Đề tài: Đánh giá hiệu quả dự án thí điểm phân loại chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn Quận 6 và đề xuất giải pháp hoàn thiện hơn - Pdf 33

Đề tài “ Đánh giá hiệu quả dự án thí điểm phân loại chất thải rắn sinh hoạt trên
địa bàn Quận 6 và đề xuất giải pháp hoàn thiện hơn”

LỜI NÓI ĐẦU
1. Sự cần thiết của đề tài:
Rác thải là một phần tất yếu của cuộc sống chúng ta, chúng ta không thể nào sinh
sống, hoạt động mà không thải rác. Trong quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa
đất nước, nhiệm vụ bảo vệ môi trường luôn được Đảng và Nhà nước coi trọng. Bảo
vệ môi trường vừa là mục tiêu, vừa là một trong những nội dung cơ bản của phát
triển bền vững. Sự phát triển mạnh mẽ của công nghiệp, tốc độ đô thị hóa ngày càng
gia tăng cùng với đời sống vật chất của người dân không ngừng được nâng cao đang
làm cho lượng rác thải ngày càng tăng lên. Nếu không được xử lý tốt, rác thải sẽ gây
ô nhiễm nghiêm trọng. Nhận thức về bảo vệ môi trường trong các cấp, ngành và
nhân dân đã được nâng lên đáng kể. Tại các nước phát triển, bên cạnh việc vận động
và áp dụng các biện pháp, chế tài để giảm thiểu xả thải rác, các chính phủ đã chú
trọng đầu tư cho ngành công nghiệp tái chế chất thải.
Chỉ thị số 199/TTg ngày 2/4/1997 của Thủ tướng Chính phủ về các biện pháp cấp
bách trong quản lý chất thải rắn tại khu đô thị và khu công nghiệp và tiếp sau đó là
quyết định số 152/199/QĐ-TTg ngày 10/7/1999 của Thủ tướng Chính phủ về việc
phê duyệt Chiến lược quản lý chất thải rắn tại các đô thị và khu công nghiệp Việt
Nam đến năm 2020 chứng tỏ những nỗ lực lớn lao của Chính phủ trong việc đối phó
với các vấn đề môi trường hiện tại và tương lai, ở đó vấn đề quản lý chất thải rắn
sinh hoạt được xem là một trong những nhiệm vụ hàng đầu của chiến lược.
Nhờ đó, môi trường được cải thiện đồng thời tăng nguyên liệu, sản phẩm cho nền
kinh tế. Song công nghiệp tái chế chất thải chỉ phát triển được khi có nguồn rác được
phân loại tốt, vì vậy phân loại rác tại nguồn đã được xác định là giải pháp cần thiết
trong chu trình thu gom và xử lý chất thải nói chung và rác thải sinh hoạt đô thị nói
riêng.
Mặt khác, mỗi ngày ở Tp.HCM thải ra khoảng 6.000 tấn CTRSH trong đó hết 5.200
tấn được đem chôn lấp ở các bãi chôn (Nguồn: Cty Môi trường đô thị, 2007). Do đó
lượng rác thải chưa được tái chế, tái sử dụng chiếm tới hơn 85% tổng khối lượng

giải pháp hoàn thiện hơn” là hết sức cần thiết, nó góp phần nâng cao hiệu quả của
việc thực hiện phân loại rác tại nguồn trên địa bàn Quận 6 .
2. Mục tiêu đề tài:
Đánh giá thuận lợi và khó khăn của dự án thí điểm phân loại rác tại nguồn trên địa
bàn quận 6.
Đề xuất các giải pháp để hoàn thiện mô hình phân loại rác tại nguồn của địa bàn
quận 6.

