LUẬN VĂN:
Bảo đảm tiền vay trong hoạt
động kinh doanh của ngân hàng
thương mại Lời nói đầu
Tính cấp thiết và mục đích nghiên cứu của đề tài
Trong bất kỳ một nền kinh tế nào, ngành Ngân hàng luôn có một vị trí quan
trọng, và vai trò của nó càng vô cùng to lớn hơn trong một nền kinh tế thị trường
theo định hướng xã hội chủ nghĩa như ở nước ta hiện nay. Trong đó phải kể đến
hoạt động cho vay của ngân hàng. Bởi vì nước ta phải trải qua 2 cuộc kháng chiến,
sau khi giành được thắng lợi, đất nước được độc lập lúc đó ta mới có điều kiện xây
dựng kinh tế. Các doanh nghiệp phần lớn đều bước vào trường với kiến thức kinh
đề tài này người nghiên cứu muốn đề cập đến hoạt động bảo đảm tiền vay bằng tài
sản cầm cố, thế chấp tại Sở giao dịch I - Ngân hàng Công thương Việt Nam, thực
trạng và hiệu quả hoạt động này tại Sở đang diễn ra như thế nào, nghiên cứu và đề
xuất khắc phục, nhằm nâng cao hiệu quả công tác này tại Sở nói riêng và hoạt động
ngân hàng cả nước nói chung.
Chương I
Lý luận chung về bảo đảm tiền vay trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng
thương mại
I.1. Hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại.
1.a. Ngân hàng thương mại:
+ Định nghĩa:
Ngân hàng thương mại là một tổ chức kinh doanh mà hoạt động chủ yếu và
thường xuyên của nó là nhập tiền gửi của khách hàng (không kỳ hạn, có kỳ hạn,
phát hành séc), về trách nhiệm là phải hoàn trả số tiền đó và sử dụng số tiền đó để:
đầu tư, cho vay, chiết khấu và làm phương tiện thanh toán.
+ Chức năng của ngân hàng thương mại:
- Chức năng trung gian tín dụng: Là chức năng đặc trưng và cơ bản nhất của
ngân hàng thương mại và có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc thúc đẩy nền
kinh tế phát triển. Thực hiện chức năng này một mặt ngân hàng thương mại huy
động và tập trung các nguồn vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi của các chủ thể trong nền
kinh tế để hình thành nguồn vốn cho vay; mặt khác trên cơ sở vốn đã huy động
được, ngân hàng cho vay để đáp ứng nhu cầu vốn sản xuất kinh doanh tiêu dùng của
các chủ thể kinh tế, góp phần đảm bảo sự vận động liên tục của guồng máy kinh tế -
xã hội, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Ngân hàng thương mại vừa là người đi vay vừa
là người cho vay, hay nói cách khác, nghiệp vụ tín dụng của ngân hàng thương mại
ngân hàng thương mại đã tạo ra "bút tệ" thay thế cho tiền mặt. Chính nhờ phương
thức tạo tiền này mà ngân hàng chẳng những bảo đảm cho sự phát triển của mình
mà còn trở thành trung tâm tiền tệ của đời sống kinh tế hiện đại.
- Chức năng làm dịch vụ tài chính và các dịch vụ khác:
Trong quá trình thực hiện nghiệp vụ tín dụng và ngân quỹ ngân hàng có những
điều kiện thuận lợi về kho quỹ, thông tin, quan hệ rộng rãi với các doanh nghiệp.
Với những điều kiện đó ngân hàng có thể làm tư vấn về tài chính và đầu tư cho các
doanh nghiệp, làm đại lý phát hành cổ phiếu, trái khoán bảo đảm đạt hiệu quả cao
và tiết kiệm chi phí. Khi một doanh nghiệp muốn phát hành chứng khoán trên thị
trường sơ cấp, họ có thể nhờ ngân hàng cung cấp các dịch vụ như: lựa chọn loại
chứng khoán phát hành, tư vấn các vấn đề lãi suất chứng khoán, thời hạn chứng
khoán và các vấn đề kỹ thuật khác. Ngoài ra ngân hàng còn cung cấp dịch vụ lưu trữ và quản lý chứng khoán cho khách hàng, làm dịch vụ thu lãi chứng khoán,
chuyển lãi đó vào tài khoản cho khách hàng, hoặc có khi ngân hàng thương mại còn
thực hiện việc mua - bán các chứng khoán cho khách hàng, thu hồi vốn chứng
khoán đến hạn.
