Luận văn đấu giá tài sản trong hoạt động thương mại - Pdf 51

Đề tài: Đấu giá hàng hóa trong hoạt động thương mại- Những vấn đề lý luận và thực tiễn

1. Lý do chọn đề tài
Qua gần ba mươi năm đổi mới, Việt Nam đã và đang từng bước phát triển kinh tế
hàng hóa nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của nhà nước,
định hướng xã hội chủ nghĩa. Trong điều kiện đời sống kinh tế - xã hội ngày càng phát
triển, cá nhân và tổ chức có quyền tự do kinh doanh theo quy định của pháp luật, có
quyền tự chủ, hợp tác và cạnh tranh trong hoạt động kinh doanh. Sự phát triển của nền
kinh tế thị trường, với sự đa dạng các thành phần kinh tế, đa dạng hình thức sở hữu và
loại hình doanh nghiệp đã thúc đẩy các giao dịch dân sự, thương mại trở nên phong phú,
đa dạng trong đó có hình thức đấu giá hàng hóa. Đấu giá hàng hóa được hiểu là một
phương thức đặc biệt trong hoạt động kinh tế, thương mại, được tổ chức công khai tại
một nơi nhất định. Tại đó, khi mua bán hàng hóa, người mua tự do cạnh tranh trả giá và
cuối cùng hàng sẽ được bán cho người nào trả giá cao nhất. Bản chất của hoạt động đấu
giá đó là một quan hệ mua bán mà trong đó người bán chỉ có một mà người mua lại rất
nhiều. Mọi người mua đều mong muốn có được hàng hóa đó, do vậy họ cạnh tranh giá
với nhau và làm cho giá của hàng hóa đó tăng lên. Cuối cùng người trả giá cao nhất
người đó sẽ mua được hàng.
Tuy nhiên, đấu giá hàng hóa ở Việt Nam là một hoạt động mới mẻ và ngày càng
phát triển không ngừng cả về loại hình và phương thức thực hiện. Trong những năm gần
đây xuất hiện nhiều loại hình đấu giá mới với các loại hàng hóa đặc thù như: Đấu giá
biển số xe, đấu giá thuê bao di động, đấu giá giấy tờ có giá như cổ phiếu ... đặc biệt là
đấu giá quyền sử dụng đất. Cùng với đó cũng xuất hiện nhiều hình thức đấu giá khác biệt:
đấu giá qua mạng, qua điện thoại... Bên cạnh đó thực tiễn cho thấy mặc dù có nhiều tiến
bộ song các quy định của pháp luật về đấu giá hàng hóa còn thiếu đồng bộ dẫn đến việc
hiểu và áp dụng không thống nhất ví dụ như: việc xác định quyền và nghĩa vụ, vấn đề
giải quyết tranh chấp, quản lý rủi ro trong đấu giá là rất phức tạp. Do đó chưa đáp ứng
được đòi hỏi của thực tiễn đời sống kinh tế.
Vì vậy để hiểu rõ hoạt động đấu giá người viết đã chọn đề tài “Đấu giá hàng hóa
trong hoạt động thương mại - Những vấn đề lý luận và thực tiễn” làm đề tài luận văn
tốt nghiệp của mình.

- Chương 2. Những quy định của pháp luật về đấu giá hàng hóa trong hoạt động
thương mại ở Việt Nam;
- Chương 3. Phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật thương mại về đấu
giá hàng hóa ở Việt Nam;
Kết luận;
Tài liệu tham khảo.

2


Đề tài: Đấu giá hàng hóa trong hoạt động thương mại- Những vấn đề lý luận và thực tiễn

CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CỦA PHÁP LUẬT VỀ ĐẤU GIÁ HÀNG HÓA
TRONG THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM
1.1. Khái niệm, đặc điểm và các nguyên tắc của đấu giá hàng hóa trong thương
mại
1.1.1 Khái niệm đấu giá hàng hóa
Theo quy định tại khoản 1 Điều 185 Luật thương mại 2005 thì “Đấu giá hàng hoá
là hoạt động thương mại, theo đó người bán hàng tự mình hoặc thuê người tổ chức đấu
giá thực hiện việc bán hàng hoá công khai để chọn người mua trả giá cao nhất”.
Như vậy, ta có thể hiểu đấu giá hàng hoá là một phương thức bán hàng đặc biệt,
trong đó, người bán tự mình hoặc thuê người tổ chức đấu giá thực hiện việc bán hàng hoá
công khai tại một địa điểm và thời gian đã thông báo trước để những người muốn mua
đến trả giá. Quyền mua hàng hoá sẽ thuộc về người trả giá cao nhất.
Những quy định liên quan đến đấu giá hàng hóa trong Luật thương mại năm 2005
nhằm phát triển hoạt động kinh doanh dịch vụ đấu giá hàng hóa, nâng cao hiệu quả và
hiệu lực pháp lý của hoạt động thương mại này. Song trên thực tế, hoạt động bán đấu giá
hàng hoá trong thương mại chưa thực sự phát triển mà chủ yếu là người bán hàng tự mình
thực hiện việc bán hàng hóa qua thỏa thuận.