SVTH: PHẠM THỊ TUYẾT MAI

2


Đề tài “ Đánh giá hiệu quả dự án thí điểm phân loại chất thải rắn sinh hoạt trên
địa bàn Quận 6 và đề xuất giải pháp hoàn thiện hơn”
3. Ý nghĩa của đề tài:
Tìm ra các giải pháp mới nhằm hoàn thiện và nâng cao công tác quản lý cũng như xử
lý chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn quận 6 để việc phân loại rác tại nguồn trên địa
bàn quận diễn ra đồng bộ từ khâu thu gom đến nhà máy tái chế.
Xử lý được một lượng CTRSH khổng lồ của thành phố, góp phần cải thiện môi
trường và sức khỏe cộng đồng.
4. Nội dung nghiên cứu của đề tài:
Thu thập tài liệu có liên quan đến đề tài: tìm hiểu về vị trí địa lý, điều kiện tự
nhiên, kinh tế xã hội và hiện trạng CTR của thành phố nói chung và quận 6
nói riêng.
Thu thập tài liệu về chương trình phân loại rác tại nguồn mà thành phố đã
thực hiện thí điểm trên địa bàn quận 6.
Đánh giá được những thuận lợi cũng như giới hạn của dự án thí điểm
PLRSHTN trên địa bàn quận 6.
Đề xuất các giải pháp về tuyên truyền, công cụ pháp lý, hệ thống thu gom và


SVTH: PHẠM THỊ TUYẾT MAI

3


Đề tài “ Đánh giá hiệu quả dự án thí điểm phân loại chất thải rắn sinh hoạt trên
địa bàn Quận 6 và đề xuất giải pháp hoàn thiện hơn”
Với sự gia tăng dân số cũng như mức sống của con người ngày càng được nâng cao
thì sự gia tăng về khối lượng cũng như thành phần rác thải ngày càng nhiều. Trong
khi đó hệ thống quản lý CTR cũng như công nghệ xử lý chưa được phù hợp gây ô
nhiễm nghiêm trọng đến môi trường và cuộc sống của con người. Vì vậy, việc thực
hiện PLRTN và đề xuất các giải pháp quản lý cũng như chọn lựa công nghệ xử lý
CTR một cách phù hợp cho tương lai là vấn đề cần thiết và cấp bách trong thời gian
này.
Hiện nay, lượng rác sinh hoạt đang chiếm khối lượng lớn với nhiều thành phần và
tính chất khác nhau nên rất khó thu gom và xử lý. Tại các bãi chôn lấp gây ô nhiễm
nghiêm trọng đến môi trường không khí, nước mặt và nước ngầm do khí thải và
nước rỉ rác.
Thành phố Hồ Chí Minh là thành phố lớn nhất nước với tốc dộ phát triển kinh tế và
đô thị hóa nhanh vì thế nó thúc đẩy quá trình ô nhiễm môi trường, đặc biệt ô nhiễm
môi trường do CTRSH ngày càng nghiêm trọng. Do vậy, CTRSH là vấn đề cấp thiết
và cần được quan tâm hàng đầu bởi cộng đồng dân cư, các nhà quản lý đô thị cũng
như các cấp lãnh đạo của mọi cấp. Do vậy lượng CTRSH nếu không được quản lý
một cách triệt để sẽ dẫn tới hàng loạt các hậu quả nghiêm trọng cho môi trường và
sức khỏe con người.
6.2 Phương pháp cụ thể:
Phương pháp thu thập số liệu, tài liêu
Phương pháp chuyên gia
Phương pháp điều tra và khảo sát xã hội học

a. Công đoạn lưu chứa
Hiện tại các gia đình tự trang bị sử dụng thùng chứa chất thải rắn bằng nhựa, một số
gia đình sử dụng thùng chứa bằng kim loại hoặc các giỏ tre nứa. Phổ biến nhất hiện
nay, người dân sử dụng các loại túi xốp, nilon chứa chất thải rắn. Khi đến thời gian
giao rác, thông thường các hộ đem thùng chứa hoặc túi nilon để trước cửa để công
nhân thu gom dễ dàng thu gom. Đối với những hộ không ở nhà vào thời gian thu
gom rác, thường bỏ rác vào các bọc nilon buộc chặt, để trước cửa, chính hành động
này đã tạo điều kiện cho những người thu nhặt ve chai có thể bươi, móc gây ô nhiễm,
làm mất vẻ mỹ quan đô thị.
Tại các chợ, do diện tích kinh doanh có hạn nên đa số các tiểu thương buôn bán đều
tận dụng khoảng trống làm nơi chứa hàng, rất ít nơi có thùng rác tiếp nhận rác, hầu
hết rác phát sinh đều được thải bỏ ngay tại các lối đi trong chợ. Sau khi tan chợ, công
nhân vệ sinh sẽ thu gom rác trong chợ.
Các hoạt động mua bán trên đường phố (cố định và di dộng), sinh hoạt đi lại của
người dân đang là vấn đề phức tạp và nhức nhối trong việc tổ chức lưu chứa chất thải
của mình. Tình trạng đường phố đầy rác do các đối tượng này xả thải bừa bãi không
đúng nơi quy định là thường xuyên, liên tục và đã thành thói quen xấu khó điều
chỉnh.