Ngoài ra, ngân hàng còn cung cấp cho khách hàng các dịch vụ khác như: dịch
vụ bảo quản an toàn vật có giá của khách hàng, dịch vụ cho thuê két ngân buổi tối,
dịch vụ tín thác hoặc uỷ thác ngân hàng …
- Chức năng tài trợ ngoại thương, mở rộng nghiệp vụ ngân hàng quốc tế.
Thực hiện chức năng này rất phức tạp, đòi hỏi những điều kiện hết sức ngặt
nghèo, nguyên tắc chặt chẽ, phương châm linh hoạt như:
* Năng lực tài chính: Có vốn đủ sức hoạt động và cạnh tranh.
* Trình độ quản lý kinh doanh và có uy tín thể hiện trên các mặt trang bị
những phương tiện thiết bị hiện đại, tiên tiến đủ khả năng để tiếp cận và hoà nhập
với thông lệ quốc tế.
* Kỹ thuật công nghệ ngân hàng đảm bảo các cho giao dịch nhanh chóng và an
toàn, đánh giá trên hệ số cơ giới, tự động hoá.
hàng nhanh để tiếp tục quá trình luân chuyển vốn tiếp theo, tạo thuận lợi cho sự
phát triển của doanh nghiệp …, từ đó đảm bảo quyền lợi của người mua và người
bán, đảm bảo an toàn và đẩy nhanh tốc độ luân chuyển vốn góp phần tạo nên "văn
minh tiền tệ" cho xã hội.
- Vai trò góp phần vào hoạt động điều tiết vĩ mô thong qua chức năng tạo tiền
của ngân hàng thương mại: được thể hiện trên 2 mặt:
Thứ nhất: Tham gia xây dựng chiến lược phát triển kinh tế xã hội và soạn thảo
chính sách tiền tệ.
Thứ hai: Chính sách tiền tệ được thiết kế và khởi động từ ngân hàng thương
mại lan ra đến mọi ngóc ngách của nền kinh tế thông qua hoạt động dây chuyền của
hệ thống ngân hàng trung gian và các tổ chức tài chính trong nước. Như vậy, nếu
không có sự chấp hành của hệ thống ngân hàng trung gian thì ý đồ và chính sách
tiền tệ của ngân hàng trung ương sẽ không thực hiện được.
Trong việc điều hành thực thi chính sách tiền tệ, ngân hàng trung ương sử
dụng các công cụ chính sách tiền tệ trong phạm vi toàn xã hội, mà trước hết là trong
hệ thống ngân hàng thương mại. Các công cụ này là những thao tác hoạt động hàng
ngày của ngân hàng trung ương. Mọi hoạt động của ngân hàng trung ương đều tác
động đến nền kinh tế vĩ mô trong khuôn khổ của chính sách tiền tệ đã vạch ra. Ngân hàng thương mại bằng việc tạo tiền gắn liền chặt chẽ với công cụ quản lý
vĩ mô của ngân hàng trung ương (tỉ lệ dự trữ tối thiểu bắt buộc) trong khi thực hiện
hoạt động kinh doanh của mình, đã góp phần vào hoạt động điều tiết vĩ mô của
ngân hàng trung ương thông qua chính sách tiền tệ.
b. Các hoạt động chủ yếu của ngân hàng thương mại (hay còn gọi là nghiệp
vụ): bao gồm 3 lĩnh vực nghiệp vụ: Nghiệp vụ nợ, nghiệp vụ có và nghiệp vụ môi
giới trung gian. Đó là các nghiệp vụ nằm trong bảng tổng kết tài sản, ngoài ra còn
có các dịch vụ khác không tổng kết trên bảng tài sản như bảo lãnh, cho thuê két sắt,
tư vấn …
3 nghiệp vụ trên có quan hệ chặt chẽ với nhau, hỗ trợ lẫn nhau để hình thành
tại ngân hàng tủng ương, hoặc đã đầu tư vào một thương vụ nào đó.