và trách nhiệm của các bên. Bên cạnh đó còn có văn bản đấu giá hàng hóa – hợp đồng
mua bán hàng hóa, đây là cơ sở phát sinh quyền, nghĩa vụ của các bên liên quan bao gồm
bên bán, bên mua và cả bên kinh doanh đấu giá.
So với các phuơng thức bán hàng khác, thì bán đấu giá hàng hoá đem lại sự hài
lòng về lợi ích cho cả bên bán và bên mua. Ngoài ra, với phương thức bán hàng như thế
này đã tạo ra cơ hội bình đẳng cho tất cả những người muốn mua hàng cùng tham gia trả
giá một cách tự do theo khả năng của mình. Đồng thời, qua đó xác định được một mức
giá cạnh tranh có lợi nhất cho cả người bán lẫn người mua hàng.
Nhờ việc tổ chức bán đấu giá mà hàng hoá đem bán sẽ đến tay những người mua có
tiềm năng và hiểu đúng giá trị của chúng nhất. Bán đấu giá còn tập trung được cung và
cầu về các loại hàng hoá vào một thời gian và thời điểm nhất định, giúp cho việc xác lập
quan hệ mua bán diễn ra nhanh chóng. Nếu hình thành được những thị trường bán đấu
giá chuyên nghiệp thì sẽ là động lực rất tốt để thúc đẩy quan hệ trao đổi thương mại phát
triển, nhất là với các quốc gia có những mặt hàng thế mạnh của mình. 2
Tóm lại, đấu giá hàng hoá là một quy trình phức tạp, có những đặc điểm chung của
một hoạt động thương mại nhưng cũng tồn tại những điểm riêng về bản chất pháp lý.
1.1.3 Các phương thức đấu giá hàng hóa
Đấu giá hàng hóa là một quy trình khá phức tạp, quy trình này có thể tiến hành theo
nhiều hình thức khác nhau và tùy thuộc vào đối tượng hàng hóa, mục đích và điều kiện tổ
chức cuộc bán đấu giá. Căn cứ vào hình thức đấu giá có các phương thức sau
- Căn cứ vào phương thức xác định giá có: Đấu giá theo phương pháp nâng giá;
Đấu giá theo phương pháp hạ giá.
- Căn cứ vào hính thức biểu đạt trong cuộc bán đấu giá có: Đấu giá dùng lời nói;
Đấu giá không dùng lời nói.3
Theo Khoản 2 Điều 185 Luật Thương mại 2015 thì việc đấu giá hàng hóa thực hiện
theo một trong hai phương thức sau đây:
- Đấu giá theo phương thức trả giá lên: là phương thức bán đấu giá, theo đó người
trả giá cao nhất so với giá khởi điểm là người có quyền mua hàng.

2

được bán cho người mua chấp nhận ngay giá khởi điểm hoặc ở một mức giá nhất định
thấp hơn giá khởi điểm của hàng hóa.
Đấu giá theo phương thức đặt giá xuống bắt nguồn từ Hà Lan, người ta còn gọi đấu
giá theo phương thức Hà Lan. Ưu điểm của phương thức này chỉ đấu giá đối với loại
hàng hóa nhất định, thường là hàng hóa giống nhau, có số lượng lớn và mau hỏng. Do
tính chất của hàng hóa đấu giá mà phương thức đặt giá xuống thường do các nhà tổ chức
đấu giá lớn và chuyên nghiệp thực hiện.
Cuộc đấu giá được tổ chức công khai, hàng hóa được trưng bày tạo điều kiện cho
người tham gia xem xét, đánh giá hàng hóa. Mức độ cạnh tranh trong mua bán hàng hóa
của phương thức đặt giá xuống phụ thuộc vào mức đặt giá giảm của người mua. Tuy
nhiên, phương thức này có nhiều hạn chế vì nó khó tổ chức và chỉ được đảm bảo diễn ra
trong một thời gian ngắn. Vì vậy, số lượng người tham gia thường ít và khó xác định
được giá trị thực của hàng hóa đấu giá.
Hình thức này chỉ áp dụng đối với một số loại hàng hóa và thực sự nó không hấp
dẫn với cả người mua lẫn người bán hàng. Người mua do tâm lí luôn lo sợ để tuột mất cơ
hội mua hàng vào tay người khác nên vội vàng chấp nhận mức giá mà chưa chắc đã hợp
5