SVTH: PHẠM THỊ TUYẾT MAI

5


Đề tài “ Đánh giá hiệu quả dự án thí điểm phân loại chất thải rắn sinh hoạt trên
địa bàn Quận 6 và đề xuất giải pháp hoàn thiện hơn”
Đối với trường học, công sở, nhà hàng, khách sạn, rác được lưu giữ trong các thùng
chứa nhỏ được trang bị ngay trong đơn vị. Sau đó, hầu hết rác đều được chuyển ra đổ
vào các thùng 240l.
Phần lớn các vị trí lưu chứa rác của các hộ gia đình, các khu chưng cư, đặc biệt khu


Đề tài “ Đánh giá hiệu quả dự án thí điểm phân loại chất thải rắn sinh hoạt trên
địa bàn Quận 6 và đề xuất giải pháp hoàn thiện hơn”
• Hệ thống quét dọn hoạt động ổn định, kết nối rất tốt và nhịp nhàng với hệ
thống thu gom vận chuyển. Chỉ có một thành phần duy nhất tham gia cung
ứng dịch vụ đó là nhà nước.
• Thiếu sự điều hành mang tính tích cực (về công nghệ, trong quản lý tác
nghiệp, ....) trong quá trình cung ứng dịch vụ thích nghi với sự thay đổi của xã
hội.
• Công tác quét dọn chủ yếu bằng thủ công chưa đáp ứng được yêu cầu về chất
lượng vệ sinh (chủ yếu quét sạch rác, còn cát thì không).
• Kinh phí dịch vụ tăng liên tục mà chất lượng dịch vụ tăng không tương ứng.
• Công tác quản lý nhà nước yếu kém, công tác kiểm tra giam sát bị buôn lỏng.
Tình trạng chất lượng vệ sinh sau khi quét rất xấu và diễn biến ngày càng
phức tạp do ý thức người dân quá kém.
c. Công đoạn thu gom
Hệ thống thu gom rác tại nguồn do lực lượng của Cty Dịch vụ công ích của các quận
huyện ( chiếm khoảng 40%) và lực lượng tư nhân rác dân lập ( chiếm khoảng 60%)
cùng thực hiện cung ứng dịch vụ trên toàn địa bàn thành phố. Rác sinh hoạt từ nguồn
thải ra được chứa đựng trong các thùng chứa 660 lít, xe ba gác đạp, xe đẩy tay hoặc
các xe lam, xe ba gác có gắn động cơ được công nhân vệ sinh hay rác dân lập chuyển
đến các điểm hẹn tập trung trên đường phố hoặc các bô, trạm trung chuyển rác gần
nhất. Ở một số nơi, lực lượng rác dân lập có kết hợp quét dọn vệ sinh khu vực các
con hẽm tại khu vực mình cung cấp dịch vụ mà không thu thêm kinh phí.
Lực lượng rác dân lập được hình thành từ trước giải phóng đến nay. Lực lượng này
có xuất thân phức tạp từ những gia đình nghèo, ở nhiều địa phương khác đến cũng
như có trình độ văn hóa và hiểu biết thấp. Hoạt động của lực lượng này mang tính
cha truyền con nối. Lực lượng rác dân lập là một một nhóm tư nhân với các cá thể
cung cấp dịch vụ độc lập ở một số khu vực nhất định. Các khu vực này chủ yếu là
những địa bàn, khu dân cư hình thành mới, hoặc ở những vùng sâu vùng xa, những

các quận quận huyện, phường xã là không có, các cán bộ chủ yếu là kiêm nhiệm.
Hình 1.2. Hiện trạng thu gom chất thải rắn

SVTH: PHẠM THỊ TUYẾT MAI

8


Đề tài “ Đánh giá hiệu quả dự án thí điểm phân loại chất thải rắn sinh hoạt trên
địa bàn Quận 6 và đề xuất giải pháp hoàn thiện hơn”

