LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đồ án: “Đánh giá hiện trạng và đề xuất giải pháp nâng
cao hiệu quả quản lý chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn quận Thanh Xuân,
thành phố Hà Nội” là kết quả nghiên cứu của tôi. Những số liệu, tài liệu tham khảo
trong đồ án là hoàn toàn trung thực, nếu sai tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm và
chịu mọi kỷ luật của khoa và nhà trường đề ra.
Sinh viên thực hiện.
Phạm Thu Hương
1
LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian từ khi bắt đầu học tập ở giảng đường đại học đến nay, em
đã nhận được rất nhiều sự quan tâm, giúp đỡ của quý Thầy Cô, gia đình và bạn bè.
Với lòng biết ơn sâu sắc nhất, em xin gửi đến quý Thầy Cô ở khoa Môi Trường –
Trường Đại học Tài Nguyên và Môi Trường Hà Nội đã cùng với tri thức và tâm
huyết của mình để truyền đạt vốn kiến thức quý báu cho chúng em trong suốt thời
gian học tập tại trường.
Em xin chân thành cảm ơn TS. Phạm Thị Tố OanhTrung Tâm Các
Chương Trình Kinh Tế Xã Hội, Liên Minh Hợp Tác Xã Việt Nam vàTh.S Nguyễn
Thị Linh Giang, giảng viên Khoa Môi Trường thuộc Trường Đại Học Tài Nguyên
và Môi Trường Hà Nộiđã tận tâm hướng dẫn, dìu dắt em trong suốt quá trình thực
hiện đề tài và hoàn thành đồ án tốt nghiệp này.
Em xin chân thành cảm ơn sự nhiệt tình chỉ bảo, dạy dỗ và tạo điều kiện
thuận lợi của cô khoa Môi trường trong quá trình em thực tập.
Em xin chân thành cảm ơn các anh, chị, chú, bác công tác tại HTX Thành
Công đã tận tình giúp đỡ em trong quá trình nghiên cứu.
Cuối cùng, con xin cảm ơn bố mẹ và gia đình đã luôn quan tâm, lo lắng và
tạo điều kiện cho con trong suốt quá trình học tập và hoàn thành đồ án này.
CTR
: Chất thải rắn
BVMT
: Bảo vệ môi trường
3R
: Giảm thiểu, tái sử dụng, tái chế
KT - XH
: Kinh tế - xã hội
DANH MỤC BẢNG
5
DANH MỤC HÌNH
6
MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đề
7
2.Mục tiêu nghiên cứu
-Đánh giá hiện trạng công tác quản lý chất thải rắn tại một số phường trên địa
bàn quận Thanh Xuân.
-Đề xuất các giải pháp cải thiện hệ thống quản lý chất thải rắn sinh hoạt nhằm
góp phần nâng cao hiệu quả trong công tác quản lý chất thải rắn sinh hoạt, giảm
thiểu ô nhiễm môi trường do chất thải rắn gây ra.
3.Nội dung nghiên cứu
-Điều tra tình hình chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn quận Thanh
Xuân:
+Nguồn phát sinh chất thải rắn sinh hoạt.
+Thành phần phát sinh chất thải rắn sinh hoạt.
+Lượng phát sinh chất thải rắn sinh hoạt.
-
Đánh giá hiện trạng công tác quản lý chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn quận
Thanh Xuân:
Tìm hiểu về hệ thống tổ chức quản lý chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn quận
Thanh Xuân như:
+ Về phương tiện thu gom, vận chuyển, nhân lực duy trì: Số lượng, chủng loại
phương tiện thu gom, vận chuyển; Số lượng nhân công thu gom, vận chuyển.
+ Tình hình thu gom chất thải rắn sinh hoạt: Phương pháp thu gom; Tần suất,
thời gian thu gom; các điểm tập kết, hiệu suất thu gom; Vạch tuyến thu gom sơ cấp
và thứ cấp.
+ Tình hình phân loại; phương pháp xử lý chất thải rắn sinh hoạt.
+ Dự báo khối lượng chất thải rắn sinh hoạt đến năm 2025.
- Đánh giá nhận thức của cộng đồng về công tác quản lý chất thải rắn sinh
xây dựng cơ sở quản lý chất thải rắn, các hoạt động phân loại, thu gom, lưu giữ, vận
chuyển, tái sử dụng, tái chế và xử lý chất thải rắn nhằm ngăn ngừa, giảm thiểu
những tác động có hại đối với môi trường và sức khoẻ con người [3].
