I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT
NG HU SN
Quy định CủA pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam
về phương thức nhờ thu trong thanh toán quốc tế
LUN VN THC S LUT HC
H NI - 2015
I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT
NG HU SN
Quy định CủA pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam
về phương thức nhờ thu trong thanh toán quốc tế
Chuyờn ngnh: Lut Quc t
Mó s: 60 38 01 08
LUN VN THC S LUT HC
Cỏn b hng dn khoa hc: PGS. TS. NễNG QUC BèNH
H NI - 2015
LỜI CAM ĐOAN
1.2.
Khái niệm và đặc điểm của thanh toán quốc tế............................. 8
1.2.1.
Khái niệm ......................................................................................... 8
1.2.2.
Đặc điểm của thanh toán quốc tế..................................................... 10
1.3.
Các phương tiện và phương thức thanh toán quốc tế cơ bản ..... 10
1.3.1
Các phương tiện thanh toán quốc tế cơ bản ..................................... 10
1.3.2.
Các phương thức thanh toán quốc tế cơ bản trong thương mại
quốc tế ............................................................................................ 19
1.4.
Khái niệm về phương thức nhờ thu ............................................. 28
Khái quát về URC 522 .................................................................... 36
2.1.2.
Phân loại phương thức nhờ thu ....................................................... 38
2.1.3.
Những vấn đề cần lưu ý khi áp dụng phương thức thanh toán
nhờ thu ............................................................................................ 52
2.2.
Chủ thể tham gia trong phương thức thanh toán nhờ thu ......... 54
2.3.
Mối quan hệ giữa các chủ thể ....................................................... 56
Chương 3: THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ QUY ĐỊNH VỀ PHƯƠNG
THỨC NHỜ THU TRONG THANH TOÁN QUỐC TẾ CỦA
PHÁP LUẬT VIỆT NAM VÀ ĐỀ XUẤT NHẰM HOÀN THIỆN .....62
3.1.
Thực trạng áp dụng pháp luật về phương thức thanh toán
nhờ thu tại Việt Nam .................................................................... 62
3.1.1.
Các quy định pháp lý về thanh toán nhờ thu.................................... 62
Nhóm giải pháp chung .................................................................... 95
3.3.2.
Nhóm giải pháp đối với Ngân hàng thương mại ............................ 101
3.3.3.
Về phía các doanh nghiệp xuất nhập khẩu .................................... 103
KẾT LUẬN ............................................................................................... 108
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................. 110
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
D/A:
Bộ chứng từ / chấp nhận thanh toán
D/P:
Bộ chứng từ / thanh toán
ICC:
Phòng thương mại quốc tế
L/C:
XNK:
Xuất nhập khẩu
DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu bảng
Tên bảng
Trang
Bảng 3.1: Doanh số thanh toán của các nghiệp vụ Thanh toán quốc
tế chủ yếu của BIDV
68
Bảng 3.2: Doanh số hoạt động thanh toán nhờ thu tại Agribank
68
Bảng 2.3: Thanh toán nhờ thu tại NH TMCP Đông Nam Á
69
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ngày nay, không một quốc gia nào trên thế giới có thể tồn tại và phát
triển mà thiếu các hoạt động giao lưu kinh tế quốc tế. Xuất khẩu trở thành
chiếc cầu nối quan trọng để một nước tham gia vào đời sống kinh tế sôi động,
đa dạng và phong phú của toàn cầu nhằm tìm kiếm các nguồn nguyên liệu dồi
dào với chi phí thấp, mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm, thúc đẩy sự phát
triển sản xuất trong nước, mang lại thu nhập ngày càng cao cho các nhà sản
xuất, các doanh nghiệp xuất nhập khẩu, góp phần tăng nhanh tốc độ phát triển
kinh tế và nâng cao vị thế của quốc gia trên trường quốc tế.
Với tư cách là một nhân tố quan trọng, không thể thiếu được cho sự
phát triển của thương mại quốc tế, công tác thanh toán quốc tế đã không
ngừng được đổi mới và hoàn thiện với những phương thức thanh toán an toàn
và hiệu quả cho các bên tham gia.
Trong kinh doanh ngày nay, thanh toán quốc tế đang ngày trở nên phổ
biến. Những phương thức thanh toán truyền thống như tiền mặt đã dần
được thay thế bằng những phương thức thanh toán hiện đại hơn, nhanh
chóng hơn.