Nhận xét:
• Phương tiện thu gom của lực lượng dân lập chưa phù hợp về mặt mỹ quan đô
thị, an toàn giao thông và chưa đảm bảo vệ sinh môi trường (phát tán mùi hôi
và nước rỉ rác) do đa số là tự chế.
• Đôi khi có tình trạng đổ bỏ rác bừa bãi do ngại đi xa hoặc chờ (đến các điểm
hẹn đổ quy định). Địa bàn thu gom da beo do ai thương lượng (hoặc tranh
dành không lành mạnh) được với hộ dân nào (hay cụm dân cư nào) thì tiến
hành thu gom ở đó.
• Do có quá nhiều đầu mối quản lý, nhân sự thiếu và yếu kém dẫn đến sự quản
lý từ phía nhà nước không hiệu quả, khó có thể can thiệp vào công tác thu
gom rác của lực lượng dân lập này (giá dịch vụ, thời gian thu gom, bảo hộ lao
động, đăng ký hành nghề, …).
• Thiếu sự quản lý đồng bộ từ Thành phố đến địa phương, thiếu cơ chế quản lý
phù hợp và hiệu quả cũng như thiếu các biện pháp chế tài hữu hiệu đối với lực
lượng này.
• Phí thu gom chất thải rắn sinh hoạt chưa được tính toán và thu đầy đủ. Thành
phố đang phải chi trả kinh phí rất lớn cho vấn đề này.
d. Công đoạn thu gom vận chuyển
Hàng ngày hệ thống thu gom vận chuyển phải giải quyết khoảng 6.000 tấn chất thải

năm và đơn giá dịch vụ ngày một tăng.
Chất lượng các xe vận chuyển rác còn sử dụng được ở mức tương đối khoảng 70%,
các xe vận chuyển phần lớn là xe đã qua sử dụng. Các bô rác, trạm trung chuyển
phần lớn nằm lẫn trong khu dân cư và hiện nay 90% trong số này là không đảm bảo
yêu cầu hoạt động gây ô nhiễm môi trường. Việc đầu tư cơ sở vật chất, phương tiện
vận chuyển từ nguồn ngân sách nhà nước còn quá manh mún, không đồng nhất và rất
hạn chế.
Nhận xét
• Hệ thống thu gom vận chuyển hoạt động ổn định, đảm bảo vận chuyển hết
chất thải rắn sinh hoạt phát sinh hàng ngày trên địa bàn thành phố. Có sự tham
gia của thành phần kinh tế ngoài nhà nước.

SVTH: PHẠM THỊ TUYẾT MAI

10


Đề tài “ Đánh giá hiệu quả dự án thí điểm phân loại chất thải rắn sinh hoạt trên
địa bàn Quận 6 và đề xuất giải pháp hoàn thiện hơn”
• Cơ sở hạ tầng, các phương tiện cơ giới cung ứng dịch vụ phần lớn là đã qua
sử dụng, củ kỹ và lạc hậu, không đảm bảo mỹ quan đô thị và vệ sinh môi
trường. Cần khoản kinh phí lớn để đầu tư đổi mới trang thiết bị và cơ sở vật
chất.
• Kinh phí vận chuyển tăng liên tục tuy nhiên chất lượng dịch vụ không thay
đổi nhiều.
• Công tác quản lý nhà nước (bao gồm công tác kiểm tra giám sát) yếu kém,
chưa theo kịp tốc độ thay đổi, phát triển tự nhiên của ngành, chưa nói đến việc
đáp ứng được yêu cầu phát triển của xã hội.
Hình 1.3. Hiện trạng hệ thống thu gom vận chuyển tại TP.HCM


SINH
RÁC
HOẠT
BỆNH
HOẠT BỆNH
VIỆN
VIỆN

ĐIỂM
ĐIỂM
HẸN
HẸN
THU
THU
GOM
GOM

TRẠM
TRẠM
TRUNG
TRUNG
CHUYỂ
CHUYỂ
NN

BÃICHÔN
CHÔN
BÃI
LẤPCTRSH
CTRSH

CTRSH
LẤP
TRẠM
TRẠM
TRUNG
TRUNG
CHUYỂ
CHUYỂ
NN

e. Công đoạn chôn lấp
Hiện nay, hầu hết lượng chất thải rắn tại thành phố Hồ Chí Minh được thu gom và
vận chuyển lên các bãi chôn lấp, kể cả những chất thải nguy hại. Công tác vận hành
tất cả các bãi chôn lấp do Cty Môi trường đô thị thực hiện. Chôn lấp là công nghệ
duy nhất được sử dụng để xử lý chất thải rắn đô thị tại thành phố Hồ Chí Minh.
Tình hình chung các bãi chôn lấp rác tại TPHCM hiện nay:
Công trường Đông Thạnh: đang tiếp nhận xà bần (1000tấn/ngày).
Công trường Phước Hiệp: công nghệ chôn lấp hợp vệ sinh, đã ngưng tiếp
nhận xử lý rác, hiện nay chỉ còn vấn đề xử lý nước rỉ rác và đóng bãi.