ở Việt Nam để thành lập một ngân hàng thương mại trước hết phải có đủ vốn
pháp định theo mức quy định của ngân hàng Nhà nước. Nguồn vốn pháp định của
mỗi ngân hàng do tính chất sở hữu của ngân hàng quyết định, nghĩa là nguồn vốn
này có thể do Nhà nước cấp hoặc có thể do huy động trong xã hội. Việt Nam ta quy
định như sau:
* Nếu là ngân hàng thương mại thuộc sở hữu Nhà nước, vốn pháp định do
ngân sách Nhà nước cấp 100% vốn ban đầu.
* Nếu là ngân hàng thương mại cổ phần, vốn pháp định (vốn điều lệ) do sự
đóng góp của các cổ đông dưới hình thức phát hành cổ phiếu.
* Nếu là ngân hàng thương mại liên doanh, vốn pháp định là vốn đóng góp cổ
phần của các ngân hàng tham gia liên doanh.
Ngoài vốn pháp định (vốn điều lệ), ngân hàng thương mại còn có các quỹ dự
trữ buộc phải trích lập trong quá trình tồn tại và hoạt động của ngân hàng: Quỹ phát
triển kỹ thuật, quỹ khấu hao tài sản cố định, quỹ bảo toàn vốn, quỹ phúc lợi … Toàn
bộ các nguồn vốn này được gọi vốn tự có của ngân hàng, nhưng nó lại vô cùng quan
trọng vì qua đó mọi người có thể thấy được thực lực quy mô của ngân hàng và vì nó
lại là cơ sở để thu hút các nguồn vốn khác, là vốn khởi đầu tạo uy tín của ngân hàng
đối với khách hàng.
Theo đà phát triển, vốn này sẽ được gia tăng về số lượng tuyệt đối, song nó
vẫn luôn luôn chiếm tỷ trọng nhỏ trong kết cấu nguồn vốn. Vốn tự có chỉ là điểm
xuất phát để tổ chức hoạt động ngân hàng. Ngày nay các nghiệp vụ kinh doanh ngân
hàng dựa trên cơ sở vốn vay mượn (nghiệp vụ kỹ thác, vay các ngân hàng và các tổ
chức tài chính khác, phát hành các giấy tờ có giá …) tỷ lệ giữa vốn vay mượn và vốn tự có có thể từ 1/10 đến 1/100. Vốn tự có là điều kiện pháp lý cơ bản, đồng thời
là yếu tố tài chính quan trọng nhất trong việc đảm bảo các khoản nợ đối với khách
hàng. Chính vì vậy quy mô vốn là yếu tố quyết định quy mô huy động vốn và quy
mô tài sản có. Vốn tự có càng lớn, sức chịu đựng của ngân hàng càng mạnh khi mà
đi vay chỉ chiếm một tỷ trọng có thể chấp nhận được trong kết cấu nguồn vốn,
nhưng nó rất cần thiết và có vị trí quan trọng để bảo đảm cho ngân hàng hoạt động
kinh doanh một cách bình thường.
- Nghiệp vụ có: Huy động được vốn rồi thì ngân hàng thương mại phải tìm
cách để hiệu quả hoá những tài sản này. Hầu như tất cả các khoản mục bên tài sản
nợ của ngân hàng đều là vốn vay, nghĩa là ngân hàng phải trả lãi suất cho nó đến
từng giờ. Do đó để khỏi bị thiệt hại, ngân hàng luôn luôn pải cho vay hoặc đầu tư
ngay số tài sản ấy vào những dịch vụ sinh lời, có thu được lãi ngân hàng sẽ trả lãi
cho vốn đã vay, thanh toán cho các chi phí trong hoạt động, phần còn lại sẽ là lợi
nhuận của ngân hàng.
