Phân tích những hạn chế trong quy định củapháp luật về môi giới thương mại và đề xuất giải pháp hoàn thiện - Pdf 33

Trường Đại học Luật Hà Nội

BÀI TẬP HỌC KÌ
Môn: Luật Thương Mại
(Module 2)

Đề bài:
TM2.HK-11. Phân tích

những hạn chế trong quy định của
pháp luật về môi giới thương mại và đề xuất giải pháp
hoàn thiện

Hà Nội, 05 – 2012


MỞ ĐẦU
Môi giới thương maị là một trong những hoạt động trung gian thương
mại quan trong của nên kinh tế. nó như một kênh dẫn kết nối các thương
nhân, những người hoạt động thương mại lai với nhau, giúp họ đễ dàng tìm
kiếm các đối tác để giao kết hợp động thương mại và dịch vụ. Luật Thương
Mại 2005 đã có những quy định quan trọng điều chỉnh hoạt động môi giới
thương mại, giúp cho hoạt động nay di vào trât tự và ổn định. Tuy nhiên môi
giới thương mại vẫn là hoạt động còn khá mới ở Việt Nam, do đó khi xây
dưng luật không tránh khởi những hạn chế khi áp dụng vào thực tiễn. Bài luận
sẽ chỉ ra nhữ điểm còn hạn chế trong các quy định của pháp luật về hoạt động
môi giới thương mại và đề xuất hướng khắc phục những hạn chế đó.

I- Những hạn chế trong các quy định của pháp luật về môi giới
thuong mại.
1. Chủ thể tham gia quan hệ hợp đồng môi giới.

điều chỉnh của Bộ luật dân sự. Các quy định về môi giới trong Luật Thương
Mại cũng sẽ không được áp dụng cho bên môi giới là thương nhân.
Theo Luật Thương Mại 2005 và các luật hiện hành khác quy định về môi
giới thương mại như Luật kinh doanh bảo hiểm, Luật kinh doanh bất đọng
sản, chức năng của người môi giới thương mại ở Việt Nma tương tự người
môi giới thương mại theo pháp luật của nước theeo hệ thống pháp luật châu
Âu lục địa. điều đó nghĩa là khi thực hiện hoạt động môi giới thương mại bên
môi giới nhaanh dnah chính mình để quan hệ với các bên được môi giới và là
người trung gian cho các bên trong quan hệ giao dịch thương mại, giới thiệu
cho các bên cơ hội giao kết hợp đồng cung cấp các dịch vụ hỗ trợ có liên quan
đến những giao dich thương mại. đó là hoạt đông trung gian chắp nối những
giao dịch rất phong phú và đa dạng. Có thể là giao dịch mua bán hang hóa hay
cung ứng dịch vụ thương mại để giúp các bên được môi giới đến được với
nhau. Khi thực hiện các hoạt động môi giới, bên môi giới có thể thực hiện
các haotj đọng tìm kiếm cung cấp thông tin cần thiết về dối tác cho bên được
môi giới, tiến hành các hoạt động giới thiệu về hàng hóa dịch vụ cần môi giới,
3


thu xếp để các bên được môi giới có thể tiếp xúc nhau, giúp đỡ các bên soạn
thảo văn bản, hợp đồng khi họ yêu cầu. sau đó các bên được môi giới trực tiếp
kí kết hợp đồng với nhau. Nếu bên môi giới thay mặt bên được môi giới kí kết
hợp đồng với bên thứ 3 thì họ sẽ trở thành bên đại diện không đúng thẩm
quyền của bên được môi giới. Tuy nhiên , Luật Thương Mại 2005 không cấm
các bên được môi giới ủy quyền cho bên môi giới kí kết hợp đồng với khách
hàng. Trong trường hợp này bên môi giới hành động với tư cách của bên đại
diện, mà quan hệ môi giới thuong mại được thực hiện trên cơ sở hợp đồng
môi giới. Hợp đồng môi giới được giao kết giữa bên môi giới và bên được
môi giới. Đối tượng của hợp đông môi giới chính là công việc môi giới, cung
cấp cơ hội giao kết hợp đồng giữa bên được môi giới và bên thứ 3.