Phương thức thanh toán quốc tế là toàn bộ quá trình, cách thức
nhận trả tiền hàng trong giao dịch mua bán ngoại thương giữa người nhập
khẩu và người xuất khẩu. Trong quan hệ ngoại thương có rất nhiều phương
thức thanh toán khác nhau như: phương thức thanh toán chuyển tiền,
phương thức ghi sổ, phương thức nhờ thu, phương thức tín dụng chứng
từ… Mỗi phương thức thanh toán đều có ưu và nhược điểm, thể hiện
thành mâu thuẫn quyền lợi giữa nhà nhập khẩu và xuất khẩu. Vì vậy,
việc vận dụng phương thức thanh toán thích hợp, phải được hai bên bàn
bạc thống nhất ghi vào hợp đồng mua bán ngoại thương.
1
Việt Nam là một quốc gia đang trong quá trình hội nhập kinh tế quốc
tế, cùng với việc mở cửa nền kinh tế, hoạt động xuất nhập khẩu đã thực sự
bùng nổ kéo theo sự phát triển mạnh mẽ của công tác thanh toán quốc tế tại
các ngân hàng thương mại. Do vậy, hoạt động mua bán ngoại thương cũng
như công tác thanh toán quốc tế là một nhu cầu tất yếu của các doanh nghiệp
xuất nhập khẩu và Ngân hàng thương mại. Tuy nhiên trong thanh toán ngoại
thương, Việt Nam vẫn gặp phải những khó khăn nhất định. Hiện nay, Việt
Nam cũng đã có những văn bản pháp lý điều chỉnh hoạt động thanh toán
ngoại thương như Bộ luật Dân sự năm 2005, Luật Thương mại năm 2005,
Pháp lệnh Ngoại hối năm 2013 và đặc biệt Luật các Tổ chức Tín dụng năm
2010 thay thế cho Luật các Tổ chức Tín dụng năm 2005… Tuy nhiên các văn
bản pháp luật của ta vẫn còn chung chung, chưa quy định cụ thể dẫn đến việc
áp dụng URC 522 về phương thức nhờ thu trong thanh toán ngoại thương gặp
nhiều khó khăn. Chính vì vậy cần phải có đề tài nghiên cứu một cách tổng
hợp, toàn diện và có hệ thống về vấn đề này nhằm hoàn thiện nó, đó là một
nhu cầu cấp thiết trong giai đoạn hiện nay.
Một vấn đề mà các doanh nghiệp xuất nhập khẩu cũng như các ngân
hàng thương mại Việt Nam hiện nay đều quan tâm là làm thế nào để vận dụng
URC 522 một cách hiệu quả có liên quan đến phương thức nhờ thu. Do vậy,
việc nghiên cứu đề tài “Quy định của pháp luật quốc tế và pháp luật Việt
Nam về phương thức nhờ thu trong thanh toán quốc tế” sẽ cung cấp hệ
thống luận cứ pháp lý thúc đẩy thực tiễn hoạt động giao lưu kinh tế giữa Việt
Nam với các quốc gia, đảm bảo quyền và lợi ích của các bên tham gia quan hệ
xuất nhập khẩu là điều mà thực tiễn luôn đòi hỏi.
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
Mặc dù pháp luật về phương thức nhờ thu trong thanh toán quốc tế đã
được bàn đến nhiều trong các đề tài khoa học, báo chí, luận án, luận văn và
hoàn thiện hơn nữa pháp luật Việt Nam về phương thức thanh toán nhờ thu.
4
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu những quy định pháp luật quốc tế về phương thức nhờ thu
trong thanh toán quốc tế.
Nghiên cứu các quy trình áp dụng pháp luật về phương thức nhờ thu tại
các doanh nghiệp xuất nhập khẩu, ngân hàng thương mại Việt Nam.
Phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu vào các quy định pháp luật quốc tế và
pháp luật Việt Nam về phương thức nhờ thu trong thanh toán quốc tế để từ đó
đưa ra những đề xuất nhằm hoàn thiện pháp luật về phương thức nhờ thu.
5. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp luận: Luận văn sử dụng phương pháp duy vật biện chứng
và phương pháp duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin làm phương pháp
nghiên cứu là chủ yếu.
Bên cạnh đó, luận văn còn sử dụng các phương pháp khoa học khác
như: Phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, thống kê…và minh họa bằng
các ví dụ cụ thể
6. Kết cấu của đề tài
Đề tài được kết cấu gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về nhờ thu trong thanh toán quốc tế
Chương 2: Nội dung cơ bản các quy định quốc tế về nhờ thu trong
thanh toán quốc tế hiện nay
Chương 3: Thực trạng và một số quy định về phương thức nhờ thu
trong thanh toán quốc tế của pháp luật Việt Nam và đề
xuất nhằm hoàn thiện.