Thu gom CTR:Là hoạt động tập hợp, phân loại, đóng gói và lưu giữ tạm thời
chất thải rắn tại nhiều điểm thu gom tới địa điểm hoặc cơ sở được cơ quan nhà nước
có thẩm quyền chấp thuận [3].
Vận chuyển CTR:Là quá trình chuyên chở chất thải rắn từ nơi phát sinh, thu
gom, lưu giữ, trung chuyển đến nơi xử lý, tái chế, tái sử dụng hoặc bãi chôn lấp cuối
cùng [3].
Xử lý CTR:Là quá trình sử dụng các giải pháp công nghệ, kỹ thuật làm giảm,
loại bỏ, tiêu hủy các thành phần có hại hoặc không có ích trong chất thải rắn; thu
hồi, tái chế, tái sử dụng lại các thành phần có ích trong chất thải rắn [3].
Chôn lấp CTR hợp vệ sinh:Là hoạt động chôn lấp phù hợp với các yêu cầu của
tiêu chuẩn kỹ thuật về bãi chôn lấp chất thải rắn hợp vệ sinh [3].
Rác: Là thuật ngữ dùng để chỉ chất thải rắn hình dạng tương đối cố định, bị
vứt bỏ từ hoạt động của con người. Rác sinh hoạt hay chất thải rắn sinh hoạt là một
bộ phận của chất thải rắn, được hiểu là các chất thải rắn phát sinh từ các hoạt động
10
sinh hoạt hàng ngày của con người [1].
Chất thải: Là sản phẩm được sinh ra trong quá trình sinh hoạt của con người, sản
xuất công nghiệp, nông nghiệp, giao thông, dịch vụ, thương mại, sinh hoạt gia đình,
trường học,... Ngoài ra, còn phát sinh trong giao thông vận tải như khí thải của các
phương tiện giao thông, chất thải là kim loại, hóa chất và từ các vật liệu khác [4].
1.1.2.
Sự hình thành chất thải rắn sinh hoạt
Ghi chú:
Phân loại chất thải rắn sinh hoạt [1]
a) Phân loại theo nguồn gốc phát sinh
- Chất thải từ các hộ gia đình còn gọi là chất thải hay rác thải sinh hoạt được phát
sinh từ các hộ gia đình.
Chất thải từ các hoạt động sản xuất, kinh doanh, thương mại: Là những chất thải có
nguồn gốc phát sinh từ các ngành kinh tế như công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ.
b) Phân loại theo thuộc tính vật lý, hóa học
- Phân biệt theo các thành phần hữu cơ, vô cơ, cháy được, không cháy được, kim
loại, da, giẻ vụn, cao su, chất dẻo.
c) Phân loại theo mức độ nguy hại
- Chất thải nguy hại: Bao gồm các loại hóa chất dễ gây phản ứng, độc hại, chất thải
rắn sinh hoạt dễ thối rữa, các chất dễ cháy, nổ... có thể gây nguy hại tới con người,
động vật và gây nguy hại tới môi trường. Nguồn phát sinh chất thải nguy hại chủ
yếu từ các hoạt động y tế, công nghiệp và nông nghiệp.
- Chất thải không nguy hại: Là những loại rác thải không có chứa các hóa chất và hợp
chất có một trong các đặc tính nguy hại trực tiếp hoặc tương tác thành phần.
1.1.5 Thành phần chất thải rắn sinh hoạt
-
12
1.1.5.1 Thành phần vật lý
CTRSH là vật phế thải trong sinh hoạt và sản xuất nên đó là một hỗn hợp phức
tạp của nhiều vật chất khác nhau. Để xác định được thành phần của CTRSH một
cách chính xác là một việc làm rất khó vì thành phần của rác thải phụ thuộc rất
nhiều vào tập quán cuộc sống, mức sống của người dân, mức độ tiện nghi của đời
9,15
4,52
3,0
13,10
3,23
Giay, catton, giẻ vụn
1,48
7,52
3,0
6,36
4,6
Kim loại
3,40
0,22
3,0
15,9
13,17
17,15
10,9
11,0
Độ ẩm
47,7
45,0
44,23
49,0
46,0
Tỷ trọng ( tấn/m3)
0,42
0,43
0,45
Môi trường nước
+ Lượng CTRSH rơi vãi nhiều, ứ đọng lâu ngày, khi gặp mưa rác rơi vãi sẽ
theo dòng nước chảy, các chất độc hòa tan trong nước, qua cống rãnh, ra ao hồ,
sông ngòi, gây ô nhiễm nguồn nước mặt tiếp nhận.