Đề tài: Đấu giá hàng hóa trong hoạt động thương mại- Những vấn đề lý luận và thực tiễn

lý. Còn người bán thì cũng không được cảm thấy thỏa mãn về giá cả vì rất ít khi có người
mua nào chấp nhận ngay mức giá khởi điểm.
1.1.4 Các nguyên tắc của đấu giá hàng hóa
Theo quy định tại điều 188 Luật htương mại 2005 thì “Việc đấu giá hàng hoá trong
thương mại phải được thực hiện theo nguyên tắc công khai, trung thực, bảo đảm quyền,
lợi ích hợp pháp của các bên tham gia”.
Trong đấu giá hàng hóa cần tuân thủ các nguyên tắc cơ bản đó là:
1.1.4.1 Nguyên tắc công khai
Đấu giá là hình thức công khai lựa chọn người mua hàng hóa nên mọi vấn đề có


1.1.4.3 Nguyên tắc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tham gia
Quyền và lợi ích hợp pháp của tất cả các bên trong quan hệ đấu giá hàng hóa đều
phải được coi trọng và bảo đảm đầy đủ. Người bán hàng có quyền xác định giá khởi điểm
của hàng hóa, có quyền yêu cầu tổ chức bán đấu giá thanh toán đầy đủ tiền bán hàng hóa
ngay sau khi cuộc đấu giá kết thúc, được bồi thường thiệt hại nếu tổ chức bán đấu giá
hoặc bên mua có hành vi xâm hại đến lợi ích của mình.
Người mua hàng có quyền xem hàng hóa, yêu cầu cung cấp đầy đủ thông tin về
hàng hóa, được tự đặt giá, được xác lập quyền sở hữu đối với hàng hóa sau khi hoàn
thành văn bản đấu giá và họ đã thực hiện xong nghĩa vụ thanh toán.
Tổ chức bán đấu giá được thu của người bán hàng thù lao dịch vụ và các khoản chi
phí cần thiết khác cho việc tổ chức bán đấu giá theo quy định của pháp luật.
1.2 Phân biệt đấu giá hàng hóa với đấu thầu hàng hóa, dịch vụ
Đấu giá hàng hóa hay đấu thầu hàng hóa, dịch vụ về mặt cơ bản đều là một hoạt
động thương mại và có những điểm tương đối giống nhau là cùng mục đích cạnh tranh
lành mạnh giữa các chủ thể với nhau để đạt được lợi ích nhất định nào đó như là cạnh
tranh công khai về giá cả, quyền và lợi ích của các chủ thể....Đồng thời, hai khái niệm về
đấu giá và đấu thầu hoàn toàn trái ngược nhau, một bên với vai trò là người bán, bên với
vai trò là người mua, đối tượng tham gia vào hoạt động là người đi mua hay là người đi
bán và về giá cả của hàng hóa đem ra bán, mua...
Tại khoản 1 Điều 185 của Luật thương mại 2005 “Đấu giá hàng hoá là hoạt động
thương mại, theo đó người bán hàng tự mình hoặc thuê người tổ chức đấu giá thực hiện
việc bán hàng hoá công khai để chọn người mua trả giá cao nhất”. Còn đấu thầu hàng
hóa, dịch vụ được định nghĩa theo Luật Thương mại 2005 tại khoản 1 Điều 214 “Đấu
thầu hàng hoá, dịch vụ là hoạt động thương mại, theo đó một bên mua hàng hoá, dịch vụ
thông qua mời thầu (gọi là bên mời thầu) nhằm lựa chọn trong số các thương nhân tham
gia đấu thầu (gọi là bên dự thầu) thương nhân đáp ứng tốt nhất các yêu cầu do bên mời
thầu đặt ra và được lựa chọn để ký kết và thực hiện hợp đồng (gọi là bên trúng thầu)”.
Qua hai khai niệm trên ta có thể hiểu về hoạt động đấu giá hàng hóa là hoạt động
lựa chọn được người mua với giá cao nhất, còn đấu thầu hàng hóa, dịch vụ là việc lựa

- Người tổ chức đấu giá: phải là thương nhân có đăng ký kinh doanh dịch vụ đấu
giá hay người bán hàng của mình tự tổ chức đấu giá (người tổ chức đấu giá có thể là
thương nhân hoặc không).
- Người bán hàng là chủ sở hữu hàng hóa, người được chủ sở hữu hành hóa ủy
quyền bán hoặc người có quyền bán hàng hóa của người khác theo quy định của pháp
luật.
- Người tham gia đấu giá là tổ chức, cá nhân đăng ký tham gia cuộc đấu giá.
- Người điều hành đấu giá là người tổ chức đấu giá hoặc người được tổ chức đấu
giá ủy quyền điều hành bán đấu giá.
Trừ trường hợp sau không được tham gia đấu giá:5
- Người không có năng lực hành vi dân sự, người mất năng lực hành vi dân sự,
người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự theo Bộ luật dân sự hoặc người tại thời điểm
đấu giá không nhận thức, làm chủ được hành vi của mình
- Những người làm việc trong tổ chức bán đấu giá hàng hoá; cha, mẹ, vợ, chồng,
con của những người đó.
4
5

Luật thương mại 2005, Điều 186,187.
Luật thương mại 2005, Điều 198.