Tài sản có cho biết những khoản nợ mà thị trường nợ ngân hàng hoặc là những
khoản mà ngân hàng cho thị trường vay. Ngân hàng là chủ nợ và các đối tượng vay
tiền của nó là con nợ. Ngân hàng có rất nhiều cách để đầu tư tiền của nó. Sự khác
nhau giữa các loại đầu tư này hình thành nên sự khác nhau trong tài sản có của ngân
hàng thương mại và thường được quy về các nhóm sau:
- Dự trữ tiền mặt bao gồm tiền mặt tại kho của ngân hàng và tiền mặt ký gửi
tại ngân hàng trung ương.
- Đầu tư vào chứng khoán (trái phiếu, cổ phiếu, hối phiếu)
- Cho vay
- Đầu tư vào các loại tài sản (như bất động sản, cơ sở hạ tầng trang thiết bị …)
+ Nghiệp vụ môi giới trung gian: Nền kinh tế càng phát triển, các dịch vụ ngân
hàng theo đó cũng phát triển theo để đáp ứng yêu cầu ngày càng đa dạng của công
chúng. Thực hiện nghiệp vụ trung gian mang tính dịch vụ sẽ đem lại cho các ngân
hàng những chứng khoản thu nhập khá quan trọng. Các dịch vụ ngân hàng sẽ giúp
ngân hàng phát triển toàn diện. Hiện nay, để cạnh tranh với nhau các ngân hàng
thương mại không ngừng tìm tòi, nghiên cứu, cung cấp tiện nghi cho khách hàng,
tạo thêm những hình thức dịch vụ mới, tạo sự phong phú đa dạng hoạt động kinh
doanh.Dịch vụ ngân hàng càng phát triển thể hiện xã hội càng văn minh, nền công
nghiệp càng phát triển.
+ Cho vay qua chữ ký (cho vay qua việc cam kết bằng chữ ký). Mỗi loại cho vay có đặc thù riêng, thủ tục pháp lý khác nhau, mức độ an toàn
khác nhau.
+ Cho vay tiền: Là nghiệp vụ tín dụng trong đó người cho vay cam kết giao
cho người đi vay một khoản tiền và người đi vay cam kết sẽ hoàn trả theo thời hạn
nhất định. Giá trị hoàn trả lớn hơn giá trị khoản vay, phần chênh lệch đó là lãi cho
vay. Lãi cho vay tỷ lệ với số lượng tiền và thời hạn vay. Cho vay tiền cũng được gọi
là loại cho vay ứng trước: thông qua sự thoả thuận giữa người đi vay và người cho
vay, dựa trên các phương án kinh doanh người đi vay trình cho người cho vay; bên
cạnh đó khoản vay còn được đảm bảo bằng tài sản của người đi vay. Loại cho vay
này chứa đựng rủi ro cao vì thiếu cơ sở đảm bảo bằng những hành vi thương mại đã
được thực hiện, nghĩa là khách hàng nhận tiền vay sau đó mới đưa tiền đó vào sử
dụng. Khách hàng trong trường hợp này có thể sử dụng tiền trái mục đích ghi trên
khế ước vay do đó tạo rủi ro cho ngân hàng (rủi ro đạo đức).
Loại cho vay này dựa trên 3 nguyên tắc cơ bản: - Tiền vay phải được hoàn trả đúng hạn cả vốn lẫn lãi: Là nguyên tắc quan
trọng hàng đầu. Và để thực hiện nguyên tắc này mỗi lần cho vay ngân hàng phải
định kỳ hạn nợ phù hợp. Khi đến kì hạn nợ người đi vay phải lập giấy trả nợ cho
ngân hàng, nếu kông ngân hàng sẽ tự động trích tài khoản tiền gửi của người đi vay
để thu hồi nợ. Nếu tài khoản tiền gửi không đủ số dư thì chuyển nợ quá hạn. Sau
một thời gian nếu khách hàng vẫn không trả nợ, ngân hàng sẽ phát mại tài sản đảm
bảo. Nguyên tắc này hạn chế rủi ro về thanh khoản.
