LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành đề tài tốt nghiệp ngoài sự nỗ lực cố gắng của bản thân, tôi đã
nhận được rất nhiều sự giúp đỡ, quan tâm nhiệt tình từ tập thể, cá nhân trong và
ngoài trường.
Trước tiên tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sự tri ân sâu sắc tới các thầy,
cô giáo của Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội nói chung và các
thầy cô giáo trong khoa Môi trường nói riêng đã tận tình giảng dạy, truyền đạt cho
tôi những kiến thức, kinh nghiệm quý báu trong suốt thời gian qua.
Đặc biệt tôi xin gửi lời cảm ơn tới cô giáo Th.S Nguyễn Hà Linh - giảng viên
trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội đã tận tình giúp đỡ, trực tiếp chỉ
bảo, hướng dẫn tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành đề tài tốt nghiệp
này.
Đồng thời, tôi xin chân thành cảm ơn tới cán bộ phòng Tài nguyên và Môi
trường Sở TNMT Hà Tĩnh, cán bộ TNMT của ba phường trên địa bàn Bắc Hà, Nam
Hà, Nguyễn Du. Cùng toàn thể bác sỹ, hộ lý, y tá, cán bộ khoa Kiểm Soát Nhiễm
Khuẩn bệnh viện Đa khoa Tỉnh, Đa Khoa Thành Phố đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ
tôi hoàn thành đề tài này.
Cuối cùng tôi xin gửi tới lời cảm ơn tới gia đình, người thân và bạn bè đã động
viên tôi trong suốt quá trình hoàn thành đề tài.
Trong quá trình thực hiện đề tài, do điều kiện về thời gian, trình độ nghiên cứu
còn hạn chế nên khi thực hiện đề tài khó tránh khỏi những thiếu sót. Vì vậy, tôi
mong nhận được sự quan tâm, đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo và các bạn sinh
viên để khóa luận tốt nghiệp này được hoàn thiện hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn.!
1S
1
LỜI CAM ĐOAN
1S
3
DANH MỤC HÌNH VẼ
1S
4
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
1S
5
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CTRYT
CTYT
CTRYT NH
WHO
BV ĐK
ĐK
TX
Chất thải rắn y tế
khu vực, 262 trạm y tế và một số phòng khám chữa bệnh tư nhân hàng ngày thải ra
môi trường một lượng lớn chất thải rắn các loại[3]. Theo con số thống kê hàng năm
của Sở Tài Nguyên và Môi Trường Tỉnh Hà Tĩnh tất cả các bệnh viện, trạm y tế trên
toàn tỉnh có tổng lượng chất thải rắn y tế nguy hại phát sinh khoảng 136 tấn/năm,
trong đó khối lượng chất thải rắn y tế nguy hại được xử lý là 115 tấn/năm, đạt
84,1%. Còn lại 16% chất thải y tế phát sinh tại các trạm y tế xã, phường, phòng
khám tư nhân hầu như chưa thu gom xử lý đúng quy định xả thải trực tiếp ra môi
trường. Thành Phố Hà Tĩnh nói riêng có: Bệnh viện đa khoa tỉnh, Bệnh viện Thành
phố và các cơ sở y tế là nơi chăm sóc sức khỏe chính cho người dân trên địa bàn.
Hằng ngày, bệnh viện tiếp nhận hàng trăm bệnh nhận thăm khám điều trị cho nên
lượng chất thải thải phát sinh là tương đối lớn. Đặc biệt tính chất nguy hại của chất
thải y tế đối với môi trường và sức khỏe con người nên việc quản lý, xử lý triệt để
nguồn chất thải này còn gặp nhiều khó khăn và chưa có giải pháp tối ưu cho vấn đề
này.
Xuất phát từ thực tế trên, đề tài “ Đánh giá hiện trạng và đề xuất giải pháp
nâng cao hiệu quả quản lý chất thải rắn y tế tại các cơ sở y tế trên địa bàn
Thành phố Hà Tĩnh, Tỉnh Hà Tĩnh”được thực hiện nhằm đánh giá hiện trạng
phát sinh, tìm hiểu công tác quản lý, từ đó đưa ra những giải pháp hiệu quả nhất đối
với chất thải y tế trên địa bàn Thành phố Hà Tĩnh.