SVTH: PHẠM THỊ TUYẾT MAI

12


Đề tài “ Đánh giá hiệu quả dự án thí điểm phân loại chất thải rắn sinh hoạt trên
địa bàn Quận 6 và đề xuất giải pháp hoàn thiện hơn”
Công trường Gò Cát: công nghệ chôn lấp hợp vệ sinh, đã ngưng tiếp nhận xử
lý rác, hiện nay chỉ còn vấn đề xử lý nước rỉ rác và đóng bãi . Bên cạnh đó, hệ
thống thu khí gas và chạy máy phát điện đang vận hành tốt hòa vào mạng lưới

Đề tài “ Đánh giá hiệu quả dự án thí điểm phân loại chất thải rắn sinh hoạt trên
địa bàn Quận 6 và đề xuất giải pháp hoàn thiện hơn”

1.1.2 Công tác thu gom CTRSH tại TPHCM
a. Lực lượng thu gom chất thải rắn sinh hoạt tại TPHCM
Hiện nay trên địa bàn TPHCM đang tồn tại song song 2 hệ thống tổ chức thu gom
rác sinh hoạt: hệ thống thu gom công lập và hệ thống thu gom dân lập.
- Hệ thống công lập gồm 22 Công ty Dịch vụ công ích của các Quận. Hệ
thống này đảm nhận toàn bộ việc quét dọn vệ sinh đường phố, thu gom rác chợ, rác
cơ quan và các công trình công cộng, đồng thời thực hiện dịch vụ thu gom rác sinh
hoạt cho khoảng 30% số hộ dân trên địa bàn, sau đó đưa về trạm trung chuyển hoặc
đưa thẳng tới bãi rác. Một số đơn vị ký hợp đồng với Công ty Môi trường Đô thị để
vận chuyển rác trên địa bàn.
- Hệ thống thu gom dân lập bao gồm các cá nhân thu gom rác, các nghiệp
đoàn thu gom và các Hợp tác xã vệ sinh môi trường. Lực lượng thu gom dân lập chủ
yếu thu gom rác hộ dân (thông qua hình thức thỏa thuận hợp đồng dưới sự quản lý

SVTH: PHẠM THỊ TUYẾT MAI

14


Đề tài “ Đánh giá hiệu quả dự án thí điểm phân loại chất thải rắn sinh hoạt trên
địa bàn Quận 6 và đề xuất giải pháp hoàn thiện hơn”
của UBND Phường), trên 70% hộ dân trên địa bàn và các công ty gia đình (Nguồn:
Điều tra chỉ số hài lòng về dịch vụ thu gom 2008, Cục Thống kê và Viện Nghiên cứu
Phát triển). Rác dân lập chịu trách nhiệm quét dọn rác trong các ngỏ hẻm, sau đó tập
kết rác đến các điểm hẹn dọc đường hoặc bô rác trung chuyển và chuyển giao rác
cho các đơn vị vận chuyển rác.
Số lượng lao động thu gom công lập và dân lập tại các quận/huyện được thống kê tại