- Vốn vay phải được sử dụng đúng mục đích: Không những là nguyên tắc mà
còn là phương châm hoạt động của ngân hàng. Hiệu quả của nó trước hết là đẩy
nhanh nhịp độ phát triển của nền kinh tế hàng hoá, tạo ra nhiều khối lượng sản
phẩm, dịch vụ; đồng thời tạo ra nhiều tích luỹ để thực hiện tái sản xuất mở rộng.
Chiết khấu thương phiếu đem lại lợi nhuận cao mà tương đối ít rủi ro so với
cho vay ứng trước.
Cho vay dựa trên việc chuyển nhượng trái quyền là kết quả của việc thanh toán
trước hạn một khoản trái quyền hay 1 chứng phiếu mà quyền sở hữu đã được
chuyển giao cho ngân hàng, đó chủ yếu là hình thức chiết khấu thương phiếu và
chuyển nhượng khoản cho vay nghề nghiệp.
+ Tín dụng qua chữ ký (cho vay qua cam kết bằng chữ ký). Ngân hàng không
ứng tiền ra mà chỉ cam kết sẽ trả một khoản nợ của khách hàng trong trường hợp
khách hàng không trả được. Chính vì lý do bảo lãnh cho khách hàng bằng uy tín của
mình mà người ta gọi là hành vi cam kết bảo lãnh của ngân hàng là tín dụng qua
chữ ký.
Bảo lãnh là đưa ra những cam kết của ngân hàng dưới hình thức cấp chứng thư
và hạch toán theo dõi ở ngoài bảng, chứ thực tế là không (hoặc chưa) phải sử dụng
ngay vốn để cho vay như các loại tín dụng thông thường. Có 2 loại: bảo lãnh ngân
hàng và tín dụng chấp nhận. Bảo lãnh ngân hàng là hình thức rất quan trọng trong
thực tiễn bởi vì nó là điều kiện rất hay phải có để một số người thụ trái được trả
chậm hoặc không phải ký quỹ tiền đặt cọc. Chẳng hạn như cơ quan hải quan yêu
cầu phải có sự bảo lãnh của ngân hàng để cho phép chậm trả, hoặc chính quyền các
cấp đòi hỏi phải có bảo lãnh ngân hàng để giao phó đơn hàng. Còn tín dụng chấp
nhận, ngân hàng chấp nhận một hối phiếu đòi tiền chính ngân hàng và ngay trước
khi hối phiếu đến hạn, khách hàng phải nộp vào ngân hàng số tiền cần thiết để thanh
toán. Như vậy ngân hàng không phải chi vốn ra về nguyên tắc. Việc chấp nhận này cho phép chủ nợ có được một chứng từ đảm bảo được thanh toán bởi khả năng
thanh toán của ngân hàng đã đứng ra chấp nhạn.
Ngoài 3 loại cho vay trên, ngân hàng thương mại còn có các loại cho vay khác
như cho vay kinh doanh bất động sản, cho vay cầm cố, hùn vốn kinh doanh, các
nghiệp vụ liên kết tín dụng …
I.2. Bảo đảm tiền vay của ngân hàng (ở Việt Nam)
+ Sau khi xử lý tài sản bảo đảm tiền vay nếu khách hàng vay hoặc bên bảo
lãnh vẫn chưa thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ, thì khách hàng vay hoặc bên bảo lãnh
có trách nhiệm tiếp tục thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ đã cam kết.