2. Mục tiêu nghiên cứu
-
Đánh giá hiện trạng quản lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện Đa khoa tỉnh, bệnh viện
-
thành phố và trạm xá phường: Bắc Hà, Nguyễn Du, Nam Hà.
Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện Đa khoa
tỉnh, bệnh viện thành phố và trạm xá phường: Bắc Hà, Nguyễn Du, Nam Hà.
1S
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 TỔNG QUAN VỀ CHẤT THẢI RẮN Y TẾ
1.1.1 Khái niệm về chất thải rắn y tế
- Chất thải y tế: là vật chất ở thể rắn, lỏng và khí được thải ra từ các cơ sở y tế
bao gồm chất thải y tế nguy hại và chất thải thông thường.
- Chất thải y tế nguy hại: là chất thải y tế chứa yếu tố nguy hại cho sức khỏe
con người và môi trường như dễ lây nhiễm, gây ngộ độc, phóng xạ, dễ cháy, dễ nổ,
dễ ăn mòn hoặc có đặc tính nguy hại khác nếu những chất thải này không được tiêu
hủy an toàn.
- Quản lý chất thải y tế: là hoạt động quản lý việc phân loại, xử lý ban đầu, thu
gom, vận chuyển, lưu giữ, giảm thiểu, tái sử dụng, tái chế, xử lý, tiêu hủy chất thải
y tế và kiểm tra, giám sát việc thực hiện.[7]
1.1.2 Phân loại
Căn cứ vào các đặc điểm lý học, hóa học, sinh học và tính chất nguy hại, chất
thải trong các cơ sở y tế được phân thành 5 nhóm sau:
- Chất thải lâm sàng:
+ Chất thải sắc nhọn (Loại A): Là chất thải có thể gây ra các vết cắt hoặc chọc
thủng, có thể nhiễm khuẩn, bao gồm: bơm kim tiêm, đầu sắc nhọn của dây truyền,
lưỡi dao mổ, đinh mổ, cưa, các ống tiêm, mảnh thủy tinh vỡ và các vật sắc nhọn
khác sử dụng trong các hoạt động y tế.
+ Chất thải lây nhiễm không sắc nhọn (Loại B): Là chất thải bị thấm máu,
thấm dịch sinh học của cơ thể và các chất thải phát sinh từ buồng bệnh cách ly.
+ Chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao (Loại C): Là chất thải phát sinh trong
các phòng xét nghiệm như: bệnh phẩm và dụng cụ đựng, dính bệnh phẩm.
+ Chất thải giải phẫu (Loại D): Bao gồm các mô, cơ quan, bộ phận cơ thể
người: rau thai, bào thai và xác động vật thí nghiệm.
1S
1S
10
1.1.3 Các tác hại của chất thải rắn y tế nguy hại
1.1.3.1 Đối với sức khỏe con người
Các loại hình rủi ro:[1]
Việc tiếp xúc với các chất thải y tế có thể gây nên bệnh tật hoặc tổn thương.
Khả năng gây rủi ro từ chất thải y tế có thể do một hoặc nhiều đặc trưng cơ bản sau:
+ Chất thải y tế chứa đựng các yếu tố truyền nhiễm, là tác nhân nguy hại có
trong chất thải y tế.
+ Các loại hóa chất dược phẩm có thành phần độc, tế bào nguy hiểm.
+ Các chất chứa đồng vị phóng xạ.
+ Vật sắc nhọn có thể gây tổn thương.
Chất thải có yếu tố ảnh hưởng tâm lý xã hội.
- Những đối tượng có thể tiếp xúc với nguy cơ:
Tất cả mọi cá nhân tiếp xúc với chất thải y tế nguy hại là những người có nguy
cơ tiềm tàng, bao gồm những người làm trong bệnh viện, những người trực tiếp làm
nhiệm vụ thu gom, phân loại chất thải y tế và những người bệnh nhân trong bệnh
viện bị phơi nhiễm với chất thải do hậu quả của sự bất cẩn và tắc trách trong khâu
quản lý và kiểm soát chất thải.