8


Đề tài: Đấu giá hàng hóa trong hoạt động thương mại- Những vấn đề lý luận và thực tiễn

- Người đã trực tiếp thực hiện việc giám định hàng hoá bán đấu giá; cha, mẹ, vợ,
chồng, con của người đó.
- Những người không có quyền mua hàng hoá đấu giá theo quy định pháp luật.
Qua trên ta có thể thấy sẽ có sự xuất hiện của tổ chức trung gian, chính là người tổ

Luật thương mại 2005, Điều 217.
8
Luật thương mại 2005, Điều 218.
9
Luật thương mại 2005, Điều 185, khoản 2.
7

9


Đề tài: Đấu giá hàng hóa trong hoạt động thương mại- Những vấn đề lý luận và thực tiễn

- Căn cứ vào hình thức đấu thầu, gồm có:10
+ Đấu thầu rộng rãi là hình thức đấu thầu mà bên mời thầu không hạn chế
số lượng các bên dự thầu.
+ Đấu thầu hạn chế là hình thức đấu thầu mà bên mời thầu chỉ mời một số
nhà thầu nhất định dự thầu.
- Căn cứ vào phương thức đấu thầu, gồm có:11
+ Đấu thầu một túi hồ sơ. Trong trường hợp này thì bên dự thầu phải nộp
nộp hồ sơ dự thầu gồm đề xuất về kỹ thuật, đề xuất về tài chính trong một túi hồ sơ theo
yêu cầu của hồ sơ mời thầu và việc mở thầu được tiến hành một lần.
+ Đấu thầu hai túi hồ sơ thì bên dự thầu nộp hồ sơ dự thầu gồm đề xuất về
kỹ thuật, đề xuất về tài chính trong từng túi hồ sơ riêng biệt được nộp trong cùng một
thời điểm và việc mở thầu được tiến hành hai lần. Hồ sơ đề xuất về kỹ thuật sẽ được mở
trước.
- Về Ý nghĩa
Ý nghĩa của đấu giá là
- Tạo ra sự bình đẳng và môi trường cạnh tranh công bằng khi tất cả người tham
gia trả giá đều có cơ hội ngang nhau.
- Giúp hàng hóa được đưa đến người mua tiềm năng và hiểu đúng giá trị, mục đích

Thứ nhất, Về bản chất pháp lý: cả đấu giá tài sản và đấu giá hàng hóa đều là hoạt
động mua bán thông qua trung gian. Trong quan hệ đấu giá, trừ trường hợp người bán
đấu giá (người có tài sản, hàng hóa) tự mình tổ chức đấu giá, các trường hợp khác, ngoài
bên bán, bên mua còn có sự tham gia của trung gian là người làm dịch vụ bán đấu giá.
Thứ hai, Về cách thức: Đấu giá hàng hóa và bán đấu giá tài sản đều được tổ chức
bán công khai, có nhiều người tham gia trả giá để cho những người có nhu cầu có thể
tham gia đấu giá mua hàng hóa hoặc tài sản.
Thứ ba, Về mục đích: Người bán đấu giá hàng hóa và bán đấu giá tài sản đều mong
muốn hàng hóa, tài sản của mình được bán với giá cao nhất.
Thứ tư, Về hình thức đấu giá: Đấu giá hàng hóa và bán đấu giá tài đều được thể
hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi (cử chỉ).
Thứ năm, Về hình thức của hợp đồng bán đấu giá: Hình thức pháp lý của đấu giá là
văn bản bán đấu giá. Văn bản bán đấu giá thực chất là hợp đồng mua bán được xác lập
giữa các bên liên quan.
1.3.2 Điểm khác nhau
TIÊU CHÍ
Luật điều
chỉnh

ĐẤU GIÁ HÀNG HÓA

ĐẤU GIÁ TÀI SẢN
Bộ luật dân sự 2005;

Luật Thương mại 2005

Nghị
định
17/2010/NĐ-CP
04/3/2010 của Chính phủ

Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất
hoặc cho thuê đất được bán đấu giá theo
quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm
quyền;
- Các tài sản khác phải bán đấu giá theo
quy định của pháp luật.
Người tổ chức bán đấu giá gồm:12

Người tổ chức đấu giá là:

Chủ thể tham
gia đấu giá

- Thương nhân có đăng ký - Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản;
kinh doanh dịch vụ đấu - Doanh nghiệp bán đấu giá tài sản, doanh
giá;
nghiệp hoạt động đa ngành nghề có kinh
- Hoặc là người bán hàng doanh dịch vụ bán đấu giá tài sản
của mình trong trường
hợp người bán hàng tự tổ
chức đấu giá.
Theo hai phương thức:

Không quy định rõ, tuy nhiên căn cứ vào
nội dung cũng như trình tự, thủ tục bán
đấu giá thì có thể nhận thấy rằng bán đấu
giá tài sản chỉ áp dụng một phương thức
duy nhất là trả giá lên. Và người trả giá
cao nhất, cao hơn hoặc ngang bằng với giá
khởi điểm là người được mua tài sản đấu

14
Nghị định 17/2010/NĐ-CP, Điều 29, Khoản 1.
13

12


Đề tài: Đấu giá hàng hóa trong hoạt động thương mại- Những vấn đề lý luận và thực tiễn

- Theo phương thức trả
giá lên: nếu người trả giá
cao nhất rút ngay lại giá
đã trả thì cuộc đấu giá vẫn
được tiếp tục từ giá của
người trả giá liền kề trước
đó.

Tại cuộc bán đấu giá tài sản, người đã
trả giá cao nhất mà rút lại giá đã trả
trước khi đấu giá viên điều hành cuộc
bán đấu giá công bố người mua được tài
sản thì cuộc bán đấu giá vẫn tiếp tục và
bắt đầu từ giá của người trả giá liền kề
trước đó. Trong trường hợp không có
Rút lại giá đã
trả khi đấu giá - Trường hợp theo phương người trả giá tiếp thì cuộc bán đấu giá
thức đặt giá xuống, nếu coi như không thành.
người đầu tiên chấp nhận
mức giá rút ngay lại giá đã
chấp nhận thì cuộc đấu giá

khi đấu giá viên tổ chức bốc thăm để chọn
ra người mua được tài sản bán đấu giá.

- Trong trường hợp người
mua được hàng hoá đấu
giá đã nộp một khoản tiền
đặt trước mà từ chối mua
thì không được hoàn trả
khoản tiền đặt trước đó. Trong trường hợp giá liền kề cộng với
Khoản tiền đặt trước đó khoản tiền đặt trước nhỏ hơn giá đã trả của
thuộc về người bán hàng. người từ chối mua thì cuộc bán đấu giá coi
như không thành.
Trong trường hợp người trả giá liền kề
không đồng ý mua thì cuộc bán đấu giá
13


Đề tài: Đấu giá hàng hóa trong hoạt động thương mại- Những vấn đề lý luận và thực tiễn

coi như không thành.15
Người mua hàng hóa bán
đấu giá được toàn quyền
sử dụng, định đoạt tài sản
Tài sản đã bán
khi thực hiện hết các
nghĩa vụ phiên đấu giá
hàng hóa.

Người có tài sản bán đấu giá chỉ được mua
lại tài sản bán đấu giá nếu người mua

hàng hóa. Đấu giá đã có mặt ở Việt Nam từ rất lâu nhưng chỉ tồn tại tản mạn, rời rạc ở
các văn bản dưới luật nên hình thức hoạt động còn khá yếu ớt. Các quy định về đấu giá
trong các lĩnh vực chuyên ngành tương đối đa dạng nhưng vẫn đậm tính chồng chéo, rời
15

Nghị định 17/2010/NĐ-CP, Điều 39.

14


Đề tài: Đấu giá hàng hóa trong hoạt động thương mại- Những vấn đề lý luận và thực tiễn

rạc hoặc trùng lắp.Vì vậy, việc xây dựng Luật đấu giá tài sản với những quy định mang
tính đột phá, đảm bảo tính thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật, phù hợp với tình
hình mới nhằm đáp ứng yêu cầu về xã hội hóa hoạt động bán đấu giá tài sản, phát triển
dịch vụ bán đấu giá tài sản chuyên nghiệp trong hệ thống các ngành dịch vụ ở nước ta,
góp phần hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, phát
triển kinh tế, xã hội của đất nước, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức cá nhân
là yêu cầu khách quan thực sự cần thiết.
1.5 Pháp luật Việt Nam về đấu giá hàng hóa qua các thời kỳ phát triển
1.5.1 Giai đoạn từ 1975 đến tháng 6/2005
Pháp luật về đấu giá hàng hóa trong thời kỳ này chỉ tập trung chủ yếu vào việc xử
lý hàng hóa thi hành án và các hàng hóa xử lý theo quyết định hành chính của cơ quan
nhà nước có thẩm quyền mà không có một khuôn khổ pháp lý chung cho hoạt động đấu
giá hàng hóa. Vì không có khuôn khổ pháp lý chung cho hoạt động đấu giá hàng hóa nên
cũng không hình thành các tổ chức bán đấu giá chuyên nghiệp. Ngoài cơ quan thi hành
án việc tổ chức đấu giá thường do cơ quan hành chính thực hiện theo cơ chế hội đồng
liên ngành. Tổ chức đấu giá hàng hóa trong lĩnh vực dân sự, thương mại thông thường
hầu như không được pháp luật quan tâm đến. Cụ thể:
- Pháp lệnh thi hành án dân sự ngày 28 tháng 8 năm 1989 (Pháp lệnh năm