I.4. Quan niệm về hiệu quả bảo đảm tiền vay:
Ngân hàng thương mại là một doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ, mục tiêu hoạt
động thì nhiều và hiệu quả bảo đảm tiền vay là một trong những mục tiêu quan
trọng ngân hàng luôn hướng tới. Có thu hồi được nợ cho vay, có lãi; ngân hàng mới
tiếp tục có vốn để tái sản xuất, không ngừng nâng cao uy tín và chất lượng của mình
trên thương trường, tìm tòi ra những hình thức dịch vụ mới phục vụ khách hàng
được tốt hơn; từ đó thúc đẩy nền kinh tế phát triển chính là mục tiêu hoạt động ngay
từ khi ngân hàng thương mại mới thành lập. Nhưng dù cho ngân hàng có thẩm định
dự án vay vốn của khách hàng, đánh giá phương án sản xuất kinh doanh, phân tích
tài chính khách hàng tốt đến đâu đi chăng nữa vẫn không thể nói là có sự hoàn hảo,
ngoài ra còn kể đến những sự biến đổi thị hiếu, nhu cầu đột ngột của người tiêu
dùng, ảnh hưởng thời tiết, những biến động kinh tế trong và ngoài nước chưa thể
lường hết được. Bản thân khách hàng khi vay vốn ngân hàng họ không hề có ý định
trốn tránh trách nhiệm trả nợ vay của mình đối với ngân hàng nhưng họ bị lâm vào
những tình huống bất ngờ, mất khả năng trả nợ cho ngân hàng từ đó trốn tránh trách
nhiệm trả nợ. Hiệu quả bảo đảm tiền vay tốt biểu hiện ngân hàng cẩn thận, có trách
nhiệm cao trong hoạt động của mình, tất cả các khâu từ thẩm định, đánh giá, phân
tích tài chính cho đến ước lượng trước được những biến động trong tương lai (chỉ là
tương đối). Điều này cũng biểu hiện là ngân hàng hiểu khách hàng và công việc của
họ có trách nhiệm với khoản cho vay của mình, chịu khó thâm nhập tìm hiểu kỹ thị
trường. Thu hồi được nợ cho vay để tái cho vay, tránh được tình trạng thua lỗ, kể cả
nguy cơ bị đổ vỡ, tránh gây ảnh hưởng xấu tới nền kinh tế.
Và điều quan trọng nhất là hiệu quả đảm bảo tiền vay tốt thì ngân hàng mới có
tiền để trả nợ trả lãi cho những người gửi tiền, cho những tổ chức, đoàn thể, cho các
khoản vay từ ngân hàng trung ương và các tổ chức tín dụng khác. Từ đó mới có thể
Các phòng: 9 phòng nghiệp vụ, 1 phòng giao dịch, 1 tổ nghiệp vụ bảo hiểm
(phòng giao dịch và tổ nghiệp vụ bảo hiểm mới thành lập khoảng T4, T5 năm
2001). Tổng số cán bộ của Sở là 26 0 người.
+ Phòng cân đối tổng hợp: Tổ chức huy động mọi nguồn vốn nhàn rỗi của các
tổ chức kinh tế và dân cư bằng VNĐ hoặc ngoại tệ theo hướng dẫn của Tổng giám
đốc ngân hàng công thương Việt Nam, trực tiếp điều hành lao động, tài sản tại các
quỹ tiết kiệm của Sở, đảm bảo an toàn tuyệt đối tài sản, tiền bạc của cơ quan Nhà
nước tại các quỹ tiết kiệm theo đúng chế độ hiện hành của Tổng giám đốc Ngân
hàng công thương Việt Nam.
- Lập kế hoạch kinh doanh (hàng quý kết hợp với phòng kinh doanh, theo các
chỉ tiêu của ngân hàng công thương Việt Nam giao) - Tổng hợp phân tích báo cáo mọi tình hình hoạt động của Sở theo yêu cầu của
giám đốc sở, giám đốc Ngân hàng Nhà nước trên địa bàn, Tổng giám đốc Ngân
hàng công thương Việt Nam.
- Tổng hợp báo cáo các vấn đề liên quan đến thi đua khen thưởng tại Sở theo
đúng cơ chế hiện hành của Tổng giám đốc Ngân hàng công thương Việt Nam.