Như vậy, khi thực hiện hoạt động môi giới, bên môi giới được quyền yêu
cầu bên được môi giới cung cấp các mẫu hàng hóa, tài liệu để thực giện việc
môi giới. khi bên dược môi giới cung cấp những tài klieeuj đó thì bên môi
giới fair có nghĩa vụ bảo quản và phải hoàn trả cho bên được môi giới sau khi
hoàn thành việc môi giới.
Nhằm bảo vệ quyền lợi của bên được môi giới, ngăn chặn khả năng bên
môi giới thong đồng với bên thứ 3, Điều 151 khoản 2 Luật Thương Mại 2005
quy định bên môi giới không được tiết lộ cung cấp thông tin làm phương hại
đến lợi ích của bên được môi giới. tuy nhiên ở khía cạnh khác quy định này
dẫn đến cách hiểu là bên môi giới sẽ không được quyền cung cấp thông tin
cho bên thứ 3 có liên quan đến giao dịch mà họ chắp nối bởi trong nhiều
trường hợp việc cung cấp thông tin cho bên thứ 3 có thể làm phương hại đến
lợi ích của bên được môi giới. do đó quy định này có thể cản trở hoạt động
môi giới trung thực của bên môi giới, làm cho hoạt động môi giới khó có thể
trở thành chuyên nghiệp.
Trong quá trình môi giới, người môi giới phải chịu trách nhiệm về tư
cách pháp lý của các bên tham gia giao dịch mà họ dự định chắp nối. Do chỉ
là người trung gian đứng giữa trong quan hệ giao dịch thương mại nên bên
môi giới không phải chịu trách nhiệm về khả năng thanh toán của bên được
môi giới. Tuy nhiên, quy định về đảm bảo tư cách pháp lý của bên dduocj môi
giới chỉ phù hợp với dịch vụ môi giới mà bên được môi giới là là thương
nhân. Còn trong dịch vụ môi giới mà bên được môi giới là tổ chức, cá nhân
5


không có tư cách thương nhân thì việc xác định tư cách pháp lý của các bên
tương đối khó khăn và thực sự không cần thiết. nhiệm vụ của người môi giới
là làm sao để các bên đi đến thống nhất thỏa thuận và kí kết hợp đồng. còn
việc hợp đồng được thự hiện như thê nào không phải là trách nhiệm của họ.
hơn nữa để đảm bảo tính khách quan, trung thực trong hoạt động môi giới

môi giới trong việc tìm kiếm đối tác cho bên được môi giới trong một thời
gian nhất định. Nếu bên được môi giới không sử dụng dịch vụ của bên môi
giới thì khoản thu đó có thể được xem là khoản chi phí cho việc môi giới
nhưng không có kết quả. Nhưng nếu giao dịch thành công thì bên môi giới sẽ
được hưởng thù lao.
Tuy nhiên Luật Thương Mại 2005 không có sự phân định rõ ràng khi nào
thì bên môi giới được hưởng thù lao và khi nào được hưởng chi phí môi giới.
mặt khác, Luật Thương Mại không có quy định bên môi giới phải tiến hành
một công việc cụ thể nào thì việc tính phí sẽ không rõ ràng khi các bên không
có thỏa thuận về vấn đề này.
Trong thực tế, cũng có trường hợp bên môi giới kí hợp đồng môi giới với
cả hai bên môi giới. khi đó bên môi giới có được hưởng thù lao môi giới theo
hợp đồng đã kí kết với cả 2 bên hay không? Và thù lao sẽ được tính như thế
nào? Hiện nay, pháp luât Việt Nam chưa có quy định rõ ràng về vấn đè này.
Điều này cũng có nghĩa, bên môi giới cũng có thể được hưởng cả hai khoản
thù lao và chi phí theo thỏa thuận trong khi chọ chỉ phải chắp nối 1 quan hệ
hợp đồng.
Một vấn đề khác liên quan đến hưởng thù lao của các bên môi giới là các
trường hợp loại trừ quyền hưởng thù lao của chủ thể này. Vấn đề này chưa
được quy định trong Luật Thương Mại 2005. trong thực tiễn nảy sinh nhiều
trường hợp, sau khi giao kết hợp đồng, các bên được môi giới phát hiện bên
môi giới có hành động không trung thực gây thiệt hị cho bên được môi giới
thì bên môi giới có được hưởng thù lao môi giới hay không. Thực tế này đẫn
đến nhiều quan điểm khác nhau. Có ý kiến cho rằng một khi bên môi giới đã
gây ra thiệt hại cho bên đươc môi giới thì cho dù bên được môi giới có giao
kết hợp đồng theo sự chắp nối của họ thì bên môi giới cũng không được
7