về đấu giá ở nước ta bắt đầu hình thành một cách có hệ thống và từng bước được điều
chỉnh.
Các văn bản quy phạm pháp luật về đấu giá đã được xây dựng thống nhất, cụ thể,
tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động đấu giá được phát triển, đáp ứng được yêu cầu của sự
nghiệp phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Cụ thể:
- Luật quản lý và sử dụng tài sản nhà nước năm 2008;
- Luật kinh doanh bất động sản năm 2006; Luật kinh doanh bất động sản năm
2014;
- Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002 và Pháp lệnh sửa đổi bổ sung
một số điều của Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002; Luật xử lý vi phạm
hành chính 2012;
- Quyết định số 216/2005/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về bán đấu giá quyền
sử dụng đất để giao đất có thu tiền sử dụng đất hoặc cho thuê đất;
- Ngày 18/01/2005, Nghị định số 05/2005/NĐ-CP của Chính phủ về bán đấu giá tài
sản được ban hành thay thế Nghị định số 86/1996/CP.
- Nghị định số 159/2007/NĐ-CP ngày 30 tháng 10 năm 2007 về xử phạt vi phạm
hành chính trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản;
- Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29 tháng 10 năm 2004 về thi hành luật đất
đai; Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25 tháng 05 năm 2007 quy định bổ sung về việc
cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình
tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại
về đất đai;
- Thông tư liên tịch số 38/2004/TTLT/BTNMT-BNV ngày 31/12/2004 hướng dẫn
về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức của Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất
và Tổ chức phát triển quỹ đất.
- Nghị định số 17/2010/NĐ-CP ngày 04/3/2010 quy định về bán đấu giá tài sản.

16



bán đấu giá và các chi phí khác.17
Quyền và nghĩa vụ của người tổ chức đấu giá đã được xác định cụ thể trong Luật
thương mại 2005
Trừ trường hợp có thoả thuận khác, người tổ chức đấu giá có các quyền sau đây:18
- Yêu cầu người bán hàng cung cấp đầy đủ, chính xác, kịp thời các thông tin cần
thiết liên quan đến hàng hoá đấu giá, tạo điều kiện cho người tổ chức đấu giá hoặc người
tham gia đấu giá kiểm tra hàng hoá đấu giá và giao hàng hoá được bán đấu giá cho người
mua hàng trong trường hợp người tổ chức đấu giá không phải là người bán hàng đấu giá;
- Xác định giá khởi điểm trong trường hợp người tổ chức đấu giá là người bán hàng
đấu giá hoặc được người bán hàng uỷ quyền;
- Tổ chức cuộc đấu giá;
- Yêu cầu người mua hàng thực hiện việc thanh toán;
- Nhận thù lao dịch vụ đấu giá do người bán hàng trả theo quy định tại Điều 211 của
Luật thương mại 2005.
Về mức thù lao dịch vụ đấu giá hàng hóa là do thoả thuận. Tuy nhiên ta có thể tham
khỏa thêm Thông tư số 03/2012/TT-BTC ngày 05 tháng 01 năm 2012 của Bộ Tài chính
về hướng dẫn mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí đấu giá, phí tham gia đấu
giá và lệ phí cấp Chứng chỉ hành nghề đấu giá tài sản tại Điều 2 khoản 1 mà cụ thể là tại
Điều 4 Quyết định số 22/2012/QĐ-UBND ngày 17 tháng 9 năm 2012 của Ủy ban nhân
dân tỉnh Tiền Giang về ban hành quy định về mức thu, quản lý, sử dụng phí đấu giá, phí
tham gia đấu giá trên địa bàn tỉnh Tiền Giang chi tiết như sau:
TT

17
18

Giá trị tài sản bán được của
một cuộc bán đấu giá

Mức thu


Từ trên 10 tỷ đến 20 tỷ đồng

34,75 triệu + 0,15% giá trị tài sản bán được
vượt 10 tỷ

Từ trên 20 tỷ đồng

49,75 triệu + 0,1% giá trị tài sản bán được
vượt 20 tỷ. Tổng số phí không quá 300
triệu/cuộc đấu giá

5

Trường hợp bán đấu giá tài sản không thành thì trong thời hạn 7 ngày kể từ ngày
kết thúc phiên đấu giá, người có tài sản bán đấu giá, cơ quan thi hành án, cơ quan tài
chính thanh toán cho tổ chức bán đấu giá tài sản, Hội đồng bán đấu giá tài sản các chi phí
thực tế, hợp lý quy định tại Điều 43 Nghị định số 17/2010/NĐ-CP ngày 04/3/2010, (trừ
trường hợp các bên có thoả thuận hoặc pháp luật có quy định khác), cụ thể gồm các chi
phí sau:
- Chi phí niêm yết, thông báo công khai việc bán đấu giá;
- Chi phí tổ chức đăng ký mua tài sản bán đấu giá;
- Chi phí trưng bày, cho xem tài sản;
- Chi phí tổ chức phiên đấu giá;
- Những chi phí thực tế hợp lý khác.
Ở đây ta có thể thấy được pháp luật luôn tôn trọng sự thỏa thuận giữa các bên nhằm
bảo vệ quyền lợi và lợi ích hợp pháp và nếu không có được sự thỏa thuận thì lúc này mới
áp dụng theo quy định của pháp luật (thực thi pháp luật).
Song song với các quyền lợi có được thì người tổ chức đấu giá còn phải thực hiện
các nghĩa vụ sau:19

