cùng. Các công ước áp dụng kĩ thuật lập pháp khác nhau trong
việc quy định về tội phạm. công ước 1971 yêu cầu các quôc gia thành viên tội
phạm hóa tất cả các hoạt động liên quan đến ma túy không được coi là hợp
pháp. Quy định này không đi vào các hành vi cụ thể hay tội danh cụ thể mà
“giao” cho các quốc gia thành viên xác định các hành vi liên quan đến ma túy bị
coi là tội phạm ở quốc gia đó dựa trên những quy định chung của công ước về
hoạt động hợp pháp liên quan đến ma túy. Kĩ thuật lập pháp này tránh được
những quy định cụ thể có thể gây khó khăn cho các quốc gia trong việc nội luật
hóa, bởi vì pháp luật hình sự của các nước có sự khác nhau, nhất là giữa hệ
thông luật châu Âu lục địa và hệ thống luật Anh- Mĩ.

13
BÀI TẬP NHÓM THÁNG

LỚP N03.NHÓM 8


Khác với Công ước 1971, các công ước 1961 và 1988 liệt kê cụ thể các
hoạt động bất hợp pháp liên quan đến ma túy mà các quốc gia thành viên phải
quy định là tội phạm. biện pháp này có ưu điểm là đi vào các loại hoạt động cụ
thể, do đó bảo đảm được sự áp dụng thống nhất ở các quốc gia thành viên, tạo ra
cơ sở thuận lợi để các quốc gia hợp tác điều tra, xét xử, dẫn độ tội phạm. Các
công ước về kiểm soát ma túy của Liên hợp quốc yêu cầu các quốc gia áp dụng
các hình phạt nghiêm khắc đối với các tội phạm về ma túy như hình phạt tù hoặc
các hình phạt tước tự do khác nhưng không xác định khung hình (hình phạt thấp
nhất hoặt hình phạt cao nhất) phải áp dụng. Vấn đề này được quy định theo pháp
luật quốc gia.
Ngoài ra cũng cần chú ý là mỗi quốc gia xác định thẩm quyền điều tra,
truy tố và xét xử tội phạm khác nhau. Để phòng ngừa người phạm tội trốn tránh
sự truy cứu, xét xử do lợi dụng những sự khác biệt trong việc xác định thẩm

thực hiện các chương trình hợp tác về phòng, chống ma tuý với các cơ quan hữu
quan của các nước, các tổ chức quốc tế, tổ chức, cá nhân nước ngoài. Nhà nước
Việt Nam thể hiện rõ quan điểm: Ưu tiên cho nước ký kết Điều ước quốc tế song
phương với Việt Nam sự tương trợ tư pháp trong điều tra, truy tố, xét xử các tội
phạm về ma tuý. Đồng thời, Nhà nước Việt Nam cũng có quyền từ chối tương
trợ tư pháp đối với các trường hợp: Yêu cầu tương trợ tư pháp không phù hợp
với các Điều ước quốc tế về phòng, chống ma tuý mà Việt Nam ký hoặc tham
gia và pháp luật Việt Nam; việc thực hiện yêu cầu tương trợ tư pháp gây tổn hại
đến chủ quyền, an ninh quốc gia hoặc lợi ích quan trọng khác của Việt Nam.
Để đáp ứng yêu cầu thực tế của công tác phòng, chống ma tuý, ngày
21/01/2003 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 05/2003/NĐ-CP về hợp tác
quốc tế trong lĩnh vực phòng, chống ma tuý. Thực tế những năm qua cho thấy,
hợp tác quốc tế đã góp phần nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống tội phạm
ma tuý. Số vụ án ma tuý khám phá tăng, số đối tượng bắt giữ tăng, mở rộng
được nhiều vụ án xuyên quốc gia liên quan đến quốc tế; phối hợp quản lý buôn
bán tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma tuý; nâng cao hiệu quả
trao đổi thông tin…tuy nhiên, tình hình phát triển của loại tội phạm này còn rất
phức tạp, vì vậy cần sự hợp tác toàn diện hơn nữa cũng như sự mạnh tay của
quốc gia để kiểm soát được các hành vi bất hợp pháp về ma túy./.

PHỤ LỤC
Các tội phạm được coi là tội phạm nguồn của tội rửa tiền bao gồm:

15
BÀI TẬP NHÓM THÁNG

LỚP N03.NHÓM 8


-

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Paul Allan Schott, Hướng dẫn tham khảo về chống rửa tiền và chống tài

trợ cho khủng bố, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội, 2007.
2. Cơ chế kiểm soát ma túy trong các công ước của Liên hợp quốc về kiểm
soát ma túy, Th.s Nguyễn Thị Phương Hoa, Tạp chí Luật học số 12 năm
2006
3. Vũ Duy Cương, Giảng viên khoa Luật Quốc tế, Đại học Luật TP. Hồ Chí
Minh, Rửa tiền một tội phạm quốc tế điển hình, Tạp chí Khoa học pháp
luật 5/2002.
4. http://covanphaply.com/detail/372/rua_tien_vi_sao_kho_khoi_to
16
BÀI TẬP NHÓM THÁNG

LỚP N03.NHÓM 8


5. http://www.giri.ac.vn/index.php?

lang=0&cateid=1&mod=2&newid=830&sub=0
6. http://www.vietnamplus.vn/Home/LHQ-keu-goi-nang-cao-nhan-thuc-vetoi-pham-quoc-te/20127/149862.vnplus
7. http://www.baomoi.com/Home/HinhSu/www.cpv.org.vn/Lien-hop-quoccanh-bao-ve-hiem-hoa-buon-ban-ma-tuy-xuyen-quoc-gia/6515221.epi
8. http://tks.edu.vn/portal/detail/4755_77__Hop-tac-quoc-te-phong-chongma-tuy-va-tinh-hinh-phong,-chong-toi-pham-ma-tuy-o-mot-so-quocgia-.html

MỤC LỤC
khảo…………………………………………………...15
Phụ lục……………………………………………………………………….....16

17
BÀI TẬP NHÓM THÁNG


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status