+ CTRSHkhông thu gom hết ứ đọng trong các ao, hồ là nguyên nhân gây mất
vệ sinh và ô nhiễm các thủy vực.Khi thủy vực bị ô nhiễm hoặc chứa nhiều rác thì có
nguy cơ ảnh hưởng đến các loài vi sinh vật, do hàm lượng oxy hòa tan trong nước
giảm, khả năng nhận ánh sáng của các tầng nước cũng giảm, dẫn đến ảnh hưởng tới
khả năng quang hợp của thực vật thủy sinh và làm giảm sinh khối của các thủy vực.
+ Ở các bãi chôn lấp rác, chất ô nhiễm trong nước rác là tác nhân gây ô
nhiễm nguồn nước ngầm trong khu vực và các nguồn nước ao hồ, sông suối lân cận.
Tại các bãi rác, nếu không tạo được lớp phủ bảo đảm hạn chế tối đa nước mưa thấm
qua thì cũng có thể gây ô nhiễm nguồn nước mặt.
Môi trường không khí
+ Tại các trạm/bãi trung chuyển rác xen kẽ khu vực dân cư là nguồn gây ô
nhiễm môi trường không khí do mùi hôi từ rác, bụi cuốn lên khi xúc rác, bụi khói,
tiếng ồn và các khí thải độc hại từ các xe thu gom, vận chuyển rác.
+ Tại các bãi chôn lấp CTRSH, vấn đề ảnh hưởng đến môi trường không khí
là mùi hôi thối, mùi khí metan, các khí độc hại từ các chất thải nguy hại.
∗ Ảnh hưởng của chất thải rắn sinh hoạt đối với sức khỏe con người
Ảnh hưởng của CTRSH lên sức khỏe con người thông qua ảnh hưởng của chúng
lên các thành phần môi trường. Môi trường bị ô nhiễm tất yếu sẽ tác động đến sức
khỏe con người thông qua chuỗi thức ăn.
Tại các bãi rác, nếu không áp dụng các kỹ thuật chôn lấp và xử lý thích hợp, cứ đổ
dồn rồi san ủi, chôn lấp thông thường, không có lớp lót, lớp phủ thì bãi rác trở thành
nơi phát sinh ruồi, muỗi, là mầm mống lan truyền dịch bệnh, chưa kể đến chất thải
độc hại tại các bãi rác có nguy cơ gây bệnh hiểm nghèo đối với cơ thể người khi
tiếp xúc, đe dọa đến sức khỏe cộng đồng xung quanh.
-
Chôn lấp rác có xu hướng giảm dần, tiến tới chấm dứt ở các nước đang phát triển.
Các bãi chôn lấp CTRSH phải cách xa khu dân cư, không gần nguồn nước
ngầm và nguồn nước mặt. Đáy của bãi rác nằm trên tầng đất sét hoặc được phủ các
lớp chống thấm bằng màng địa chất. Ở các bãi chôn lấp rác phải thiết kế khu thu
gom và xử lý nước rác trước khi thải vào môi trường. Việc thu khí ga để biến đổi
thành năng lượng là một cách để tận dụng từ rác thải rất hữu ích.
- Ưu điểm của phương pháp:
+ Công nghệ đơn giản, rẻ tiền và phù hợp với nhiều loại rác thải.
+ Chi phí vận hành bãi rác thấp.
- Nhược điểm của phương pháp:
+ Chiếm diện tích đất tương đối lớn.
-
15
+ Không được sự đồng tình của người dân khu vực xung quanh.
+ Nguy cơ gây ô nhiễm môi trường (đất, nước, không khí) cao.
+ Tìm kiếm xây dựng bãi rác mới là việc làm khó khăn.
∗ Phương pháp đốt
Xử lý bằng phương pháp đốt rác là làm giảm tới mức tối thiểu chất thải rắn sinh
hoạtcho khâu xử lý cuối cùng. Bằng phương pháp đốt, dung tích chất thải rắn sinh
hoạt được giảm nhiều, còn khoảng 10% so với dung tích ban đầu, trọng lượng giảm
còn 25% hoặc thấp hơn so với ban đầu. Như vậy, sẽ thuận lợi thu gom và giảm nhu
cầu về dung tích chứa tại chỗ, ngay tại nguồn, đồng thời cũng dễ dàng chuyên chở ra
bãi rác chôn lấp tập trung nếu cần. Tuy nhiên, phương pháp đốt rác sẽ gây ô nhiễm
không khí cho khu vực xung quanh, đồng thời làm mất mỹ quan đô thị. Vì vậy,
phương pháp này chỉ dùng tại các địa phương nhỏ, có mật độ dân số thấp.