- Làm các việc khác do Giám đốc Sở giao.
+ Phòng kinh doanh:
- Thực hiện cho vay, thu nợ ngắn hạn, trung dài hạn bằng VNĐ hoặc ngoại tệ,
đối với các tổ chức kinh tế, cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế theo đúng cơ chế
tín dụng của ngân hàng Nhà nước và hướng dẫn của Tổng giám đốc ngân hàng công
thương Việt Nam.
- Thực hiện bảo lãnh cho các doanh nghiệp để tham gia dự thầu, thực hiện hợp
đồng thanh toán mua hàng trả chậm theo đúng hướng dẫn của ngân hàng công
thương Việt Nam.
- Chiết khấu thương phiếu, kỳ phiếu, trái phiếu và các chứng từ có giá theo
quy định của Thống đốc ngân hàng Nhà nước và Tổng giám đốc ngân hàng công
thương Việt Nam.
- Một số công việc khác.
+ Phòng kinh doanh đối ngoại:
- Xác định giá mua bán và thực hiện mua bán ngoại tệ với các tổ chức kinh tế,
tổ chức tín dụng, cá nhân theo quy định của Nhà nước và hướng dẫn của Tổng giám
đốc ngân hàng công thương Việt Nam.
- Hạch toán kịp thời, chính xác các nghiệp vụ thanh toán mua bán chuyển đổi
các loại ngoại tệ phát sinh tại Sở bằng ngoại tệ.
- Tiếp nhận và xử lý hạch toán kế toán theo đúng quy định các hồ sơ vay vốn
bằng ngoại tệ của khách hàng, phối hợp với phòng kinh doanh để
thu lãi kịp thời.
- Thực hiện nghiệp vụ thanh toán quốc tế và làm các dịch vụ ngân hàng đối
ngoại theo thông lệ quốc tế và hướng dẫn của Tổng giám đốc ngân hàng công
thương Việt Nam.
- Lập các báo biểu kế toán, báo cáo nghiệp vụ và cung cấp số liệu liên quan
theo yêu cầu của giám đốc Sở và Tổng giám đốc ngân hàng công thương Việt Nam.
+ Phòng tổ chức cán bộ, lao động và tiền lương: - Nghiên cứu đề xuất với giám đốc sở phương án sắp xếp bộ máy tổ chức của
Sở, đảm bảo đúng quy chế kinh doanh có hiệu quả.
- Tuyển dụng lao động, điều động, bố trí cán bộ nhân viên vào các vị trí công
tác phù hợp, phù hợp với năng lực, phẩm chất cán bộ và yêu cầu nhiệm vụ kinh
doanh.
- Lập quy hoạch cán bộ lãnh đạo tại Sở, phối hợp với các phòng đào tạo bồi
dưỡng cán bộ trong quy hoạch.
- Phối hợp với các phòng liên quan tham mưu cho giám đốc về kế hoạch và
thực hiện quỹ tiền lương giải quyết kịp thời về tiền lương, quyền lợi (3 năm/lần),
bảo hiểm xã hội và các chính sách khác cho cán bộ theo đúng quy định của Nhà
nước và của ngành.
- Lưu trữ và quản lý an toàn hồ sơ cán bộ thuộc Sở quản lý.
thực hiện bảo trì, bảo dưỡng hệ thống máy tính, thiết bị tin học để phục vụ cho công
tác quản lý không bị ách tắc.
+ Phòng hành chính quản trị:
- Thực hiện mua sắm toàn bộ trang thiết bị, phương tiện làm việc phục vụ hoạt
động kinh doanh, theo dõi quản lý, bảo dưỡng sửa chữa tài sản, công cụ lao động.
- Phối hợp với phòng kế toán tài chính lập kế hoạch mua sắm, sửa chữa tài sản
và công cụ lao động hàng quý, hàng năm theo đúng quy định của Nhà nước và ngân
hàng công thương Việt Nam.