- Nguy cơ từ chất thải truyền nhiễm và các vật sắc nhọn:
Các vật thể trong thành phần chất thải y tế chứa đựng một lượng lớn các tác
nhân vi sinh vật gây bệnh truyền nhiễm như tụ cầu, HIV, viêm gan B. Các tác nhân
này có thể thâm nhập vào cơ thể người thông qua các hình thức sau:
Qua da, qua một vết thương, trầy xước hoặc vết cắn trên da do vật sắc nhọn
thai, máu...
1.1.3.2 Đối với môi trường
- Đối với môi trường đất:
Khi chất thải y tế được chôn lấp không đúng cách thì các vi sinh vật gây bệnh
hóa chất độc hại có thể ngấm vào đất gây nhiễm độc đất làm cho việc tái sử dụng
bãi chôn lấp gặp khó khăn...
- Đối với môi trường không khí:
Chất thải bệnh viện từ khi phát sinh đến khâu xử lý cuối cùng đều gây ra
những tác động xấu đến môi trường không khí. Khi phân loại tại nguồn, vận chuyển
chúng phát tán bụi, bào tử vi sinh vật gây bệnh, hơi dung môi, hóa chất... vào không
khí. Ở khâu xử lý (đốt, chôn lấp) phát sinh ra các khí độc hại HX, NOx, đioxin,
1S
12
furan... từ lò đốt và CH4, NH3, H2S... từ bãi chôn lấp. Các khí này nếu không được
thu hồi và xử lý sẽ gây ảnh hưởng xấu tới sức khỏe cộng đồng dân cư xung quanh.
- Đối với môi trường nước:
Khi chôn lấp chất thải y tế không đúng kỹ thuật và không hợp vệ sinh. Đặc
biệt là chất thải y tế được chôn lấp chung với chất thải sinh hoạt có thể gây ô nhiễm
nguồn nước ngầm.[8]
1.1.4 Một số văn bản quy phạm pháp luật của nước ta có liên quan đến việc
quản lý và xử lý chất thải y tế
Môi trường có tầm quan trọng đặc biệt gắn liền với sự sống, sự phát triển bền
vững về kinh tế xã hội của mỗi quốc gia, dân tộc, mỗi gia đình và mỗi con người.
Nhận thức được tầm quan trọng cũng như vai trò đặc biệt của môi trường, nhà nước
đã đề ra các văn bản luật, nghị định, thông tư liên quan đến môi trường và vấn đề
quản lý chất thải rắn y tế có hiệu lực thi hành như:
+ Luật bảo vệ môi trường năm 2014: số 55/2014/QH13
tế do tăng nhu cầu về khám chữa bệnh đồng nghĩa với việc tăng khối lượng chất
thải y tế cần phải xử lý.
- Phát sinh chất thải rắn y tế
Nguồn phát sinh chất thải y tế chủ yếu là bệnh viện, các cơ sở y tế như: trung
tâm vận chuyển cấp cứu, phòng khám sản phụ khoa, nhà hộ sinh, phòng khám ngoại
trú, trung tâm lọc máu.. ;các trung tâm xét nghiệm và nghiên cứu y sinh học; ngân
hàng máu... Hầu hết các CTR y tế đều có tính chất độc hại và tính đặc thù khác với
các loại CTR khác. Các nguồn xả chất lây lan độc hại chủ yếu là các khu vực xét
nghiệm, khu phẫu thuật, bào chế dược.
Lượng phát sinh chất thải y tế theo nghiên cứu điều tra mới nhất của Cục
Khám chữa bệnh – Bộ Y tế và Viện kiến trúc, Quy hoạch Đô thị và Nông thôn – Bộ
Xây dựng, năm 2009-2010, tổng lượng chất thải rắn y tế trong toàn quốc khoảng
100 – 140 tấn/ ngày, trong đó có 16 – 30 tấn/ ngày là chất thải y tế nguy hại. Lượng
CTR trung bình là 0,86 kg/giường/ngày, trong đó CTR y tế nguy hại tính trung bình
là 0,14 – 0,2 kg/giường/ngày.