Phương pháp này chi phí cao, so với phương pháp chôn lấp rác, chi phí để đốt
một tấn rác cao gấp 10 lần. Công nghệ đốt rác thường sử dụng ở các quốc gia phát
kỳ hoặc vừa thổi vừa đảo. Xử lý rác làm phân hữu cơ là biện pháp rất có hiệu quả,
sản phẩm phân hủy có thể kết hợp tốt với phân người và phân gia súc cho ta chất
hữu cơ có hàm lượng dinh dưỡng cao, tạo độ tơi xốp, rất tốt cho việc cải tạo đất.
1.2.
Cơ sở pháp lý
+ Luật bảo vệ môi trường 2014.
+ Nghị định số 19/2015/NĐ-CP ngày 14 tháng 2 năm 2015 của Chính phủ quy
định chi tiết thi hành một số điều của Luật bảo vệ môi trường.
+ Nghị định số 179/2013/NĐ-CP ngày 14/11/2013 về xử phạt vi phạm hành
chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường.
+ Nghị định số 38/2015/NĐ-CP ngày 24/4/2015 quy định về quản lý chất thải
và phế liệu.
+ Nghị định số 174/2007/NĐ-CP ngày 29/11/2007 của Chính phủ quy định về
phí bảo vệ môi trường đối với chất thải rắn (CTR).
+ Nghị định 80/2006 NĐ-CP ngày 09/8/2006 hướng dẫn thực hiện Luật Bảo
vệ môi trường.
+ Nghị định số 21/2008/ NĐ-CP ngày 28/2/2008 về sửa đổi, bổ sung một số
điều của Nghị định 80/2006 NĐ-CP ngày 09/8/2006 của chính phủ về việc quy định
chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo vệ môi trường.
+ Nghị định số 59/2007/NĐ-CP ngày 9 tháng 4 năm 2007của chính phủ ban
hành quy định về hoạt động quản lý chất thải rắn, quyền hạn và trách nhiệm của các
cá nhân, tổ chức liên quan đến QLCTR.
+ Thông tư số 13/2007/TT-BXD ngày 31/12/2007 của Bộ xây dựng hướng
dẫn một số điều của Nghị định 59/2007/ NĐ-CP ngày 9/04/2007 của Chính phủ về
quản lý chất thải rắn.
+ Quyết định số 798/QĐ-TTg ngày 25/5/2011 của Thủ tướng chính phủ về
phê duyệt chương trình đầu tư xử lý chất thải rắn giai đoạn 2011-2020 do Thủ
tướng chính phủ ban hành.
Cải thiện, giám sát sự tiêu hủy, loại bỏ những CTR còn lại: Với những chất thải
không được tái chế hoặc tái sử dụng phải được thiêu đốt 1 cách an toàn, bãi chôn
lấp chỉ được sử dụng như một phương án cuối cùng.
Tại Nhật Bản:
18
Việc thu gom rác thải sinh hoạt các hộ gia đình được nhà nước yêu cầu chia
thành 3 loại:
- Rác hữu cơ dễ phân hủy được thu gom hàng ngày để đưa đến nhà máy sản
xuất phân compost.
- Rác khó tái chế hoặc tái chế nhưng mang lại hiệu quả không cao nhưng cháy
được sẽ được mang đến nhà máy để đốt rác thu hồi năng lượng.
- Rác tái chế sẽ được đem đến nhà máy xử lý để tái chế, tái sử dụng lại.
Các loại rác được yêu cầu đựng vào 3 túi riêng biệt với 3 màu khác nhau theo
quy định: rác hữu cơ, rác vô cơ, giấy, vải, thủy tinh, rác kim loại….và các hộ gia
đình phải tự mang ra các điểm tập kết của cụm dân cư vào khung giờ quy định.Sau
đó rác thải sẽ được đưa đến nhà máy xử lý rác thải để sản xuất vi sinh. Các loại rác
còn lại như: giấy, vải, thủy tinh, kim loại,…đều được đưa đến cơ sở tái chế hàng
hóa. Tại đây rác được đưa đến hầm ủ có nắp đậy và được chảy trong một dòng nước
có thổi khí rất mạnh vào các chất hữu cơ và phân giải chúng một cách triệt để. Sau
quá trình xử lý đó, rác chỉ còn như một loại cát mịn và nước thải giảm ô nhiễm. Các
cặn rác không còn mùi sẽ được nén thành các viên gạch lát vỉa hè rất xốp, chúng có
tác dụng hút nước khi trời mưa.