phải trả lại ngay hàng hoá trong thời hạn hợp lý sau cuộc đấu giá.
2.1.2 Người bán hàng
Theo khoản 2 Điều 186 Luật thương mại 2005 quy định: “Người bán hàng là chủ
sở hữu hàng hoá, người được chủ sở hữu hàng hoá uỷ quyền bán hoặc người có quyền
bán hàng hoá của người khác theo quy định của pháp luật”.
Người bán hàng chính là chủ sở hữu hàng hóa, đứng ra ký hợp đồng dịch vụ tổ
chức bán đấu giá hàng hóa với người tổ chức bán đấu giá hàng hóa hoặc người bán hàng
có thể là trung gian, làm công việc cầu nối giữ người có hàng hóa và người tổ chức bán
đấu giá hàng hóa. Trong trường hợp là một bên trung gian, người bán hàng hóa có thể
đóng vai trò thay mặt người có hàng hóa thiết lập các quan hệ với người tổ chức đấu giá
hàng hóa, vì quyền lợi của người có hàng, theo sự ủy quyền của người có hàng. Mặt
khác, người bán hàng hóa cũng có thể là những người không có quan hệ trực tiếp, không
nhận được sự đồng thuận của người có hàng hóa nhưng lại có quyền bán hàng hóa.
Quyền này có thể phát sinh từ những quan hệ pháp lý, những thỏa thuận trước đó giữa
người có quyền bán hàng hóa và chủ sở hữu hàng hóa hoặc có thể phát sinh theo quy
định của pháp luật.
Quyền của người bán hàng không phải là người tổ chức đấu giá:21
Trừ trường hợp có thoả thuận khác, người bán hàng có các quyền sau đây:
- Nhận tiền hàng đã bán đấu giá và khoản chênh lệch thu được trong trường hợp giá
bán hàng hoá thấp hơn giá mà người rút lại giá đã trả đối với phương thức trả giá lên
hoặc giá mà người rút lại việc chấp nhận đối với phương thức đặt giá xuống thì người đó
phải trả khoản tiền chênh lệch cho người tổ chức đấu giá, nếu hàng hoá bán được giá cao
hơn thì người rút lại không được hưởng khoản tiền chênh lệch đó hoặc nhận lại hàng hoá
trong trường hợp đấu giá không thành;
- Giám sát việc tổ chức bán đấu giá hàng hoá.

21

Luật thương mại 2005, Điều 191.


bán đấu giá; được quyền nhận lại tiền đặt trước trong trường hợp không mua được hàng
hóa; được quyền trả lại hàng hóa trong trường hợp hàng hóa không đúng với niêm yết,
thông báo; được quyền yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại đối với những sai sót thông tin về
hàng hóa của tổ chức bán đấu giá.
+ Nghĩa vụ: Đặt trước để đăng ký mua hàng theo yêu cầu của người tổ chức bán đấu
giá; tham gia trả giá; chịu mọi chi phí liên quan đến cuộc bán đấu giá nếu đã được chọn
là người mua hàng mà lại từ chối mua hàng dẫn đến cuộc bán đấu giá không thành.
22

Luật thương mại 2005, Điều 192.
Luật dân sự 2005, Điều 21.
24
Luật dân sự 2005, Điều 22.
25
Luật dân sự 2005, Điều 23.
23

21


Đề tài: Đấu giá hàng hóa trong hoạt động thương mại- Những vấn đề lý luận và thực tiễn

2.1.4 Người điều hành đấu giá
Theo khoản 2, Điều 187 Luật thương mại 2005 quy định “Người điều hành đấu giá
là người tổ chức đấu giá hoặc người được ngươi tổ chức đấu giá ủy quyền điều hành bán
đấu giá”.
Người điều hành đấu giá chính là người xuất hiện chủ yếu và điều khiển các phiên
bán đấu giá theo một trình tự được pháp luật quy định với những điều kiện bán hàng do
người bán hàng đưa ra. Họ có quyền, nghĩa vụ theo quy định của người tổ chức bán đấu
giá hàng hóa trong trường hợp người điều hành là người của tổ chức bán đấu giá, hoặc là

22


Đề tài: Đấu giá hàng hóa trong hoạt động thương mại- Những vấn đề lý luận và thực tiễn