6
Trong xu thế kinh tế thế giới ngày càng được quốc tế hóa, các quốc gia
đang gia sức phát triển kinh tế thị trường, mở cửa, hợp tác và hội nhập; trong
bối cảnh đó, thanh toán quốc tế nổi lên như là chiếc cầu nối giữa kinh tế trong
nước với phần kinh tế thế giới bên ngoài, có tác dụng bôi trơn và thúc đẩy
hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ, đầu tư nước ngoài, thu hút
kiều hối và các quan hệ tài chính, tín dụng quốc tế khác. Hoạt động thanh toán
quốc tế ngày càng được khẳng định trong hoạt động kinh tế quốc dân nói
chung và hoạt động kinh tế đối ngoại nói riêng. Đặc biệt, trong bối cảnh hiện
nay, mỗi quốc gia đều đặt hoạt động kinh tế đối ngoại lên hàng đầu, coi hoạt
động kinh tế đối ngoại là con đường tất yếu trong chiến lược phát triển kinh tế
của mỗi nước.
Thanh toán quốc tế là một khâu quan trọng trong quá trình mua bán
hàng hóa, dịch vụ giữa các tổ chức, cá nhân thuộc các quốc gia khác nhau.
Nếu không có hoạt động thanh toán quốc tế thì hoạt động kinh tế đối ngoại
khó tồn tại và phát triển được. Nếu hoạt động thanh toán quốc tế được nhanh
chóng, an toàn và chính xác sẽ giải quyết được mối quan hệ lưu thông hàng
hóa – tiền tệ giữa người mua và người bán một cách trôi chảy và hiệu quả. Về
giác độ kinh doanh, người mua thanh toán, người bán giao hàng thể hiện chất
lượng của một chu kỳ kinh doanh, phản ánh hiệu quả kinh tế và tài chính
trong hoạt động của các doanh nghiệp. Thanh toán quốc tế đã góp phần chủ
yếu để giải quyết mối quan hệ hàng hóa tiền tệ quốc tế tạo nên sự liên tục của
quá trình tái sản xuất và đẩy nhanh quá trình giao thương hàng hóa quốc tế.
Để thực hiện việc thanh toán trong quan hệ ngoại thương, người ta
thường áp dụng các phương tiện thanh toán và các phương thức thanh toán
khác nhau. Hiện nay, có nhiều phương thức thanh toán được sử dụng trong
quan hệ ngoại thương giữa các nước với nhau. Mỗi phương thức thanh toán
tế, các đối tác ở các nước khác nhau, do vậy có sự khác nhau về ngôn ngữ,
cách xa nhau về địa lý nên việc thanh toán không thể tiến hành trực tiếp với
8
nhau mà phải thông qua các tổ chức trung gian, đó chính là các ngân hàng
thương mại cùng với mạng lưới hoạt động khắp nơi trên thế giới.
Thanh toán quốc tế đã ra đời từ lâu, nhưng nó mới chỉ phát triển mạnh
mẽ vào cuối thế kỷ 20 khi mà khối lượng mua bán, đầu tư quốc tế và chuyển
tiền quốc tế ngày càng gia tăng, tù đó làm cho khối lượng các giao dịch thanh
toán qua ngân hàng cũng tăng theo. Việc thanh toán qua ngân hàng làm gia
tăng việc sử dụng đồng tiền của các nước để chi trả lẫn nhau. Thanh toán
quốc tế đã trở thành một bộ phận không thể thiếu trong hoạt động của nền
kinh tế của các quốc gia hiện nay.
Hiện nay có nhiều khái niệm về thanh toán quốc tế, như:
Thanh toán quốc tế là tổng hợp các yếu tố cấu thành cơ chế
thanh toán giữa các quốc gia như quy định về chủ thể tham gia
thanh toán, lựa chọn tiền tệ, các công cụ và các phương thức đòi và
hoặc chi trả tiền tệ và Tổng hợp các yếu tố cấu thành cơ chế đó tạo
thành thanh toán quốc tế giữa các quốc gia [27, tr.11].
Thanh toán quốc tế là việc thực hiện các nghĩa vụ chi trả và
quyền hưởng lợi về tiền tệ phát sinh trên cơ sở các hoạt động kinh
tế và phi kinh tế giữa các tổ chức, cá nhân nước này với tổ chức cá
nhân nước khác, hay giữa một quốc gia với tổ chức quốc tế thông
qua quan hệ giữa các ngân hàng của các nước liên quan [23, tr.100].