131

370

4

Quận 4

68

130

5

Quận 5

140

200

6

Quận 6

158

185

7


11

Quận 11

100

250

12

Quận 12

32

110

13

Quận Phú Nhuận

96

288

14

Quận Bình Thạnh

236


120

95

19

Quận Gò Vấp

74

165

20

Huyện Hóc Môn

23

40

21

Huyện Nhà Bè

30

85

SVTH: PHẠM THỊ TUYẾT MAI



3.780

Tổng cộng

Nguồn: Tổng hợp của các quận, huyện, thống kê từ Sở Tài nguyên và Môi trường,
2006.
Từ bảng trên cho thấy lực lượng thu gom dân lập chiếm gần 60% lực lượng thu gom
của toàn Thành phố, là lực lượng thu gom chủ yếu trong các đường nhỏ, đường hẻm
mà xe cơ giới không vào được. Mặc dù còn nhiều mặt hạn chế trong công tác thu
gom nhưng không thể phủ nhận vai trò quan trọng của lực lượng rác dân lập trong
công tác bảo vệ môi trường cho Thành phố.
Đối với hệ thống thu gom rác công lập thì vấn đề tổ chức thu gom đã đi vào nề nếp,
từng bước ổn định. Đây là lực lượng nòng cốt có trách nhiệm duy trì các hoạt động
thu gom rác khu vực công cộng, quét dọn đường phố. Còn với lực lượng thu gom rác
dân lập do được hình thành một cách tự phát từ rất lâu nên lực lượng này thường làm
việc một cách độc lập và thường không ký hợp đồng thu gom bằng văn bản với các
hộ dân. Chính quyền địa phương hầu như không thể quản lý được lực lượng này, vì
thế đã gây nhiều khó khăn trong công tác quản lý chung của Thành phố.
b. Quy trình thu gom:
Quy trình thu gom của lực lượng thu gom công lập
- Quy trình thu gom thủ công: Công nhân xuất phát từ địa điểm tập trung
thùng, công nhân đẩy thùng 660L đi thu gom hết các hộ ở một bên tuyến đường sau
đó quay về bên còn lại của tuyến đường để thu gom tiếp. Nếu tuyến thu gom có một
người thì người công nhân có thể đẩy từ 1 tới 2 thùng 660L, tuyến có 2 người có thể
đẩy từ 2-3 thùng 660L đến khoảng giữa tuyến đường, đẩy từng thùng đi thu gom rác
hộ dân dọc theo 2 bên đường đến khi đầy, sau đó đẩy các thùng đến điểm hẹn.
- Quy trình thu gom cơ giới: Một xe lam chạy chậm dọc theo lề đường của các
tuyến được quy định trước, một công nhân đi nhặt các túi rác bỏ vào trong xe. Xe
đầy, chạy về trạm trung chuyển đổ rồi tiếp tục đi thu gom cho tới hết tuyến quy định.

Theo số liệu của Phòng Quản lý chất thải rắn vào năm 2005, TPHCM có tổng cộng
3675 xe thu gom các loại như xe thùng 660L, xe ba gác đạp, ba gác máy, xe lam,…
Dung tích chứa của các phương tiện này đều bị lực lượng thu gom tận dụng tối đa,
thậm chí quá tải do phần lớn các phương tiện đều bị cơi nới cao lên. Các loại phương
tiện như xe lam, lavi, xe ba gác máy (do lực lượng rác dân lập sử dụng),…có khả
năng thu gom rác với khối lượng lớn gấp 1,5 – 2 lần so với các loại thùng 660L và

SVTH: PHẠM THỊ TUYẾT MAI

17


Đề tài “ Đánh giá hiệu quả dự án thí điểm phân loại chất thải rắn sinh hoạt trên
địa bàn Quận 6 và đề xuất giải pháp hoàn thiện hơn”
vận tốc vận chuyển cũng nhanh hơn rất nhiều. Tuy nhiên, hầu hết các phương tiện
này là tự chế, không theo quy chuẩn hay thiết kế đảm bảo đạt tiêu chuẩn môi trường
nên các phương tiện này thường không bảo đảm vệ sinh môi trường trong khi thu
gom.
Đa số lực lượng thu gom công lập sử dụng phương tiện thu gom là xe thùng 660L
thu gom chủ yếu trên các tuyến đường chính, còn các phương tiện như xe ba gác, xe
lam được lực lượng dân lập sử dụng thu gom trên các đường nhỏ, các hẻm trong
Thành phố. Ngoài xe thùng 660L có cấu trúc như nhau trên toàn địa bàn Thành phố
và được thiết kế dành riêng cho việc thu gom CTR, các loại phương tiện còn lại đều
do người thu gom cải tiến từ các loại xe mà không qua kiểm định của cơ quan chức
năng.
1.1.3 Chiến lược phát triển ngành xử lý CTR tại TPHCM
a. Mục tiêu:
Từng bước hình thành một hệ thống quản lý đồng bộ về công tác quản lý CTR đô thị,
với kỹ thuật xử lý rác tiên tiến nhằm kiểm soát toàn bộ quá trình từ khâu phát sinh
đến khâu xử lý sau cùng, bảo đảm mục tiêu phát triển bền vững trong thời kì công