Chất thải y tế phát sinh ngày càng gia tăng ở hầu hết các địa phương, xuất phát
từ một số nguyên nhân như: gia tăng số lượng cơ sở y tế và tăng số giường bệnh;
tăng cường sử dụng các sản phẩm dùng một lần trong y tế; dân số gia tăng, người
dân ngày càng được tiếp cận nhiều hơn với dịch vụ y tế.
- Phân loại, thu gom và vận chuyển chất thải rắn y tế
1S
14
Công tác thu gom, lưu trữ CTR y tế nói chung đã được quan tâm bởi các cấp
từ Trung ương đến địa phương, thể hiện ở mức độ thực hiện quy định ở các bệnh
viện khá cao.
Chất thải y tế phát sinh từ các cơ sở khám chữa bệnh trực thuộc sự quản lý của
Trên địa bàn toàn tỉnh Hà Tĩnh hiện có 19 bệnh viện (tỉnh 6, huyện thị 12 và
01 bệnh viện tư nhân), 10 phòng khám đa khoa khu vực, 262 trạm y tế và một số
phòng khám chữa bệnh tư nhân hàng ngày thải ra môi trường một lượng lớn chất
thải rắn các loại. Theo con số thống kê hàng năm tất cả các bệnh viện, trạm y tế
trong toàn tỉnh tổng lượng nước thải y tế phát sinh 412.450 m3/năm.
Tổng khối lượng chất thải rắn phát sinh tại các cơ sở y tế trên địa bàn là
1518tấn/năm. Trong đókhối lượng chất thải y tế nguy hại phát sinh khoảng 136
tấn/năm, chiếm9% trên tổng khối lượng chất thải rắn phát sinh. 81% còn lại là chất
thải rắn sinh hoạt. [3]
Khối lượng chất thải rắn y tế nguy hại được xử lý là 115 tấn/năm, đạt
84,1%.Ngoài ra, 16% chất thải y tế còn lại phát sinh tại các trạm y tế xã, phường,
phòng khám tư nhân hầu như chưa được quan tâm quản lý. Việc thu gom, phân loại
và xử lý diễn ra không đúng quy định chính là nguyên nhân chất thải rắn y tế nguy
hại đưa trực tiếp ra môi trường gây hậu quả nghiêm trọng.
- Hiện trạngphân loại CTR tại các cơ sở y tế
+ Các cơ sở đều phân loại, thu gom theo quy định của bộ y tế. Chất thải sinh
hoạt đựng trong túi nilon màu xanh, CTR sinh hoạt y tế đựng trong túi nilon màu
vàng, CTR sinh hoạt y tế nguy hại đựng trong túi nilon màu vàng, đen.
+ Đối với CTR sinh hoạt các cơ sở y tế đề tự thu gom và thuê công ty TNHH
Môi trường đô thị Hà Tĩnh vận chuyển hằng ngày và xử lý tại bãi chôn lấp của
thành phố.
+ Chất thải rắn có thể tái chế như chai lọ, giấy, nhựa... đều do các nhân viên
của bệnh viện tự thu gom để bán cho các cơ sở tái chế.
- Hiện trạng về trang thiết bị thu gom, vận chuyển CTR y tế.
+ Bệnh viện tuyến tỉnh: 6/6 bệnh viện trang bị xe thu gom chất thải trong bệnh
viện. Do được các cấp quan tâm và đầu tư nên hầu hết các bệnh viện tuyến trên đều
thực hiện phân loại chất thải rắn sinh hoạt và trạng bị đầy đủ các thiết bị lưu chứa
riêng từng loại chất thải như thùng chứa, túi nilon khác màu, xô, hộp đựng vật sắc
nhọn...nhưng còn thiếu so với nhu cầu hiện tại.
1S
hình thấp, bằng phẳng, đất đai được tạo thành do bồi tích sông, biển, độ cao từ 0,5m
– 3m
Là địa bàn trung tâm, có vị trí đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển kinh tế
- xã hội, quốc phòng - an ninh của Tỉnh Hà Tĩnh.