Mặc dù có nhiều quan điểm khác nhau, nhưng xét về bản chất thì
thanh toán quốc tế là việc thực hiện các nghĩa vụ chi trả và quyền hưởng lợi
về tiền tệ phát sinh trên cơ sở các hoạt động kinh tế và phi kinh tế giữa các
tổ chức, cá nhân nước này với tổ chức, cá nhân nước khác, hay giữa một
Sự xuất hiện và phát triển ngày càng mạnh mẽ của các quan hệ kinh
tế đối ngoại làm xuất hiện các phương tiện lưu thông quốc tế như séc, hối
phiếu, kỳ phiếu… v..v..v các phương tiện này ngày càng đóng vai trò quan
10
trọng trong thanh toán quốc tế để thực hiện các quan hệ thương mại giữa
các nước với nhau.
Trong khuôn khổ của tổ chức Hội quốc liên, ngày 7/6/1930 tại Geneva,
26 nước đã ký kết và thông qua ba công ước:
- Công ước về Luật áp dụng thống nhất về hối phiếu và lệnh phiếu;
- Công ước về việc giải quyết một số vấn đề xung đột pháp luật về hối
phiếu và lệnh phiếu;
- Công ước về thuế tem đối với hối phiếu và lệnh phiếu.
Tiếp theo đó năm 1931, Hội nghị quốc tế về séc tại Geneva đã được 30
nước thông qua Luật thống nhất về séc (Uniform Law on Cheque – ULC 1931)
1.3.1.1. Séc
Theo Công ước Geneva năm 1931 về Luật thống nhất về séc thì séc là
tờ mệnh lệnh trả tiền vô điều kiện do khách hàng của ngân hàng ký phát cho
ngân hàng đó yêu cầu trích từ tài khoản của mình số tiền nhất định để trả cho
người cầm tờ mệnh lệnh hoặc cho người được chỉ định trên tờ mệnh lệnh đó.
Séc ra đời từ chức năng làm phương tiện thanh toán của tiền tệ và
được sử dụng rộng rãi trong những nước có hệ thống ngân hàng phát triển
cao. Hiện nay, séc là phương tiện chi trả được dùng hầu như phổ biến trong
thanh toán nội địa của tất cả các nước. Séc cũng được sử dụng trong thanh
toán quốc tế về hàng hóa, cung ứng dịch vụ, du lịch và về các chi trả phi
mậu dịch khác.
Séc có giá trị thanh toán trực tiếp như tiền tệ, do vậy séc phải có những
quy định về nội dung và hình thức theo luật định. Năm 1931, nhiều nước như
chỉ ghi bên cạnh tên người ký phát là địa điểm phát hành.
Những nội dung bắt buộc ghi trên séc lưu thông ở Việt Nam quy định
trong Luật các công cụ chuyển nhượng 2005 cũng tương tự như Luật thống
nhất về séc thuộc Công ước Geneva 1931. Tuy nhiên, chỉ hơi khác một chút
về nội dung suy đoán đối với séc có ghi thiếu một vài nội dung bắt buộc:
12
- Nếu trên séc không ghi địa điểm thanh toán, thì séc đó phải được
xuất trình để được thanh toán tại địa chỉ của người bị ký phát.
- Nếu trên séc không ghi địa điểm thanh toán và không rõ địa chỉ của
người bị ký phát, thì séc đó sẽ được xuất trình tại địa điểm kinh doanh chính
của người bị ký phát.
- Các tổ chức cung ứng séc có thể đưa thêm các yếu tố khác mà không
làm phát sinh thêm các nghĩa vụ của các bên như số hiệu tài khoản mà người
ký séc được sử dụng để ký séc và các yếu tố khác.
Về những người liên quan đến séc gồm có:
- Người ký phát hành séc là chủ tài khoản tiền gửi dùng séc ở ngân
hàng, thường là người có đủ tiền trong tài khoản.
- Ngân hàng thanh toán là ngân hàng trả tiền trên tờ séc.
- Người bị ký phát là người nhận lệnh của người ký phát mà nghĩa vụ
của họ là phải trả số tiền ghi trên tờ séc.
- Người thụ hưởng là người nhận số tiền ghi trên tờ séc, phải xuất trình
séc một cách hợp thức để thanh toán.