nguồn, tái sử dụng và tái chế phế liệu được thu hồi, quét dọn, thu gom, vận chuyển
và xử lý rác cho từng loại CTR.
Xây dựng, ban hành chính sách xã hội hóa, khuyến khích các thành phần kinh tế kể
cả trong và ngoài nước tham gia quản lý CTR. Hiệu chỉnh Quy chế quản lý lực lượng
lấy rác dân lập ( một hình thức xã hội hóa ) làm cơ sở cũng cố tổ chức thu gom rác
dân lập theo hướng tăng cường quản lý Nhà nước, bảo đảm vệ sinh môi trường.
Xây dựng, ban hành chính sách khuyến khích, ưu đãi đối với các cơ sở sản xuất hàng
hóa áp dụng công nghệ sản xuất sạch, ít chất thải, có những nghiên cứu nhằm giảm
thiểu CTR sau khi tiêu dùng hàng hóa đó.
Hoàn thiện mô hình tổ chức quản lý CTR
Nghiên cứu, tổ chức lại hệ thống quản lý, điều hành tác nghiệp hoạt động của ngành
vệ sinh. Một cơ quan được chính quyền thành phố giao nhiệm làm đầu mối quản lý
tạp trung, xuyên suốt toàn bộ hoạt động của ngành, còn hoạt động tác nghiệp được
phân cấp một phần hoặc toàn bộ quy trình giải quyết CTR cho đơn vị công ích Quận
huyện thực hiện hoặc tổ chức đấu thầu rộng rãi kêu gọi các thành phần kinh tế tham
gia.
Cũng cố phát huy các doanh nghiệp Nhà nước làm công tác vệ sinh môi trường đang
hoạt động có hiệu quả, cổ phần hóa các doanh nghiệp Nhà nước hoạt động kém hiệu
quả.
Hiện đại hóa công nghệ và sản xuất thiết bị chuyên ngành xử lý CTR
Thông qua các đề tài nghiên cứu khoa học, các dự án đầu tư đưa vào áp dụng các
công nghệ kỹ thuật tiên tiến, phù hợp với điều kiện của thành phố trong tất cả các
khâu của quy trình giải quyết chất thải rắn.
Nhập khẩu, tiến tới tự sản xuất các thiết bị phân loại, thu gom, vận chuyển, xử lý
CTR.

SVTH: PHẠM THỊ TUYẾT MAI

19



SVTH: PHẠM THỊ TUYẾT MAI

20


Đề tài “ Đánh giá hiệu quả dự án thí điểm phân loại chất thải rắn sinh hoạt trên
địa bàn Quận 6 và đề xuất giải pháp hoàn thiện hơn”
1.2 Tổng quan về quận 6:
Hình 1.6: Bản đồ hành chính Quận 6

1.2.1 Điều kiện tự nhiên
1.2.1.1 Vị trí hành chính địa lý:
Quận 6 là Quận nội thành có vị trí cửa ngõ phía tây Thành phố. Quận 6 giáp với các
Quận sau:





Bắc giáp Quận Tân Phú, Quận 11
Nam giáp Quận 8
Tây giáp Quận Bình Tân
Đông giáp Quận 5

Diện tích Quận 6 là 7,14 km2 (chiếm 0,34% so với toàn thành phố), với dân số
241902 người, toàn Quận có 14 phường (gồm 49870 hộ trong đó có khoảng 5000 hộ

SVTH: PHẠM THỊ TUYẾT MAI


quận 6 gồm các thành phần kinh doanh, dịch vụ và tiểu thủ công nghiệp. Tốc độ tăng
trưởng kinh tế hàng năm đạt 14%.