1.3.1.3 Khí hậu:
Thành Phố Hà Tĩnh được che chắn bởi ngọn Rào Cỏ thuộc Trường Sơn Bắc
phía Tây Hươg Khê nên ít bị ảnh hưởng bởi gió Lào. Thời tiết có hai mùa rõ rệt từ
tháng 11 đến tháng 4, mùa khô nóng từ tháng 5 đến tháng 10, nhiệt độ trung bình
23-240C, độ ẩm không khí 85-86%. Lượng mưa trung bình hằng năm là 2.661mm.
1S
18
1.3.2 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ CÁC CƠ SỞ Y TẾ TRÊN ĐỊA BÀN
THÀNH PHỐ HÀ TĨNH
1.3.2.1 Tuyến tỉnh: Bệnh viện Đa khoa Tỉnh
Bệnh viện Đa khoa Tỉnh được thành lập theo quyết định số 113/QĐ-UB ngày
05 tháng 08 năm 1989 của Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Tĩnh. Bệnh viện được xây
dựng và đưa vào sử dụng từ tháng 5 năm 1997. Nhiệm vụ chính của bệnh viện là
phục vụ, chăm sóc sức khỏe khám chữa bệnh cho nhân dân trong tỉnh.
Bệnh viện Đa khoa Tỉnh thuộc phường Bắc Hà nằm trong khu vực trung tâm
của Thành phố, có địa hình tương đối bằng phẳng, thuận lợi cho thiết kế xây dựng
và phục vụ đi lại.
- Phía Đông : Giáp đường Xuân Diệu;
- Phía Tây
: Giáp đường Lê Ninh;
- Phía Nam : Giáp đường Hải Thượng Lãn Ông;
Do đó, từng bước cao tầng hóa các công trình và tự động hóa các dịch vụ
trong các khu nhà bệnh viện là một làm hết sức cần thiết để đáp ứng được công suất
hiện tại cũng như lâu dài về sau.
Bệnh viện là đơn vị kỹ thuật cao nhất ngành y tế Hà Tĩnh. Trong những năm
qua bệnh viện đã có nhiều đóng góp lớn trong công tác khám và điều trị cho bệnh
nhân trên địa bàn toàn tỉnh cũng như hỗ trợ chuyên môn cho các đơn vị khác trong
toàn ngành. Hiện nay, đội ngũ cán bộ chuyên môn cũng như cơ sở vật chất ở bệnh
viện đang được bổ sung, đào tạo, nâng cấp nhằm đáp ứng nhiệm vụ trước mắt cũng
như lâu dài.
Qua các năm số lượng bệnh nhân ngày càng tăng lên cho thấy vai trò và năng
lực của bệnh viện cũng như niềm tin của bệnh nhân đối với bệnh viện Đa Khoa
Tỉnh. Điều này được thể hiện rõ qua các báo cáo tổng kết cuối năm của bệnh viện
trong những năm qua.
Bảng 1.1: Số lượng bệnh nhân đến thăm khám và điều trị nội trú
Năm
Số bệnh nhân đến thăm khám (người)
Số bệnh nhân điều trị nội trú (người)
2013
110000
36000
2014
115000
45000
2015
131500
53800
cho hơn 400 lượt bệnh nhân.
Sơ đồ cơ cấu tổ chức được thể hiện như sau:
- Lãnh đạo bệnh viện: Giám đốc và 3 phó giám đốc
- Có 5 phòng chức năng bao gồm: Phòng Tổ chức hành chính, Phòng kế hoạch
tổng hợp, Phòng Kế toán Tài chính, Phòng Điều Dưỡng
- Có 8 khoa bao gồm: Khoa khám bệnh, Khoa Nội – Đông Y, Khoa Ngoại – 3
chuyên khoa, Khoa Sản, Khoa Nhi - Hồi sức cấp cứu, Khoa chuẩn đoán chỉnh ảnh Cận lâm sàng, Khoa Dược.
Trong đó Khoa chống nhiễm khuẩn chịu trách nhiệm giám sát điều hành hoạt
động của hệ thống quản lý chất thải và trực tiếp chịu trách nhiệm trước giám đốc
bệnh viện.