Tại California
Nhà quản lý cung cấp đến từng hộ gia đình nhiều thùng rác khác nhau. Kế tiếp
rác sẽ được thu gom, vận chuyển, xử lý hoặc tái chế, rác được thu gom 3 lần/tuần
với chi phí phải trả là 16,39 USD/tháng. Nếu có những phát sinh khác như : Khối
lượng rác gia tăng hay các xe chở rác phải phục vụ tận sâu trong các tòa nhà lớn, giá
Theo báo cáo môi trường quốc gia năm 2011, khối lượng chất thải rắn sinh
hoạt phát sinh tại các đô thị trên toàn quốc tăng trung bình 10-16% mỗi năm, chiếm
khoảng 60-70% tổng lượng chất thải rắn đô thị và tại một số đô thị tỷ lệ chất thải
rắn sinh hoạt phát sinh chiếm đến 90% tổng lượng chất thải rắn đô thị. Chất thải rắn
sinh hoạt đô thị phát sinh với khối lượng lớn tại hai đô thị đặc biệt là thành phố Hà
Nội và thành phố Hồ Chí Minh, chiếm tới 45,24% tổng lượng chất thải rắn sinh
hoạt phát sinh từ tất cả các đô thị. Chỉ số phát sinh chất thải rắn sinh hoạt bình quân
trên đầu người ở mức độ cao từ 0,9-1,38 kg/người/ngày ở thành phố Hà Nội, thành
phố Hồ Chí Minh và một số đô thị phát triển về du lịch như: thành phố Hạ Long,
thành phố Đà Lạt, thành phố Hội An,…Chỉ số phát sinh chất thải rắn sinh hoạt bình
quân trên đầu người thấp nhất tại thành phố Đồng Hới, thành phố Kon Tum, thị xã
Gia Nghĩa thuộc tỉnh Đăk Nông, thành phố Cao Bằng từ 0,31-0,38 kg/người/ngày.
Khối lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh trên toàn quốc năm 2014 khoảng
23 triệu tấn tương đương với khoảng 63.000 tấn/ngày, trong đó, chất thải rắn sinh
hoạt đô thị phát sinh khoảng 32.000 tấn/ngày. Chỉ tính riêng tại thành phố Hà Nội
và thành phố Hồ Chí Minh, khối lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh là: 6.420
tấn/ngày và 6.739 tấn/ngày.
Tình hình thu gom, vận chuyển
Tỷ lệ thu gom chất thải rắn sinh hoạt hiện nay tại khu vực nội thành của các đô
thị trung bình đạt khoảng 85% so với lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh và tại
khu vực ngoại thành của các đô thị trung bình đạt khoảng 60% so với lượng chất
thải rắn sinh hoạt phát sinh. Tỷ lệ thu gom chất thải rắn sinh hoạt tại khu vực nông
thôn còn thấp, trung bình đạt khoảng 40-55% so với lượng chất thải rắn sinh hoạt
phát sinh, tỷ lệ thu gom chất thải rắn sinh hoạt tại các vùng nông thôn ven đô hoặc
20
-
nhiên, hiệu quả hoạt động của 26 cơ sở chưa được đánh giá một cách đầy đủ, toàn
diện; chưa lựa chọn được mô hình xử lý chất thải rắn hoàn thiện đạt được cả các
tiêu chí về kỹ thuật, kinh tế, xã hội và môi trường.
Theo thống kê tính đến năm 2013 có khoảng 458 bãi chôn lấp chất thải rắn có
quy mô trên 1ha, ngoài ra còn có các bãi chôn lấp quy mô nhỏ ở các xã chưa được
21
thống kê đầy đủ. Trong số 458 bãi chôn lấp có 121 bãi chôn lấp hợp vệ sinh và 337
bãi chôn lấp không hợp vệ sinh. Các bãi chôn lấp không hợp vệ sinh phần lớn là bãi
rác tạm, lộ thiên, không có hệ thống thu gom, xử lý nước rỉ rác, đang là nguồn gây ô
nhiễm môi trường.