SVTH: PHẠM THỊ TUYẾT MAI

22


Đề tài “ Đánh giá hiệu quả dự án thí điểm phân loại chất thải rắn sinh hoạt trên
địa bàn Quận 6 và đề xuất giải pháp hoàn thiện hơn”
Các ngành chủ yếu và tốc độ phát triển: các ngành nghề chiếm tỷ lệ cao trong cơ cấu
kinh tế bao gồm: sản xuất cao su, dệt, nhựa, may mặc, sản xuất giày, túi sách…
Trên toàn quận 6 có 2.653 cơ sở sản xuất ngoài quốc doanh ( doanh nghiệp tư nhân,
công ty trách nhiệm hữu hạn, hợp tác xã, công ty cổ phần, các cơ sở sản xuất công
nghiệp các thể ) thu hút 21.649 lao động.
1.2.2.2 Điều kiện xã hội:
Quận 6 có diện tích là 7,14 km2 với mật độ dân số khá cao ( 37.503 người/km 2 ).
Quận 6 thuộc khu vực hạ lưu của hệ thống kênh Tân Hóa – Lò Gốm, có nhiều chợ
nhỏ nằm xen kẽ trong khu dân cư với nhiều chung cư – cư xá.
a. Dân số
Hiện nay, Quận 6 có dân số khá đông ( 251.912 người ) với mật độ dân số khá cao
35.282 người/km². Sự tăng trưởng dân số của quận 6 từ năm 2003 đến năm 2009
được thống kê như sau:
Bảng 1.2: Thống kê dân số Quận 6
Năm

Dân số (người)

Tỷlệ (%/năm)


2008

251.182

1.76

2009

251.912

0.31

Nguồn: Cục Thống Kê TPHCM, 2008
Trong tổng số 251.912 người, tổng số người thuộc dân tộc kinh chiếm 71,54%, số
còn lại là dân tộc Hoa và các dân tộc thiểu số khác.
Bảng 1.3: Thống kê tỷ lệ dân số Quận 6 chia theo dân tộc

SVTH: PHẠM THỊ TUYẾT MAI

23


Đề tài “ Đánh giá hiệu quả dự án thí điểm phân loại chất thải rắn sinh hoạt trên
địa bàn Quận 6 và đề xuất giải pháp hoàn thiện hơn”
STT

Dân tộc

Tỷ lệ nữ
trong từng dân

4

Hoa

50,44

28,08

5

Khơ me

49,15

0,11

6

Mường

44,53

0,01

7

Nùng

44,27


trung học cơ sở ( 9 trường ), trung học phổ thông ( 3 trường thuộc sự quản lý của
Thành phố ). Ngoài ra, Quận 6 còn có 62 lớp phổ cập giáo dục ( bao gồm tiểu học và
trung học cơ sở ), 1 trường bổ túc văn hóa.
b. Y tế
Toàn Quận có 1 bệnh viện, 1 nha học đường, 1 phòng khám, 1 đội y tế dự phòng, 14
trạm y tế cấp phường.
Trên toàn Quận 6 có 478 cơ sở y tế tư nhân, bao gồm: phòng mạch, phòng nha khoa,
nhà hộ sinh, nhà thuốc tây, đông dược, sản xuất đông dược... trong đó, có 313 cơ sở
đang lần lượt ký hợp đồng ( 220 cơ sở đã chính thức ký hợp đồng ), khối lượng thu
gom ước chừng 100 đến 120kg/ngày. Trên cơ sở phối hợp tốt giữa công ty Dịch vụ
Công ích quận với trung tâm y tế quận, phòng Quản lý Đô thị ( tổ Tài nguyên và Môi

SVTH: PHẠM THỊ TUYẾT MAI

24


Đề tài “ Đánh giá hiệu quả dự án thí điểm phân loại chất thải rắn sinh hoạt trên
địa bàn Quận 6 và đề xuất giải pháp hoàn thiện hơn”
trường ), công ty Dịch vụ Công ích quận thực hiện ký hợp đồng đối với các cơ sở y
tế tư nhân ngày càng nhiều hơn.
Công tác thu gom CTR y tế tại công ty Dịch vụ Công ích được giao cho 1 công nhân
chuyên trách. Thời gian lấy rác được tiến hành cả ngày lẫn đêm. Phương tiện thu
gom: sử dụng xe gắn máy cá nhân.
1.2.3 Hiện trạng môi trường trên địa bàn Quận 6:
Quận 6 có cơ sở hạ tầng, hệ thống cấp thoát nước và mạng lưới giao thông tương đối
hoàn chỉnh. Trên địa bàn có nhiều chợ lớn, nhỏ nằm xen kẽ trong khu dân cư và
nhiều chung cư – cư xá, các cơ sở sản xuất, kinh doanh nhỏ mang tính chất hộ gia
đình tập trung khá nhiều tại Quận 6. Do những đặc điểm như trên nên các vấn đề môi
trường của Quận 6 có liên quan tới các lĩnh vực sau:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status