1S
21
- Các trưởng khoa: chịu trách nhiệm về giám sát việc phân loại, bảo quản chất
thải phát sinh trong khoa.Đảm bảo mọi nhân viên trong khoa biết được các quy
định, quy trình về phân loại, thu gom và lưu giữ chất thải.
- Trưởng phòng điều dưỡng: Phối hợp với trưởng khoa chống nhiễm khuẩn
xây dựng và thực hiện chương trình đào tạo, tập huấn cho nhân viên điều dưỡng, hộ
lý, nhân viên mới.
- Hộ lý các khoa: Bố trí thùng chứa chất thải đúng vị trí quy định, tập trung
chất thải, thu gom chất thải rơi vãi, cọ rửa thùng đựng thải.
- Nhân viên thu gom chất thải bệnh viện: Vận chuyển chất thải bằng xe đẩy từ
các khoa tới nơi lưu giữ chất thải chung của bệnh viện.
1.3.2.3 Tuyến xã: Trạm xá Phường Bắc Hà, Nguyễn Du, Nam Hà.
- Các trạm xá trên thuộc đơn vị hành chính và sự quản lý của 3 phường Bắc
Hà, phường Nam Hà, phường Nguyễn Du.
- Chức năng chính: cung cấp, thực hiện các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ ban
đầu cho nhân dân trên địa bàn xã.
Gồm 10 phòng
Gồm 7 phòng:
- Phòng Trực
- Phòng Hành Chính
- Phòng Hành Chính
- Phòng Tiêm
- Phòng Trạm Trưởng
-
- Phòng Truyền thống GD
- Quầy Thuốc
Trưởng
- Phòng trạm trưởng
- Phòng Tiêm
- Phòng Điều dưỡng
- Quầy thuốc
Chức
năng
nhiệm vụ
- Phòng Tư vấn
5
5
5
- Bác sỹ đa khoa
- Bác sỹ đa khoa
- Bác sỹ đa khoa
- Điều dưỡng tổng hợp
- 2 Y tá tổng hợp
- Điều dưỡng tổng
- Nữ hộ sinh tổng hợp
- 2 nữ hộ sinh
hợp
và người nhà bệnh nhân; cán bộ môi trường bệnh viện; cán bộ quản lý môi trường
địa phương.
- Phạm vi và địa điểm nghiên cứu:
- Đề tài tập trung nghiên cứu 3 địa điểm đại diện cho 3 tuyến cơ sở y tế tại địa
bàn Thành phố Hà Tĩnh:
+ Tuyến tỉnh: Bệnh viện Đa khoa Tỉnh
+ Tuyến huyện: Bệnh viện Đa khoa Thành Phố
+ Tuyến xã: Trạm xá phường Bắc Hà, Nguyễn Du, Nam Hà.
2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.2.1 Phương pháp thu thập và kế thừa số liệu
- Thu thập từ ban thống kê tỉnh Hà Tĩnh, Phòng môi trường Tỉnh và các tài
liệu liên quan đến đề tài nghiên cứu tại các phòng ban của các bệnh viện.
- Các văn bản, sách báo, tạp chí, các luận văn, các báo cáo, và một số tài liệu
được tìm trên mạng internet có liên quan đến đề tài chất thải rắn y tế.
Từ những số liệu đã thu thập, khảo sát được, sử dụng các phần mềm, các thuật
toán thống kê, tính toán, lập biểu đồ,… đưa ra nhận xét đánh giá chung về hiện
trạng môi trường và công tác quản lý chất thải rắn y tế tại một số cơ sở y tế trên địa
bàn.
2.2.2 Phương pháp thống kê mô tả
- Thông qua việc sử dụng các chỉ số về thực trạng phát sinh chất thải y tế:
Tổng lượng chất thải rắn y tế/năm; Khối lượng chất thải y tế (kg)/giường
bệnh/ngày; Khối lượng chất thải rắn y tế nguy hại (kg)/giường bệnh/ngày; Tỷ lệ %
chất thải rắn y tế nguy hại/chất thải rắn y tế. Từ đó có thể nắm bắt được thông tin và
phân tích về thực trạng phát sinh chất thải rắn y tế của bệnh viện.
2.2.3 Phương pháp phỏng vấn:
1S
24