Còn trong Nghị định số 17/2010/NĐ-CP ngày 04/3/2010 quy định về bán đấu giá
tài sản tại khoản 2 điều 1 thì các loại tài sản được đưa ra bán đấu giá cũng bao gồm cả
động sản và bất động sản như trong pháp luật thương mại, nhưng đa dạng hơn về loại
hình tài sản và chỉ là những tài sản hiện hữu, tồn tại có thực ngay tại thời điểm tổ chức
đấu giá, không bao gồm các loại tài sản hình thành trong tương lai.
Theo quy định tại khoản 2 điều 3 Luật Thương mại 2005 thì hàng hóa là đối tượng
đấu giá gồm: Tất cả các loại động sản, kể cả động sản hình thành trong tương lai; Những
vật gắn liền với đất đai. Mặc dù, hàng hóa được đưa ra đấu giá trong pháp luật thương
mại chỉ nhấn mạnh đến động sản, kể cả động sản hình thành trong tương lai; tuy nhiên,
với cách quy định trong cụm từ: “những vật gắn liền với đất đai” đã hàm ý cả hàng hóa là
bất động sản.
Lưu ý: hàng hóa này phải là hàng hóa được phép lưu thông. Thông thường, chỉ
những hàng hóa có đặc thù về giá trị và mục đích sử dụng mới được cân nhắc bán theo
phương thức đấu giá. Những hàng hóa được đấu giá thường khó xác định giá trị thực của
nó như các loại hàng hóa khác.
2.3 Thủ tục, trình tự đấu giá hàng hóa
2.3.1 Lập hợp đồng dịch vụ tổ chức đấu giá hàng hóa
Cách thức tiến hành đấu giá có vai trò quan trọng, quyết định đến sự thành công hay
thất bại của cuộc đấu giá. Chủ sở hữu có thể tự mình hoặc thông qua người bán hàng thực
hiện cuộc đấu giá. Ngoài ra chủ sở hữu cũng có thể lựa chọn phương thức bán hàng qua
trung gian được thực hiện bởi các nhà tổ chức đấu giá chuyên nghiệp. Cơ sở pháp lý của
phương thức đấu giá này được xác lập bởi hợp đồng dịch vụ tổ chức đấu giá giữa các
bên. Hợp đồng dịch vụ đấu giá ghi nhận và đảm bảo tính hiệu lực trên nhiều phương diện
như chủ thể, hình thức, nội dung xác lập quyền - nghĩa vụ và trách nhiệm của các bên
trong đấu giá theo sự thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật.

cố, thế chấp phải thoả thuận với người cầm cố, thế chấp xác định giá khởi điểm.
- Trường hợp trong hợp đồng cầm cố, thế chấp có thoả thuận về việc bán đấu giá mà
người cầm cố, thế chấp vắng mặt không có lý do chính đáng hoặc từ chối giao kết hợp
đồng dịch vụ tổ chức đấu giá hàng hoá thì giá khởi điểm do người nhận cầm cố, thế chấp
xác định.
2.4.3 Chuẩn bị đấu giá hàng hóa
Trường hợp bán đấu giá không qua trung gian thì việc chuẩn bị bán đấu giá hàng
hóa do người bán hàng hóa thực hiện hoặc trường hợp bán đấu giá hàng hóa thông qua
trung gia thì do người tổ chức đấu giá thực hiện sau khi hợp đồng dịch vụ tổ chức đấu giá
hàng hóa đã được ký kết và giá khởi điểm đã được các bên xác lập. Công tác chuẩn bị sẽ
được tiến hành theo trình tự sau:
Thứ nhất: Niêm yết, thông báo công khai việc bán đấu giá.
Trường hợp hàng hoá là đối tượng cầm cố, thế chấp, thì đồng thời với việc niêm yết
đấu giá hàng hoá, người tổ chức đấu giá phải thông báo cho những người có quyền lợi và
nghĩa vụ liên quan trong thời hạn chậm nhất là bảy ngày làm việc trước khi tiến hành bán
đấu giá hàng hóa đó theo quy định tại Điều 197 của Luật này.
Chậm nhất là bảy ngày làm việc trước khi tiến hành bán đấu giá hàng hoá, người tổ
chức đấu giá phải niêm yết việc bán đấu giá tại nơi tổ chức đấu giá, nơi trưng bày hàng
hoá và nơi đặt trụ sở của người tổ chức đấu giá.
Trường hợp người tổ chức đấu giá hàng hóa là người bán hàng thì thời hạn niêm
yết đấu giá hàng hóa do người bán hàng tự quyết định.
24


Đề tài: Đấu giá hàng hóa trong hoạt động thương mại- Những vấn đề lý luận và thực tiễn

Nội dung của thông báo và niêm yết đấu giá hàng hóa phải có đầy đủ các nội dung
sau đây:
- Thời gian, địa điểm đấu giá;
- Tên, địa chỉ của người tổ chức đấu giá;



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status