- Quản lý và điều hành xe ô tô, nội quy sử dụng điện và điện thoại của Sở.
- Tổ chức công tác văn thư, lưu trữ theo đúng quy định của Nhà nước và ngân
hàng công thương Việt Nam.
- Tổ chức công tác bảo vệ an toàn cơ quan, xây dựng nội quy bảo vệ cơ quan.
Một số chỉ tiêu hoạt động kinh doanh của Sở
1999 2000 2001
I. Tổng vốn huy động 7.779.000 9.262.841 16.587.595
II. Tổng dư nợ cho vay 1.077.432 1.246.561 1.497.004
III. Nợ quá hạn 6,8% 4,8% 3,6%
Tổng thu 459.656 405.197 572.966
Tổng chi 339.446 280.512 458.256
Lãi 120.210 124.685 114.708
<20% so với
khấu hao
<18% so với
khấu hao
<9,2% so với
khấu hao
Hiện nay dư nợ tại Sở là 1500 tỷ, trong đó chủ yếu là trung dài hạn (chiếm 65 -
liên doanh với nước ngoài, doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài, doanh nghiệp tư
nhân, hợp tác xã) khi vay vốn nhất thiết phải thực hiện một trong các hình thức đảm
bảo nghĩa vụ trả tiền vay như sau:
+ Thế chấp
+ Cầm cố
+ Bảo lãnh của bên thứ 3.
Như vậy hoạt động cầm cố tại Sở thực chất là công việc giữa Sở với hệ thống
các doanh nghiệp ngoài quốc doanh. Số lượng các doanh nghiệp ngoài quốc doanh
vay của Sở có bảo đảm bằng tài sản cầm cố là rất ít, Sở rất ngại trong loại hình cho
vay này, vì phần lớn là rủi ro cao. Hiện nay Sở đang phát triển mạnh hoạt động cho
vay có tài sản cầm cố bảo đảm là sổ tiết kiệm, đặc biệt là càng thích hợp hơn với
những người kinh doanh, hộ kinh doanh, xí nghiệp kinh doanh vừa và nhỏ. Thủ tục
giao dịch trong loại hình cho vay này rất thuận tiện, nhanh chóng về cả 2 phía: Sở
và người vay. Ngân hàng không mất nhiều thời gian thẩm định dự án, xem xét kỹ
càng phương án kinh doanh của khách hàng vì sổ tiết kiệm có tính bảo đảm cao, còn
người vay có thể nhanh chóng có được một khoản tiền phục vụ kịp thời cho mục
đích của mình. Nhìn chung là những khoản tiền người vay muốn vay có bảo đảm
bằng sổ tiết kiệm là rất ít so với giá trị của Sở, Sở hoạt động linh hoạt hơn với loại
hình này.
Ví dụ một cá nhân muốn vay một khoản tiền, Sở sẽ phải lập bộ hồ sơ gồm 3
giấy sau: Biên bản hợp đồng tín dụng, giấy nhận nợ, giấy đề nghị xác nhận và
phong toả sổ tiết kiệm. Trong hợp đồng tín dụng khách hàng sẽ phải trình bày
chứng minh thư, điện thoại của mình, số tiền mình muốn vay, trình bày mục đích sử
dụng tiền của mình, thời hạn vay: thời hạn trả gốc và lãi; trị giá của sổ tiết kiệm.
Trên cơ sở hợp đồng tín dụng, ngân hàng sẽ lập giấy nhận nợ (chủ yếu là xác nhận
lại các thông tin trong hợp đồng tín dụng nhưng ngắn gọn hơn, ngoài ra người vay
còn phải khai báo thêm có dư nợ tại Sở hay không. Quan trọng trong giấy nhận nợ
là phải có đủ chữ ký của bên nhận nợ, của cán bộ tín dụng, của trưởng phòng kinh
doanh và cả chữ ký của giám đốc Sở giao dịch. Cuối cùng ngân hàng sẽ gửi giấy đề