Một số cơ sở xử lý bằng hình thức chôn lấp hợp vệ sinh hiện đang hoạt động
như: Khu liên hợp xử lý chất thải rắn Đa Phước thuộc Công ty TNHH xử lý chất
thải rắn Việt Nam; Khu liên hợp xử lý chất thải rắn Tây Bắc Củ Chi thuộc Công ty
TNHH MTV môi trường đô thị thành phố Hồ Chí Minh; Khu xử lý chất thải Nam
Sơn thuộc Công ty TNHH MTV môi trường đô thị Hà Nội,…Trên thực tế, tại nhiều
cơ sở xử lý chất thải rắn bằng hình thức chôn lấp, quá trình kiểm soát ô nhiễm chưa
thực sự đem lại hiệu quả trong công tác bảo vệ môi trường, hiện vẫn đang là vấn đề
gây bức xúc trong xã hội. Bên cạnh đó, chưa có cơ sở xử lý chất thải rắn bằng hình
thức chôn lấp nào tận thu được nguồn năng lượng từ khí thải thu hồi từ bãi chôn lấp
chất thải, gây lãng phí nguồn tài nguyên.
Hiện nay, các cơ sở xử lý chất thải rắn sinh hoạt thành phân hữu cơ sử dụng
công nghệ ủ hiếu khí, một số cơ sở xử lý đang hoạt động: Nhà máy xử lý chất thải
rắn sinh hoạt Nam Bình Dương thuộc Công ty TNHH MTV cấp thoát nước và môi
trường Bình Dương; Nhà máy xử lý và chế biến chất thải Cẩm Xuyên, Hà Tĩnh
thuộc Công ty TNHH MTV quản lý công trình đô thị Hà Tĩnh; Nhà máy xử lý rác
Tràng Cát, thuộc Công ty TNHH MTV môi trường đô thị Hải Phòng; Nhà máy xử
lý chất thải rắn Nam Thành, Ninh Thuận thuộc Công ty TNHH xây dựng thương
mại và sản xuất Nam Thành;…Hệ thống thiết bị trong dây chuyền công nghệ của
nhanh chóng vấn đề chất thải rắn sinh hoạt phát sinh trên địa bàn, đặc biệt với khu
vực nông thôn. Tuy nhiên, một số lò đốt công suất nhỏ không có hệ thống xử lý khí
thải và trên ống khói không có điểm lấy mẫu khí thải; không có thiết kế, hồ sơ giấy
tờ liên quan tới lò đốt. Nhiều lò đốt công suất nhỏ được đầu tư xây dựng trên địa
bàn dẫn tới việc xử lý chất thải phân tán, khó kiểm soát việc phát thải ô nhiễm thứ
cấp vào môi trường không khí. Ngay cả với một số lò đốt công suất lớn thì hiện còn
tồn tại các vấn đề: phân loại, nạp liệu chưa tối ưu; chưa thu hồi được năng lượng từ
quá trình xử lý chất thải; kiểm soát ô nhiễm chưa đảm bảo; chưa có hệ thống thu hồi
nước rác; không có hệ thống xử lý nước rỉ rác; xử lý mùi, côn trùng chưa triệt để.
Qua khảo sát thực tế cho thấy nhiều lò đốt hiệu quả xử lý chưa cao, khí thải
phát sinh chưa được kiểm soát chặt chẽ, có nguy cơ phát sinh khí Dioxin, Furan, là
nguồn gây ô nhiễm môi trường không khí xung quanh.
1.4: Tổng quan về địa bàn nghiên cứu
1.4.1. Điều kiện tự nhiên quận Thanh Xuân
* Vị trí địa lý
Quận Thanh Xuân nằm ở cửa ngõ phía Tây Nam nội thành Hà Nội, phía Đông
giáp quận Hai Bà Trưng; phía Tây giáp huyện Từ Liêm và quận Hà Đông; phía
Nam giáp huyện Thanh Trì; phía Bắc giáp quận Đống Đa và quận Cầu Giấy (Hình
1.3). Tổng diện tích tự nhiên là: 913,2 ha, diện tích các phường thuộc quận được thể
hiện ở bảng 1.2, với tổng số dân số khoảng 214.600 người (năm 2010)
23
24
Bảng 1.2: Diện tích các phường của quận Thanh Xuân (Theo Nghị định số
74/CP ngày 22/11/1996 của Thủ tướng Chính phủ)
STT
Phường Khương Mai
98,4
6
Phường Khương Trung
78,1
7
Phường Thanh Xuân Bắc
48,4
8
Phường Thanh Xuân Trung
106,2
9
Phường Thanh Xuân Nam
32,8
10