hưởng thù lao do họ đã vi phạm ngĩa vụ hợp đồng. cũng có ý kiến cho rằng



trong các trường hợp sau: Hợp đồng đã được hoàn thành; Theo thỏa thuận của
các bên; Cá nhân giao kết hợp đồng chết, pháp nhân hoặc chủ thể khác chấm
dứt mà hợp đồng phải do chính cá nhân, pháp nhân hoặc chủ thể đó thực hiện;
Hợp đồng bị huỷ bỏ, bị đơn phương chấm dứt thực hiện; Hợp đồng không thể
thực hiện được do đối tượng của hợp đồng không còn và các bên có thể thỏa
thuận thay thế đối tượng khác hoặc bồi thường thiệt hại; Các trường hợp khác
do pháp luật quy định.
Luật Thương Mại hiện hành không quy định vê quyền đơn phương chấm
dứt hợp đồng của các bên than gia hợp đồng môi giới thương mại. tuy nhiên
hợp đồng này là một loại hợp đồng dịch vụ nên theo điêu 525 Bộ luật dân sự,
các bên được môi giới có quyền đơn phương chấm dứt việc thực hiện hợp
đồng nếu việc tiếp tục thực hiện thực hiện hợp đồng không có lợi cho mình
nhưng phải thông báo trước cho bên môi giới một khoản thời gian hợp lý và
thanh toán tiền công môi giới.
Nếu bên môi giới không thực hiện nghĩa vụ của mình hay thực hiện
không đúng thời hạn thì bên được môi giới có quyền đơn phương chấm dứt
hợp đồng dịch vụ và yêu cầu bồi thương thiệt hại.

II- Giải pháp hoàn thiện những hạn chế của pháp luật về môi
giới thương mại.
Để khắc phục những hạn chế này pháp luật cần phải xem xét bổ sung
thay đổi một số quy định của pháp luật hiện hành theo hướng như sau:
Thư nhất, cần xác định rõ điều kiện chủ thể tham gia quan hệ môi giới
thương mại.
Là một hoạt động thương mại trung gian, quan hệ môi giới thương mại
cũng phát sinh giữa bên thuê dịch vụ và bên thực hiện dịch vụ. so sanh với
các hợp đồng trung gian thương mại khác dduocj quy đinh tại Luật Thương
Mại 2005 như: hoạt động đai diện cho thương nhân, ủy thác mua bán hành

bỏ ra để làm công việc kết nối giao dịch cho các bên được môi giới. do đó
trong quan hệ môi giới, bên môi giới sẽ chỉ được hưởng hoặc là thù lao hoặc
là chi phí môi giới( trừ trương hợp các bên có thỏa thuận khác). Hiện tại, các
10


quy định về thù lao và chi phí môi giới trong luật thuong mại 2005 chưa thê
hiện rõ vấn đề: nếu các bên không có thỏa thuận thì khi nào bên môi giới
dduocj hưởng thù lao môi giới, khi nào được hưởng chi phí môi giới. pháp
luật cần quy định rõ bên môi giới được hưởng thù lao môi giới cần phải chia
đều cho các bên của hợp đồng đó cung chịu. trường hợp bên môi giới đã tạo
điều kiện thuận lợi để bên được môi giới giao kết hợp đồng với bên thứ 3,
nhưng hợp đồng không đươc giao kết thì bên được môi giới phải bồi hoàn các
chi phí môi giới cần thiết mà bên môi giới đã bỏ ra.

11


Ti liu tham kho

1. Trờng Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình luật thơng mại (tập 2), Nxb. CAND, Hà Nội,
2006.
2. Nguyễn Thị Vân Anh, Pháp luật điều chỉnh các hoạt động trung gian thơng mại ở
Việt Nam, Luận án tiến sĩ luật học, Trờng Đại học luật Hà Nội, 2007.
3. Luật thơng mại năm 2005.
4. Bộ luật dân sự năm 2005.
5. Luật kinh doanh bảo hiểm năm 2000.

12


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status