Về hiệu lực của séc, Công ước Geneva năm 1931 quy định hai thời
hạn: thời hạn hiệu lực và thời hạn thanh toán. Thông thường, thời hạn hiệu lực
của séc được tính từ ngày phát hành séc và được ghi rõ trên tờ séc. Thời hạn
này tùy thuộc vào sự quy định của pháp luật mỗi nước, căn cứ vào phạm vi
không gian mà séc được lưu hành. Theo Công ước Geneva thì thời hạn hiệu
và kỳ phiếu quốc tế.
a. Khái niệm
Hối phiếu là tờ lệnh đòi tiền vô điều kiện do một người ký phát cho
một người khác, yêu cầu người này khi nhìn thấy lệnh hoặc đến ngày cụ thể
nhất định hoặc đến ngày có thể xác định trong tương lai phải trả số tiền nhất
định cho người nào đó; hoặc theo yêu cầu của người này trả cho người khác
hoặc trả cho người cầm lệnh đó.
14
Qua định nghĩa trên đây thì hối phiếu có những đặc điểm sau:
- Tính trừu tượng: Trên hối phiếu không cần ghi nguyên nhân phát sinh
việc lập hối phiếu, chỉ cần ghi rõ số tiền phải trả. Hiệu lực pháp lý của hối
phiếu cũng không bị ràng buộc bởi những nguyên nhân nào phát sinh ra hối
phiếu. Do vậy, nghĩa vụ trả tiền của hối phiếu là trừu tượng.
- Tính bắt buộc trả tiền: Người có nghĩa vụ trả tiền hối phiếu không thể
viện dẫn ra những lý do riêng của mình để từ chối trả tiền, trừ khi hối phiếu
lập ra trái với luật chi phối nó.
- Tính lưu thông: Hối phiếu có thể được chuyển nhượng một hay nhiều
lần trong thời hạn hiệu lực của nó. Chính là nhờ vào tính trừu tượng và tính
bắt buộc trả tiền mà hối phiếu có tính lưu thông.
b. Việc lập hối phiếu
Về mặt hình thức: Hối phiếu phải lập bằng văn bản; hình mẫu hối phiếu
được in sẵn; ngôn ngữ hối phiếu thường là tiếng Anh; hối phiếu có thể được
lập thành một hay nhiều bản, mỗi bản đều đánh số thứ tự và có giá trị ngang
nhau, hối phiếu không có sự phân biệt giữa bản phụ và bản chính.
Về mặt nội dung: hối phiếu bao gồm những nội dung bắt buộc sau đây:
- Phải ghi rõ tiêu đề “Hối phiếu” (Bill of Exchange hoặc Draft);
- Địa điểm, ngày, tháng năm ký phát hối phiếu;
tờ hối phiếu và sẽ ký tên lên tờ hối phiếu.
- Kháng nghị về việc từ chối trả tiền hối phiếu xảy ra trong trường
hợp khi đến hạn thanh toán mà người trả tiền không thanh toán (từ chối
thanh toán) thì người hưởng lợi hối phiếu có quyền kháng nghị trả tiền trước
pháp luật. Người hưởng lợi phải chứng thực sự từ chối đó bằng giấy kháng
nghị trong thời gian không quá 2 ngày làm việc, kể từ ngày hết hạn thanh
toán của hối phiếu và phải gửi cho người có trách nhiệm trả tiền và những
người liên quan (người bảo lãnh, người ký hậu chuyển nhượng…). Nhìn
16
chung, vấn đề quan trọng nhất đối với người xuất trình hối phiếu bị từ chối
thanh toán là phải tiến hành đúng và kịp thời các thủ tục tố tụng cần thiết để
kháng nghị người trả tiền.
1.3.1.3. Kỳ phiếu
Kỳ phiếu do người thụ trái (người nhận nợ) viết ra để hứa cam kết trả
tiền cho người hưởng lợi. Nói cách khác, kỳ phiếu là giấy nhận nợ hứa cam
kết trả tiền vô điều kiện do người lập phiếu phát ra trả số tiền nhất định cho
người hưởng lợi hoặc theo lệnh của người này trả cho người khác theo quy
định trong kỳ phiếu đó.
Khác với hối phiếu, kỳ phiếu là một công cụ hứa trả tiền, không phải là
một công cụ đòi tiền. Người lập phiếu là người có nghĩa vụ trả tiền cho người
thụ hưởng ghi trên kỳ phiếu, còn người ký phát hối phiếu là người thụ hưởng
hối phiếu. Hối phiếu do một người ký phát tạo lập ra, còn ngược lại kỳ phiếu
có thể do một người tạo lập hoặc do nhiều người tạo lập một kỳ phiếu. Do là
một công cụ hứa trả tiền, cho nên kỳ hạn kỳ phiếu phải được xác định rõ ràng
cụ thể trên kỳ phiếu.
Kỳ phiếu có những đặc điểm sau:
- Kỳ hạn của kỳ phiếu được quy định rõ trên kỳ phiếu;